ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THỌ
Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Danh Tốn
Hà nội - 2005
MỤC LỤC
Mở đầu.................................................................................................................
Chƣơng
1.
2
Phát triển làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn: Những vấn đề lý luận chung
và
kinh
nghiệm
của
phƣơng........................................
2.2. Tình hình phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm..................... 43
2.3. Nhận xét đánh giá chung về tình hình phát triển làng nghề ở
huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
nông
nghiệp,
nông 61
thôn............................................................
Chƣơng
3.
Quan điểm định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
làng nghề ở huyện Từ Liêm trong thời gian tới.................................. 73
3.1. Bối cảnh mới và tác động của nó đối với sự phát triển của
các
làng
nghề
ở
Liêm......................................................
huyện
Từ 73
3.2. Quan điểm định hướng phát triển làng nghề............................ 77
hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đồng thời đã và đang đặt
huyện Từ Liêm trước những thách thức lớn lao. Một trong những thách thức
quan trọng là: một bộ phận đáng kể lao động nông thôn không còn đất canh
tác nhưng họ lại không có trình độ tay nghề thích ứng để chuyển sang những
ngành nghề mới, mức độ thu hút lao động của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ
đóng trên địa bàn huyện còn thấp. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn của huyện Từ Liêm gặp nhiều khó khăn.
Trong bối cảnh ấy phát triển làng nghề là nhu cầu cấp thiết nhằm đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng thời giải
quyết việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn ở huyện Từ Liêm.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, các làng nghề ở
huyện Từ Liêm còn chưa phát triển, còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh vì vậy đã hạn chế vai trò của nó trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn. Để làng nghề ở Huyện Từ Liêm thực sự đóng vai
trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn thì vấn đề cần thiết là phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp nhằm
phát huy thế mạnh, khắc phục các hạn chế trên cơ sở đánh giá đúng thực
trạng, động thái và xu hướng vận động của nó. Với những yêu cầu đặt ra cả về
lý luận và thực tiễn như trên, việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề “Phát triển
làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn” là hết sức cần thiết và tôi chọn đó làm đề tài luận
văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phát triển làng nghề ở nông thôn là vấn đề hết sức quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn nên đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đến
nay đã có nhiều công trình khoa học được công bố như:
- “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vượng.
NXB. Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1998.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị sự phát triển làng nghề
ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu sự phát triển của làng nghề ở huyện Từ Liêm trong thời kỳ
đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn chú trọng đến các
phương pháp nghiên cứu khác như: phân tích và tổng hợp, so sánh đối chiếu,
thống kê kinh tế, điều tra thực tế, phân tích dự báo…
6. Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn
* Những đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về làng nghề và phát triển
làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
- Phân tích kinh nghiệm của một số địa phương điển hình về phát triển
làng nghề.
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng phát triển làng nghề
ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu , có tính khả thi nhằm phát triển
làng nghề ở huyện Từ Liêm trong thời gian tới.
* Ý nghĩa của luận văn
Góp thêm cơ sở khoa học vào việc hoạch định chính sách phát triển
phụng từ đời này sang đời khác.
Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú đa dạng, có những nghề đã
hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong
nước và thế giới, ví dụ như:nghề gốm sứ Bát Tràng, nghề dệt tơ lụa Vạn
Phúc Hà Đông, nghề nấu rượu làng Vân… Những nghề truyền thống được
truyền trong phạm vi từng làng. Trong những làng có nghề truyền thống thì đa
số người dân biết làm nghề đó, ngoài ra họ còn có thể phát triển những nghề
khác nhưng những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nghề truyền thống.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ việc
sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công
nghệ mới với những vật liệu mới. Vì vậy khái niệm nghề truyền thống cũng
được mở rộng hơn. Khái niệm này có thể được hiểu là: Nghề truyền thống
bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được
truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay kể cả những nghề đã
được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất
nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm của nó vẫn thể hiện
những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc.
* Làng nghề
Đến nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề.
- Quan niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong
làng đều hoạt động cho một nghề thủ công và lấy đó làm nghề sinh sống chủ
yếu.
- Quan niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, nhưng
không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công. Người thợ thủ công nhiều
khi cũng là người làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá họ chuyển
sang sản xuất hàng thủ công ngay tại làng.
- Quan niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nó quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời
phú của nó. Hiện nay cả nước có trên 1500 làng nghề, trong đó khoảng 2/3 là
làng nghề truyền thống và chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng.
Có thể chia làng nghề theo hai tiêu thức sau:
- Phân theo số lượng nghề.
+ Làng một nghề: là những làng ngoài nghề nông ra chỉ cỏ thêm một
nghề thủ công duy nhất.
+ Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số
hoặc nhiều nghề khác.
- Phân loại theo thời gian hình thành.
+ Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời
trong lịch sử và còn tồn tại cho đến ngày nay.
+ Làng nghề mới: là những làng nghề xuất hiện trong thời gian gần đây
do sự phát triển lan toả của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ
các địa phương khác. Một số làng nghề được hình thành do chủ trương của
một số địa phương nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân. cho thợ đi học
nghề ở các nơi khác rồi về dạy lại cho người dân ở địa phương mình. Như vậy
về cơ bản làng nghề mới là những làng nghề mới xuất hiện trong những năm
gần đây (sau cách mạng tháng tám), đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới.
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề
Quá trình phát triển của làng nghề chịu tác động của nhiều nhân tố.
Những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo
chiều hướng khác nhau. Chúng có thể là những nhân tố thúc đẩy nhưng ngược
lại cũng có thể có những nhân tố kìm hãm sự phát triển. Ở mỗi vùng, mỗi địa
phương, mỗi làng nghề do có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện địa
lý tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hoá nên sự tác động của những nhân tố này
là không giống nhau. Tuy nhiên. hiểu một cách khái quát chúng bao gồm
những nhân tố cơ bản sau:
* Một là, nguồn nhân lực
triển nhanh. Điều này đã được chứng minh ở sự phát triển của một số làng
nghề gốm sứ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm. Ngược
lại một số làng nghề không phát triển được, ngày càng mai một, giảm sút,
thậm chí có nguy cơ tan rã không duy trì được nghề do sản phẩm làm ra
không đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường hoặc nhu cầu thị
trường không cần đến loại sản phẩm đó nữa. Chẳng hạn như: cày bừa (Đông
Thọ, Bắc Ninh), giấy dó (Bưởi, Hà Nội), pháo (Bình Đà, Hà Tây)… Ngay cả
trong một nghề cũng có những làng nghề phát triển trong khi làng nghề khác
lại không phát triển được. Ví dụ như nghề gốm sứ ở làng nghề Bát Tràng (Hà
Nội) không những giữ được nghề mà còn lan toả sang các làng khác, tạo
thành một vùng nghề gốm sứ trong khi làng nghề gốm Ánh Hồng (Quảng
Ninh) làng nghề gốm sứ Cậy (Hải Dương) thì sa sút bởi sản phẩm làm ra
không đáp ứng được những đòi hỏi của người tiêu dùng trên thị trường. Như
vậy, rõ ràng thị trường và sự phát triển của thị trường đã tác động rất mạnh tới
phương hướng phát triển, cách thức sản xuất kinh doanh, cơ cấu sản phẩm và
là động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề. Tuy nhiên nếu thị trường không
ổn định sẽ gây ra những khó khăn và bấp bênh cho sản xuất của làng nghề.
* Thứ tư, trình độ kỹ thuật và công nghệ
Trình độ kỹ thuật và cộng nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất
lượng và giá thành của sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
hàng hoá trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại phát triển
hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó. Nhận thức
được điều đó nhiều làng nghề đã đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất để đa dạng hoá sản
phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho
các làng nghề. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do đặc điểm kỹ thuật công
nghệ của một số làng nghề vẫn còn mang nặng tính chất thủ công, thô sơ lạc
phẩm. Nhưng đối với nhiều làng nghề thì đây lại là một khó khăn gây cản trở
tới sản xuất vì nguồn nguyên liệu vật liệu đang bị cạn kiệt dẫn đến không đủ
để đáp ứng cho sản xuất. Chẳng hạn như nguyên liệu dùng để sản xuất chiếu
cói ở Nga Sơn Thanh Hoá, gỗ quý cho sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ…
* Bảy là, chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước
Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn
tới sự phát triển hay suy vong của các làng nghề.Thời kỳ trước đổi mới chúng
ta chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, không chấp
nhận kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể. Các hộ sản xuất trong các làng nghề
truyền thống không được coi là các chủ thể kinh tế độc lập. Đó là một nhân tố
khiến cho các làng nghề không phát triển được. Từ khi thực hiện công cuộc
đổi mới đến nay các làng nghề đã phục hồi và phát triển mạnh. Sự chuyển
biến quan trọng này được tác động bởi các đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,
IX và nhiều Nghị quyết Trung ương đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh
tế nông thôn, đề ra nhiều biện pháp, chính sách phát triển toàn diện kinh tế –
xã hội nông thôn trong đó có làng nghề. Một trong những chính sách đặc biệt
quan trọng trong thời kỳ đổi mới có tác dụng phát huy sức mạnh nội lực của
làng nghề, đó là chính sách phát triển các thành phần kinh tế. Với chính sách
này các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trước đây không được chấp
nhận nay được khuyến khích phát triển. Chính sách này đã có tác động thúc
đẩy tất cả các thành phần kinh tế tồn tại trong làng nghề cùng phát triển, làm
cho làng nghề được phục hồi và phát triển mạnh. Đồng thời chính sách mở
cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kính thích sản xuất trong các làng nghề
phát triển vì nó mở rộng thêm nhiều thị trường mới. Ngoài ra còn có nhiều
chính sách khác như: chính sách miễn giảm thuế, chính sách hỗ trợ vốn, chính
sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ… đã có tác động tích cực tới sự phát
triển của các làng nghề. Trên cơ sở đổi mới đường lối, chính sách kinh tế một
mới bao gồm cả tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông
nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội từng bước hình thành
nông thôn mới văn minh, hiện đại”.
Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
được cụ thể hoá thêm một bước tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ
IX như sau: “Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là
công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hóa, điện khí hóa; qui
hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu
được trên một đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng
hoá. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông
thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng. chú trọng công
nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ
phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ,
tạo nhiều việc làm mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời
sống nông dân và dân cư ở nông thôn”.
Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tiếp
tục được cụ thể hoá hơn nữa tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX.
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hoá, thuỷ lợi
hoá; ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh
học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông
nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nông sản hàng hoá trên thị trường.
thôn. Trong quá trình vận động và phát triển của mình các làng nghề đã tỏ rõ
vai trò tích cực đối với sự chuyển dịch này. Nó thể hiện ở chỗ góp phần tăng
tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng
nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang
ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Trong thực tế lịch sử, sự ra
đời và phát triển của các làng nghề ngay từ đầu đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế
nông thôn. Điều đó có nghĩa là ở nông thôn khi nghề thủ công xuất hiện thì
kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh nó
còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Trên góc độ phân công lao động thì làng nghề có tác động rất tích cực tới sản xuất
nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp mà còn có
tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Chẳng hạn ngành nghề chế biến
lương thực thực phẩm phát triển yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều
hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn. Vì vậy trong nông nghiệp hình thành
những khu vực nông nghiệp chuyên môn hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản phẩm hàng hoá. Đồng thời người
nông dân trước yêu cầu tăng lên của sản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực
nào là có lợi nhất. Như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã
được thực hiện dưới tác động của sản xuất và nhu cầu thị trường.
Sản xuất phi nông nghiệp ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản
lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp cận với
nền kinh tế thị trường, người lao động chuyển sang đầu tư vào các ngành
nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu
thụ mạnh. Điều đó có nghĩa là khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại,
khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên. Sự phát
triển này đã khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế phi nông
nghiệp cho những vùng thuần nông trước đây chỉ chuyên có trồng trọt và chăn
nuôi. Cùng với các nghề thủ công, làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt
điều kiện cho các ngành nghề khác phát triển hơn, ví dụ: như ngành chế biến
lương thực thực phẩm tạo điệu kiện cho ngành cơ khí chế tạo công cụ, ngành
chăn nuôi phát triển, ngành tái chế nguyên vật liệu đã tạo điều kiện cho mạng
lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển và nó còn có tác dụng làm sạch
môi trường…
Do đặc điểm sản xuất của các làng nghề ở qui mô hộ là chủ yếu đồng
thời nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên nó có khả năng
tận dụng và thu hút nhiều loại lao động từ lao động thời vụ, nông nhàn đến
lao động trên hay dưới độ tuổi lao động vào quá trình sản xuất. Lực lượng lao
động này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động làm nghề.
* Thu hút vốn nhàn rỗi
Qui mô các cơ sở kinh tế trong các làng nghề chủ yếu là hộ gia đình và
đang hình thành một số doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời hầu hết các cơ
sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đều dành một phần diện tích nhà ở
của gia đình làm nơi sản xuất, kinh doanh, nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ
công nhỏ, thô sơ mà những người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất
hoặc chế tạo được. Cho nên mức đầu tư cho một lao động và qui mô vốn cho
một cơ sở sản xuất - kinh doanh trong các làng nghề không nhiều. Vì vậy rất
phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia
đình. Vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để
các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động
sản xuất kinh doanh.
* Cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới
Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện được
trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập. Ở nông thôn vấn đề này
được phản ánh rất rõ thông qua tác động của phát triển làng nghề. Những
vùng có làng nghề phát triển đều thể hiện một sự văn minh giàu có, dân trí
cao hơn hẳn những vùng thuần nông. Ở các làng nghề tỷ lệ hộ khá và giàu rất
các hình thức: tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Những hình thức này cùng tồn tại và có tác
động hỗ trợ lẫn nhau trong điều kiện mới của nền kinh tế thị trường, tạo ra sự
đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề.
- Hộ gia đình
Là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong các làng nghề
hiện nay. Hộ gia đình vừa là một đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh tế, vừa là
một đơn vị sinh hoạt. Các thành viên trong gia đình đều có chung một cơ sở
kinh tế, có chung sự sở hữu đối với tài sản dùng cho sinh hoạt và đối với tư
liệu sản xuất như đất đai, công cụ, nhà xưởng… Mỗi thành viên trong gia
đình đều có trách nhiệm đối với cơ sở kinh tế ấy và làm cho nó tăng dần lên
bằng lao động của mình. Thành quả lao động chung của cả gia đình thể hiện
qua tổng số thu nhập đều được tiêu dùng chung. Gia đình cũng là một đơn vị
tự tổ chức lao động, ở đó người chủ hộ đồng thời là người thợ giỏi, nắm
quyền quản lý, quyết định và điều hành mọi công việc. Hình thức tổ chức hộ
gia đình đã thể hiện những ưu thế nổi bật của nó. Đó là việc có thể huy động
và sử dụng mọi thành viên trong gia đình tham gia vào các công việc khác
nhau của quá trình sản xuất kinh doanh, tận dụng được thời gian lao động và
mặt bằng sản xuất (bởi vì nơi sản xuất thường là nhà ở). Việc dạy nghề,
truyền nghề được diễn ra trong gia đình bằng hình thức phụ việc, vừa học vừa
làm. Hình thức tổ chức hộ gia đình còn thể hiện một sự linh hoạt bởi vì nó
dựa trên sự phân công và hợp tác hoàn toàn tự nguyện của các thành viên
trong gia đình, nó kết hợp được sự phân công theo giới tính và tuổi tác, phân
công theo tình trạng sức khoẻ và theo tính chất công việc.
Với những đặc điểm như trên hình thức tổ chức hộ gia đình không
giống bất kỳ hình thức tổ chức kinh doanh nào.
Mặc dù có một số ưu thế nhất định nhưng mặt khác nó cũng bộc lộ
những nhược điểm cơ bản. Vì đặc trưng chủ yếu của sản xuát hộ gia đình là