KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU THUÓC
TẠI SỞ Y TẾ TỈNH NGHỆ AN TỪ NÃM 2009 ĐẾN 2012
Hoàng Thị Khánh, Lẽ Thu Thủy
PGS. TS. Nguyễn Thị Song Hà
Bộ môn Quản lỷ và Kinh tế dược, Trường Đại học Dược Hà Nội
Từ khóa: Đẩu thầu, mua sắm thuổc, Nghệ An
Tóm tắt
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được thực hiện để phân tích hoạt động
đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Nghệ An khi ảp dụng thông tư 10/2007/TTLT-BYTBTC từ 2009 đến 2012. Ket quả nghiên cứu đã mô tả kết quả trúng thầu của Sở Y
tể Nghệ An từ 2009 đến 2012. Sở Y tế phân chia thành 6 gói thầu theo nguồn gốc
xuất xứ; tổng sổ lượng thuốc trúng thầu từ 1274 thuốc (năm 2009) tăng lên 2124
thuốc (năm 2012); tỉ lệ thuốc biệt dược và thuốc generic trúng thầu tương ứng là
91,4% và 77,0%; tỉ lệ của thuốc sản xuất trong nước và thuốc nước ngoài trúng
thầu là 49,9% và 50,1%. Tỉ lệ cao (trên 40,0%) nguyên liệu thuốc sản xuất trong
nước là từ Trung Quốc hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ; thuốc nước ngoài cỏ
nguồn gốc từ Ấn Độ trúng thầu chiếm tỉ lệ là từ 13,9% đến 20,0%.
Đặt vấn đề
Trong giai đoạn 2009-2012, hoạt động mua sắm thuốc được thực hiện
bằng hình thức đấu thầu theo thông tư 10/2007/TTLT-BYT-BTC (gọi tắt là thông
tư 10) [1-3], Điều này đã đem lại nhiều ưu điểm cho quá trình cung ứng, quản lý,
sử dụng thuốc an toàn, họp lý, hiệu quả. Tuy nhiên, căn cứ lựa chọn phương thức
đấu thầu và xây dựng giá thuốc hợp lý chưa có đầy đủ dẫn đến tình trạng việc
triển khai thông tư này tại các địa phương là khác nhau, tồn tại nhiều tình trạng
bất cập. 63,5% tỉnh, thành phố áp dụng hinh thức đấu thầu tập trung, 15,9% áp
dụng hình thức đấu thầu đại diện, 20,6% áp dụng hình thức đấu thầu đơn lẻ [3].
Hoạt động mua sắm thuốc của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn này cũng được thực
hiện theo thông tư 10 nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này. Vì
vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Khảo sát hoạt động đẩu thầu thuốc tại Sở Y tể
tỉnh Nghệ An từ năm 2009 đến năm 2012" với mục tiêu mô tả kết quả trúng thầu
thuốc tại Nghệ An từ năm 2009 đến 2012. Dựa trên nghiên cứu này, các chuyên
gia y tế và những nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những giải pháp phù
Gói thầu số 2
3
Gói thâu sô 3
4
Gói thầu số 4
5
Gói thầu số 5
6
Gói thầu số 6*
Xuât xứ
Các mặt hàng thuổc sản xuất tại Châu Âu, Hoa Kỳ,
Nhật Bản
Các mặt hàng thuốc sản xuất tại Châu Á, Châu Mỹ (trừ
Hoa Kỳ, Nhật)
Các mặt hàng thuôc sản xuât tại Việt Nam
Thuốc của các công ty liên doanh, nhượng quyền hoặc
có vốn 100,0% nước ngoài sản xuất tại Việt Nam
Các mặt hàng thuôc đông dược sản xuât trong nước và
nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam
Các mặt hàng vacxin và sinh phâm sản xuât trong nước
và nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam
Thuốc trúng thầu
SL
Tỷ iệ\ \(TL)' (%)' so
với thuốc mòi
thầu
TL(%)sovói
ì
X
thuôcdưthâu
1
2
3
4
5
6
Đợt
1/2009
Đợt
2/2009
2010
2011
2012
Tông
1274
79,7
81,8
71,8
78,9
88,7
'
92,9
93,6
94,5
94,1
92,9
Tỷ lệ thuôc trúng thâu so với thuôc mời thâu đạt từ 71,8 % đên 82,7% và
so với số lượng thuốc dự thầu đạt từ 88,7% đến 94,5%. Tỷ lệ thuốc trúng thầu so
với thuốc mời thầu và dự thầu trung bình đạt 78,9% và 92,9%.
Nguyên nhân thuốc không trúng thầu.
Nguyên nhân thuốc không trúng thầu được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3. Số lượng, tỷ lệ và lý do thuốc không trúng thầu
Thuốc không trúng thầu
SL
s tt
1
Năm
Đợt
SL
%
Chào thầu không
đúng yêu cầu kỹ
thuật
6,2
SL
09
%
0,7
%
1/2009
2
Đợt
2/2009
1621
281
17,3
1420
2124
258
600
1715
18,2
250
190
505
1257
70
52
69
372
4,1
3,6
3,2
4,6
22
16
26
1,3
5
6
Năm
Đợt
1/2009
Đợt
2/2009
2010
2011
2012
Tông
SL
mời
thầu
SL
trúng
thầu
TL
1119
893
79,8
94,8
1274
1040
81,6
225
97,0
1621
1340
82,6
135
169
296
972
86,5
87,1
90,8
91,4
1688
156
194
326
1063
thầu
TL
thầu
78,9
Tông sô thuôc mời thâu từ năm 2009 đên năm 2011 đêu dưới 2000 thuôc,
riêng năm 2012 mời thầu lên tới 2124 thuốc. Tỷ lệ thuốc biệt dược mời thầu của
từng năm khác nhau, tỷ lệ của năm 2012 cao nhất chiếm 15,4% (326/2124) so
với danh mục thuốc mời thầu. Tỉ lệ thuốc biệt dược tăng cao hơn so với thuốc
generic. số thuốc biệt dược năm 2012 là 326 thuốc, tăng so với các năm trước,
tăng 68,0 % so với năm 2011. Trong khi thuốc generic mời thầu năm 2012 là
1228, tăng hơn năm 2011 là 23,7%.
Tỷ lệ thuốc trong nước và thuốc nước ngoài trúng thầu.
Bảng 5. Tỷ lệ thuốc trong nước và thuốc nước ngoài trúng thầu.
stt
1
2
3
577
55,5
463
44,5
1340
651
698
613
665
3204
48,6
51,9
52,7
43,6
49,9
689
648
549
859
3208
51,4
48,1
một điều rất khó. Do vậy trong khuôn khổ đề tài xin được đánh giá về nguồn gốc
nguyên liệu thuốc trúng thầu sản xuất trong nước còn với thuốc nhập khẩu đề tài
xin đánh giá về nước sản xuất của thuốc.
Nguồn gốc nguyên liệu đổi với thuốc trúng thầu sản xuất trong nước
Căn cứ vào hồ sơ dự thầu của các nhà thầu và tổng hợp của phần mềm
chấm thầu của Sở Y tế Nghệ An đề tài thu được kết quả như hình sau:
%
□ Nguyên liệu C hâu Âu
□ Nguyên liệu C h âu A
■ N guyên liệu T ru n g Quốc
□ Không có tài liệu chúng minh nguồn gồc
nguyên liệu
Năm
Hình 1. Nguồn gốc nguyên liệu thuốc sản xuất trong nước trúng thầu
Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước trúng thầu năm 2010 cỏ nguồn gốc
nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất là 40,7%. Năm 2012,
tỷ lệ thuốc không cỏ tài liệu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu chiếm tỷ lệ cao
nhất là 44,1%. Thuốc cỏ nguồn gốc nguyên liệu nhập khẩu từ các nước Châu Âu
có tỷ lệ thấp nhất so với nguồn gốc nguyên liệu khác trong cả hai năm, năm 2010
chiếm 21,5% còn năm 2012 chiếm chỉ 17,3%. Nguyên liệu có nguồn gốc từ các
nước Châu Á đa số được nhập khẩu từ Ấn Độ, Hàn Quốc. Điều này phản ánh
một thực tế về chất lượng thuốc sản xuất trong nước còn thấp.
Xuất xứ của thuốc nước ngoài trúng thầu
Năm
4S.1
S T r u n g Q uốc
40--
Đ ọt 1/2009
0%
20%
60 %
80%
100%
□ C ác nư ỏ c còn ỉại
Hình 2. Xuất xứ của các thuốc nước ngoài trúng thầu
Trong số 5 nước Châu Âu (Anh, Mỹ, Đức, Pháp, úc) được khảo sát, tỷ lệ
thuốc trúng thầu chiếm tỷ lệ trong khoảng 27,9% đến 34,5% so với tổng thuốc
nước ngoài trúng thầu. Thuốc sản xuất tại các nước Ấn Độ có tỷ lệ cao nhất so
với các nước từ 13,9% đến 20,0%, tiếp đến là thuốc sản xuất tại Hàn Quốc từ
7,9% đến 12,2%. Thuốc sản xuất tại Trung Quốc cũng trúng thầu ở Nghệ An
nhưng với một tỷ lệ không cao, từ 2,1% đến 3,1%.
Với quy định đấu thầu hiện nay thang điểm đấu thầu không phân biệt
thuốc đạt chất lượng hay không. Bất kỳ công ty nào có thuốc được cấp phép vào
Việt Nam đều đạt trên 70 điểm và có quyền tham gia đấu thầu. Nhưng khi xét về
Từ năm 2009 đên 2012, tỷ lệ thuôc biệt dược trúng thâu luôn cao hơn tỷ lệ
thuốc generic trúng thầu. Do thuốc biệt dược về cơ bản có nhiều nguồn thông tin
chính xác để xây dựng tiêu chí mời thầu, sát thực với nhu cầu sử dụng, tính cạnh
tranh ít hơn nên khả năng trúng thầu cao. Trong khi đó thuốc generic vừa có tính
cạnh tranh cao, nhiều hoạt chất được mời thầu với giá trần thẩm định thấp, không
mang tính phổ biến nên khả năng trúng thầu thấp.
Kết iuận
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy được một số tỉ lệ về các loại thuốc trúng
thầu và lý do khiến thuốc trúng hoặc trượt thầu.
Từ những kết quả trên chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến đề xuất: Trong
quá trình xét thầu đối với thuốc sản xuất trong nước, những thuốc không có tài
liệu chứng minh về nguồn gốc nguyên liệu không nên xét thầu và không phân
điểm kỹ thuật. Đối với thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu các nước
Châu Á chỉ nên xét thầu với những thuốc có giấy phép ủy quyền bán hàng.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế - Bộ Tài chính (2007), Thông íư liên tịch số 10/TTLT-BYT-BTC ngày
ỉ 0/8/2007 về việc hướng dẫn đấu thầu mua sắm thuốc trong các cơ sở y tế công
lập.
2. Đào Phương Linh (2010), Nghiên cứu hoạt động đấu thầu thuốc tại một số
bệnh viện trung ương năm 2009-2010, Luận văn thạc s ĩ dược học, Trưòng đại
học Dược Hà Nội.
3. Phạm Lương Sơn (2012), Nghiên cứu thực trạng đấu thầu mua thuốc bảo
hiểm y tế cho các cơ sở khám, chữa bệnh công lập ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ
dược học, Trường đại học Dược Hà Nội.