ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BẠCH THỊ LAN ANH
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở HÀ TÂY TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Đình Khang
HÀ NỘI - 2004
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng ta nhấn mạnh, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là vấn đề quan
trọng hàng đầu, bởi vì nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% lao động và gần
80% dân số.
Một trong những nội dung quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn là phát triển các làng nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông
thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế
hướng ngoại với sản phẩm mũi nhọn của chúng ta là các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ, chế biến nông sản và cũng là thực hiện mục tiêu ly nông bất ly
hương ở nông thôn.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống lịch sử hơn 4000 năm, Người Việt cổ
đã lấy nghề nông làm cơ sở cho sự tồn tại của mình. Nhưng với điều kiện tự
nhiên phong phú đa dạng đã sản sinh biết bao làng nghề thủ công bên cạnh
xóm làng nông nghiệp.
- Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH ở vùng
ven Thủ đô Hà Nội của tiến sỹ Mai Thế Hởn.
- Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam của Thạc
sỹ Vũ Thị Thu.
- Về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở
vùng đồng bằng Sông Hồng (Đề tài cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh; chủ nhiệm đề tài PGS. TS. Đặng Lễ Nghi).
Các công trình nghiên cứu về làng nghề trên đă ra chủ trương phát triển
làng nghề nói chung mà chưa có giải pháp cụ thể ở từng địa phương.
3
Đề tài của tôi tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển làng nghề
truyền thống trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và đề
xuất giải pháp phát triển cụ thể trong điều kiện hiện nay ở một số làng
nghề truyền thống ở Hà Tây.
3. Mục đích và nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Mục đích làm rõ vai trò, thực trạng, tiềm năng, xu hướng phát triển
làng nghề truyền thống để đề xuất giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát
triển làng nghề truyền thống ở Hà Tây trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá lý luận cơ bản về làng nghề truyền thống.
- Tham khảo kinh nghiệm một số nước trên thế giới để rút ra bài học
kinh nghiệm.
- Từ thực trạng làng nghề truyền thống ở Hà Tây đề xuất giải pháp cụ
thể nhằm phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 1
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÒ
CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
1.1. Vai trò của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là một hiện tượng kinh tế văn hoá đặc sắc ở
Việt Nam. Để tìm hiểu về nó trước tiên ta tìm hiểu “Truyền thống”.
Truyền thống là thuặt ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của
một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ
này qua thệ hệ khác. Truyền thống biểu hiện tính kế thừa là chủ yếu tuy nhiên
cũng có sự phát triển theo lịch sử.
Truyền thống được biểu hiện ở hình thức : truyền thống học tập, lễ hội
truyền thống, truyền thống dòng họ, nghề truyền thống.
Nghề truyền thống là nghề được lưu truyền từ đời này qua đời khác
(truyền nghề), lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc kết kinh
nghiệm.
Nghề trong chữ nghề truyền thống được hiểu là các nghề phi nông
nghiệp. Nghề truyền thống thường được lưu giữ trong một gia đình, một dòng
họ, một làng, một vùng cho nên mới nói đất có nghệ.
Theo tiến sĩ Dương Bá Phượng, nghề thủ công truyền thống là những
nghề phi nông nghiệp ra đời trước thời Pháp thuộc và còn tồn tại đến nay. Các
ngành nghề thủ công truyền thống ở nước ta được phân chia thành năm nhóm
sau (cách chia này chỉ là tương đối).
6
- Làng dịch vụ (làng Triều Khúc).
- Làng nông - công thương kết hợp (phổ biến nhất).
Nếu coi nông nghiệp là chính còn nghề để chỉ tất cả các nghề phụ ở
nông thôn để phục vụ sinh hoạt tận dụng thời gian thì tất cả nông thôn Việt
Nam đều là làng nghề. Hiện nay, người ta quan niệm làng nghề dùng để chỉ
những làng mà trong đó có một nghề phát triển mạnh có ảnh hưởng quan trọng
đến đời sống kinh tế - xã hội của làng, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho một
số lượng lao động nhất định và kỹ thuật nghề đó đạt đến trình độ tương đối.
Khi nói tới làng nghề người ta còn nói tới xã nghề, phố nghề. Phố nghề
là kết quả của quá trình đô thị hoá và mở rộng thị trường mới những người thợ
thủ công từ LNTT tụ họp lại. Còn xă nghề để chỉ sự lan toả của nghề vượt
khỏi phạm vi từ làng này sang làng khác.
Bảng 1. Tình hình phát triển làng nghề ở đồng bằng Sông Hồng từ 1997 2000
Năm
1997
1998
1999
2000
Số làng nghề hiện có
526
565
trên các tiêu chí sau:
- Tỷ lệ hộ, lao động làm nghề từ 40% trở lên.
8
- Giá trị sản xuất từ nghề đó chiếm khoảng 50% tổng giá trị sản xuất
của địa phương.
- Thu nhập từ nghề đó chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của các hộ.
- Đó có thể là nghề tiểu thủ công nghiệp hoặc dịch vụ.
Làng nghề có thể là làng nghề mới (đặc biệt phát triển mạnh trong thờ i
kỳ đổi mới) ví dụ như làng may Cổ Nhuế - Hà Nội. Làng nghề có thể là
LNTT. Có những làng tồn tại hàng trăm năm.
Từ tất cả các quan niệm trên có thể rút ra LNTT là những làng mà trong
đó có những nghề đặc trưng cho địa phương được lưu giữ trong một thời gian
dài và tỷ lệ số hộ, lao động sống bằng nghề đó từ 40% trở lên và tạo ra 50%
giá trị sản xuất của địa phương và thu nhập của các hộ sản xuất.
Miền bắc là nơi tập trung nhiều LNTT nhất chiếm 79% cả nước, trong
đó tập trung nhiều nhất tại Hà Tây, Thanh Hóa, Bắc Ninh [54].
Hiện nay, cả nước có hơn 1450 làng nghề trong đó có sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế: doanh nghiệp nhà nước chiếm 14,1%, hợp tác xã
chiếm khoảng 5,8%, doanh nghiệp tư nhân 80,1% [66].
1.1.1.3. Một số đặc điểm cơ bản của sản xuất kinh doanh ở LNTT
* Điều kiện sản xuất kinh doanh
Nghề thủ công truyền thống từ nông nghiệp mà ra. Gắn liền sự phân
công lao động ở nông thôn. Nên có thể nói NTCTT gắn bó chặt chẽ với nông
thôn. Đặc điểm này phản ánh xuyên suốt quá trình phát triển LNTT. Đầu tiên
thợ thủ công là những người nông dân tranh thủ lúc nông nhàn. Nên địa điểm
sản xuất của NTCTT là tại gia đình họ. Gia đình vừa là nơi ở vừa là nơi sản
xuất. Họ tự quản lý công việc, thời gian lao động mọi lúc có thể, không phải
Về các yếu tố đầu vào thì chủ yếu là nguyên vật liệu trong nước, đây
chính là lợi thế của LNTT, nguồn nguyên liệu do địa phương hoặc các tỉnh lân
10
cận cung cấp. Nguồn nguyên liệu phụ thuộc thời vụ do tư thương cung cấp
nên giá cả lên xuống theo mùa.
Một điều rất đặc biệt một số NTCTT sử dụng nguyên liệu tận dụng như
xơ dừa nhưng mang lại hiệu quả rất lớn.
Về các yếu tố đầu ra - tiêu thụ sản phẩm. Thị trường đầu tiên của LNTT
chính là chợ làng nhằm phục vụ địa phương và các vùng lân cận. Một số sản
phẩm nổi tiếng của Việt Nam như đồ gốm, lụa tơ tằm thì đã được bán ra nước
ngoài cách đây vài trăm năm.
Phương thức thanh toán trên thị trường chủ yếu là trao tay trực tiếp giữa
người sản xuất và người tiêu dùng.
* Lao động
Như trên đã nói, hình thức sản xuất của LNTT chủ yếu là hộ gia đình
nên nguồn lao động đầu tiên chính là các thành viên gia đình. Tuỳ theo công
đoạn mà có sự tham gia của mọi độ tuổi, nhưng bao giờ cũng có một người là
trụ cột chính về kỹ thuật. Vì là thành viên gia đình nên dạy nghề duới hình
thức kèm cặp trực tiếp. Để trở thành người thợ thủ công bình thường không
khó nhưng để trở thành thợ giỏi phải có thợ cả (nghệ nhân truyền nghề) và phụ
thuộc năng khiếu người học việc. Trong điều kiện hiện nay người thợ cả - thợ
giỏi của nghề đó, là những người tích luỹ được nhiều kinh nghiệm đươc coi là
chất xám trong các làng nghề, là bộ phận quan trọng trong việc truyền nghề
cho thế hệ trẻ.
Một nhược điểm của các LNTT là lực lượng lao động không có lý
thuyết về nghề nghiệp mà chỉ có kinh nghiệm nên khó chủ động, linh hoạt trên
thương mại.
1.1.2.2. Vai trò của làng nghề truyền thống trong nền kinh tế
* Tận dụng nhân lực tăng thu nhập
12
Tạo việc làm là vấn đề cấp thiết hiện nay. LNTT được phát triển đóng
vai trò quan trọng thu hút việc làm, tận dụng lao động tránh tình trạng phát
triển chợ lao động tự phát lúc trái vụ, di dân tự do. Hiện nay, các LNTT ở Việt
Nam thu hút khoảng 30% lao động nông thôn, khoảng 11 triệu người và hơn
1,3 triệu hộ sản xuất. NTCTT phát triển kéo theo các ngành dịch vụ, càng thu
hút lao động không chỉ ở địa phương mà còn ở nơi khác. Làng gốm Bát Tràng
hàng ngày thu nhận khoảng 4.000 người đến làm thuê [79].
Thu nhập của lao động trong các LNTT theo điều tra cao gấp khoảng
1,8-4,5 lần hộ thuần nông. Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 70% tổng thu
nhập. Đặc biệt với thợ kỹ thuật cao (thợ mỹ nghệ) thì tiền công khoảng trên
50.000đồng/ngày [20].
Nhờ có việc làm, thu nhập ổn định và cao nên mức sinh hoạt của người
dân được nâng cao, đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn. Ở làng Bát
Tràng 100% hộ gia đình là mái ngói, mái bằng, trong đó có hơn 50% hộ nhà
hai tầng. Hộ sản xuát thủ công năng động trở thành biểu tượng sự giàu có ở
nông thôn hiện nay. Ở các LNTT không có hộ đói, hộ nghèo chiếm tỉ lệ rất
nhỏ, tỉ lệ hộ giàu khoảng 30 - 40%. NTCTT có vai trò quan trọng trong việc
xoá đói giảm nghèo [62].
Thu nhập nâng cao, tất yếu ở các LNTT có sự gia tăng giá trị sản phẩm,
tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình ở khu vực làng nghề luôn đạt hơn 9%
năm. Năm 1998, giá trị sản xuất làng nghề đạt 210 tỷ đồng, chiếm 75% tổng
giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh. Hợp tác xã
Hồng Mai (làng Đồng Kỵ) mới thành lập năm 1994 mà đạt doanh thu trên một
1999
2000
2001
Mây tre đan
36,8
53,8
78,6
93,9
Mỹ nghệ
31,1
51,1
36,2
34
Thêu ren
35,3
62%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm 80% năm 1994, xuống còn 70%
năm 2001, lao động phi nông nghiệp tăng từ 20% lên 30% năm 2001 [3].
LNTT phá thế thuần nông nghiệp, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang
các ngành dịch vụ, công nghiệp nông thôn. Và tác động kép của nó là các hộ
làm nông nghiệp ở nông thôn có điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, hình
thành kinh tế trang trại do ruộng đất được tích tụ vào một số hộ, ở các LNTT
thực tế xuất hiện mô hình tổng hợp NTCTT - nghề nông - dịch vụ - chăn
nuôi. Sự phân công lao động mới cùng với sự mở mang cơ sở hạ tầng đã hình
thành sự đô thị hoá nông thôn,cụm công thương nghiệp, phát triển kinh tế
hàng hoá, mở ra hướng du lịch làng nghề. Làng Bát Tràng đã hình thành cơ
cấu kinh tế thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ - du lịch.
Như vậy, phát triển LNTT đã góp phần hình thành cơ cấu kinh tế, phân
công lao động theo hướng CNH, HĐH.
1.1.3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn với phát triển
làng nghề truyền thống
1.1.3.1. Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với làng nghề truyền
thống
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự phân công lao
động lần thứ hai, NTCTT tách ra khỏi nông nghiệp. NTCTT phát triển dẫn tới
15
sự xuất hiện công trường thủ công. Các-Mác đã chỉ rõ “Thoạt đầu công trường
thủ công đóng xe ngựa xuất hiện như là một sự kết hợp nhiều nghề thủ công
độc lập… nhưng công trường thủ công cũng có thể phát sinh một cách hoàn
toàn ngược lại. Nhiều người thợ thủ công cùng làm một việc như nhau hay
một loạt công việc giống nhau được một nhà tư bản tập hợp lại cùng một lúc
trong cùng một xưởng…” [40, tr.428].
Như vậy, NTCTT là sự mở đầu hình thành công nghiệp nông thôn.
nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống
nông dân và dân cư ở nông thôn...” [18, tr.39].
Nghị quyết Đại hội Đảng IX còn đặt ra vấn đề phát huy nội lực đất nước
trong quá trình xây dựng đất nước. LNTT chính là nguồn lực còn bỏ ngỏ trong
nước. Do có tính độc đáo, nên sản phẩm của NTCTT được xếp vào nhóm
hàng có năng lực cạnh tranh, là lợi thế của một nước nông nghiệp.
Số liệu sau đây đã chứng minh lợi thế hơn hẳn của NTCTT.
Bảng 3: so sánh giá trị thực thu của một số mặt hàng xuất khẩu
Mặt hàng
Nguyên phụ liệu nhập khẩu
Giá trị thực thu
Giày dép, dệt may
Gần 80%
20%
Điện tử, máy móc
Hơn 90%
10%
Thủ công mỹ nghệ
Khoảng 3-5%
sống văn minh công nghiệp đã làm thay đổi một số thói quen trong sinh hoạt
của người dân, vì thế một số nghề thủ công truyền thống đã bị mất đi (nghề
sơn mài), còn một số nghề được duy trì phát triển. Nhật Bản đã chú trọng phát
triển loại hình xí nghiệp công nghiệp vừa nhỏ ở các gia đình làm nghề thủ
công nghiệp.
Nghề rèn có lịch sử phát triển hơn 700 - 800 năm, nhà nước chú trọng
khâu hiên đại hoá kỹ thuật, các tập đoàn sắt thép giúp đỡ khâu sản xuất phôi
thép, vì vậy sản lượng nông cụ xuất khẩu ngày càng tăng và có uy tín trong
khu vực.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ở tỉnh OITA (miền Tây - Nam Nhật
Bản) đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm" do đích thân tỉnh trưởng
18
phát động và tổ chức nhằm phát triển NTCTT. Kết quả tạo ra 270 loại sản
phẩm, thu nhập 1,2 tỷ USD [19, tr.37], [28].
+ Inđônêxia:
Trong quá trình CNH, Chính phủ đã quan tâm chú trọng các ngành nghề
truyền thống, hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn. Đề ra các
chương trình phát triển ngành nghề truyền thống thông qua việc thực hiện các
kế hoạch 5 năm:
Lần thứ nhất: nhằm xây dựng xưởng sản xuất và các trung tâm bán các
sản phẩm thủ công nghiệp.
Lần thứ hai: Thành lập các dự án phát triển các doanh nghiệp vừa và
nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp.
Lần thứ ba: Hướng dẫn nghiệp vụ sản xuất kinh doanh cho các làng
nghề, tăng cường mạng lưới dịch vụ cung cấp thiết bị vật tư.
Cùng với chính sách chính phủ tổ chức ra hội đồng thủ công nghiệp
quốc gia nhằm thúc đẩy các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển như tổ
nhập khẩu đối với một số nguyên liệu, vật tư phục vụ các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và công nghiệp nông thôn [19, tr.133].
+ Thái Lan:
Thái Lan đề ra chương trình: mỗi làng một sản phẩm, với mục tiêu nâng
cao thu nhập, phát triển khả năng sáng tạo và nguồn nhân lực cộng đồng. Dựa
trên 3 nguyên tắc cơ bản:
- Thúc đẩy sản phẩm nổi bật của địa phương.
- Tăng cường sức sáng tạo và tính tự lập của cộng đồng.
- Phát triển nguồn nhân lực.
Đầu tiên chương trình tuyên truyền nhằm làm cho cộng đồng hiểu biết
về mục tiêu chương trình để họ lựa chọn quyết định sản phẩm nổi bật của địa
20
phương mình tham gia chương trình, tiếp theo dự tính kinh phí, tiến hành sản
xuất và tiếp thị sản phẩm.
Khi chương trình “mỗi làng một sản phẩm” ra đời, thì tháng 11/2001
Chính phủ lập ủy ban quốc gia nhằm ban hành chính sách, vạch kế hoạch cụ
thể để thực hiện chương trình. Chương trình là cơ hội để các LNTT hàng trăm
năm khôi phục, các sản phẩm trứng muối, gạo rứt, dệt vải mắt mì... đã trở lại
thị trường. Quá trình khôi phục sản xuất do nhân dân tự tiến hành tổ chức
quản lý [65].
+ Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào:
Sản xuất nông nghiệp là một hoạt động kinh tế cơ bản nhất, để phát
triển kinh tế phải tập trung mũi nhọn vào ngành công nghiệp chế biến nông
sản - một bộ phận quan trọng của nghề thủ công truyền thống. Muốn vậy phải
có tổng hợp các giải pháp sau:
- Phát triển toàn diện và đa dạng hoá hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh, chế biến nông sản. Đối với nông sản chế biến để tiêu dùng trong nước
thì lựa chọn công nghệ thích hợp, đối với nông sản xuất khẩu thì đi thẳng vào
đấu mỗi xã xây dựng được một làng nghề, mỗi hộ có thêm được một nghề
mới.
Còn tại huyện Nga Sơn, nơi nổi tiếng về chế biến các mặt hàng từ cây
cói thì tỉnh đã hỗ trợ giúp đỡ về vốn, mặt bằng, khuyến khích về cơ chế, cung
cấp thông tin, giới thiệu quảng bá sản phẩm. Một số người dân đã mạnh dạn
vay vốn thành lập xưởng sơ chế cói, lắp ráp từ 1.000 – 3.000 máy se lõi, đa
dạng hoá, cải tiến mẫu mã nâng cao chất lượng sản phẩm. Sau một thời gian
chiếu cói Nga Sơn đã tìm được chỗ đứng trên thị trường bất chấp hàng chiếu
nhựa, chiếu trúc Trung Quốc. Nhờ vực lại được mặt hàng chủ lực vượt qua
khủng hoảng đi vào thế phục hồi, phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân
12% năm. Kéo theo đó là sự phát triển các dịch vụ, xây dựng cơ khí. Cây cói
22
Nga Sơn được coi là 1 trong 3 mũi đột phá về kinh tế, đóng vai trò quan trọng
trong việc xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm. Kết quả từ việc chú trọng
cây cói đã thu hút 11.000 lao động (gần 70%) lao động toàn huyện, thu nhập
của người sản xuất chuyên nghề khoảng 350 - 600 nghìn đồng/tháng, lao động
không chuyên từ 250 - 300 nghìn đồng/tháng [30], [36].
+ Đà Nẵng:
Nổi tiếng với thắng cảnh núi Ngũ Hành Sơn, dưới chân núi có làng đá
mỹ nghệ Non Nước với nghề truyền thống chạm khắc đá - những tác phẩm
nghệ thuật vượt thời gian. Sau ngày giải phóng làng nghề vẫn tồn tại nhưng
sản phẩm đá mỹ nghệ gần như không tìm được thị trường,đã có những người
bỏ nghề. Sau năm 1986, trong xu thế đổi mới, có nhiều thuận lợi làng nghề
Non Nước có cơ hội phát triển mạnh. Từ vài ba chục hộ đến nay đã có 400 500 lao động nghề, sản phẩm đá mỹ nghệ rất đa dạng như gạt tàn, vòng tay,
tượng... với các kiểu kích cỡ. Danh tiếng làng nghề lan xa, hàng năm có hàng
ngàn lượt du khách quốc tế tham quan làng nghề và mua sản phẩm đá mỹ
nghệ, bình quân mỗi du khách 20USD hàng đá lưu niệm. Kim nghạch xuất
mới dây chuyền thiết bị, kỹ thuật [42], [39].
+ Ninh Bình:
Tỉnh Ninh Bình có tiềm năng lớn để phát triển ngành nghề thủ công,
tính đến năm 2002 có 35 làng nghề được công nhận trong đó làng nghề truyền
thống chiếm gần 60%. Ninh Hải (huyện Hoa Lư ) là LNTT thêu ren nổi tiếng,
nằm sát khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, hàng năm có khoảng 50 – 60 nghìn
lượt khách tham quan du lịch đặt mua hàng, sản phẩm được quảng bá rộng rãi,
có năm doanh thu đạt 13 - 14 tỷ đồng, chiếm 65% GDP toàn xã. Doanh nghiệp
sản xuất Minh Trang đã xuất được một số lô hàng nhỏ không qua trung gian
sang Anh, Pháp. Khó khăn lớn đối với Ninh Hải là vấn đề vốn, để thu hút 10
lao động thì cần đầu tư 300 triệu đồng tiền vốn để đầu tư máy móc, nâng cao
chất lượng sản phẩm đáp ứng thị trường nước ngoài [22].
24
Cùng huyện Hoa Lư, xã Ninh Vân lại được nhiều người biết tới bởi
nghề chế tác đá mỹ thuật nỏi tiếng khắp nơi từ chậu hoa, bồn cá, tượng phật,
tới hệ thống trụ cột cổng đá đình chùa chạm khắc tinh vi, hoành tráng, có
những công trình giá trị hàng trăm triệu.
Với thế mạnh ven biển huyện Kim Sơn lại phát triển mạnh nghề cói, có
12 hợp tác xã doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất hàng cói xuất khẩu gắn
với các LNTT ở Phát Diệm, Thượng Kim, Yên Mật...
Bên cạnh khôi phục phát triển nghề truyền thống, còn hình thành nhiều
nghề mới, như cung chăn bông, đan lát mây tre, làm đồ gốm... Có thể khẳng
định ngành nghề nông thôn ở Ninh Bình phát triển góp phần quan trọng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, tăng thu nhập. Nhìn chung hoạt động
sản xuất kinh doanh ở Ninh bình theo hai hướng: sản xuất hàng hóa tiêu thụ
trong nước và hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Các khâu sáng tác mẫu, ký
hợp đồng, sản xuất thử, chào hàng do các hợp tác xã, doanh nghiệp đóng vai
trò trung tâm. Thực trạng phát triển nghề thủ công truyền thống ở Ninh Bình