ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHAN THANH NGHỊ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bến Tre
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Vương Cường
Hà nội - 2004
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƢỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ................................................... 9
1.1. Cơ cấu kinh tế và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ............................................. 9
1.1.1. Khái niệm và nội dung, cơ cấu kinh tế ............................................ 9
1.1.2. Yêu cầu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa .................................................... 13
1.2. Những nhân tố ảnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở nước ta .. 20
1.2.1. Nhóm nhân tố về địa lý, tự nhiên .................................................. 20
1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội ....................................................... 22
QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH BẾN TRE 88
3.1. Những phương hướng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành tỉnh Bến Tre ........................................................................ 88
3.1.1. Phương hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bến Tre 88
3.1.2. Phương hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
3.1.3. Phương hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu thương mại, dịch
vụ tỉnh Bến Tre ....................................................................................... 96
3.2. Một số giải pháp để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh
Bến Tre ..................................................................................................... 98
3.2.1 Giải pháp về thị trường ................................................................. 98
3.2.2. Xây dựng quy hoạch phát triển cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bến Tre
............................................................................................................. 102
3.2.3. Giải pháp về vốn ........................................................................ 107
3.2.4. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng ......................................... 109
3.2.5. Giải pháp về khoa học - công nghệ............................................. 110
3.2.6. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực ......................................... 113
2
KẾT LUẬN ............................................................................................... 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 119
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta hiện nay là: đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta
ngoại tuy có tiến bộ so với giai đoạn trước nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
và tiềm năng cho phép. Trước yêu cầu trên, Đại hội VII Đảng bộ tỉnh Bến Tre
chỉ rõ phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh 5 năm tới (2001 - 2005) là: “
...đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế tỉnh nhà nhanh và bền vững hơn; tiếp
tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
trước nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với
đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng; nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo,
giải quyết lao động và việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân” [13, tr. 47].
Như vậy muốn kinh tế phát triển, Bến Tre phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tức là phải giảm tỷ trọng nông
nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ một cách hợp lý. Đây là yêu cầu
tất yếu của xu hướng phát triển kinh tế; vì nền kinh tế của một nước, một tỉnh
muốn đi lên giàu có không thể chỉ thuần nông mà nhất thiết phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” làm nội
dung nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đã có nhiều công trình, đề tài, luận văn và những bài viết
được nghiên cứu, đăng tải và công bố như:
- GS.PTS. Trần Ngọc Hiên: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế” - “Giải
pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.
2
- Ngô Đình Giao: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, tập II, Nxb. Chính trị quốc
4. Cơ sớ lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa vào đường lối, chính sách, chương trình quy
hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre từ năm 2001 - 2010. Ngoài
ra, còn tham khảo, tiếp thu ý kiến một số nhà khoa học trong và ngoài nước.
4.2. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng nhiều tài liệu khác nhau
như:
Tác phẩm của Các Mác, Ăng ghen, V.I.Lênin, Hồ Chí minh về cơ cấu
kinh tế; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII,VIII,
IX; Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IV, V,VI, VII;
Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre 1999-2003; Địa trí Bến Tre và còn nhiều tài
liệu khác, được chú thích ở Danh mục tài liệu tham khảo.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, cụ thể là sử dụng các phương pháp tổng
quát, logic, lịch sử, diễn dịch - quy nạp, thống kê, so sánh; đặc biệt là phương
pháp tổng kết thực tiễn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành của tỉnh Bến Tre, không nghiên cứu tất cả các nội dung chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Luận văn đi sâu phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bến
Tre từ 1991 đến nay và đề ra những phương hướng, giải pháp chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của tỉnh đến năm 2010.
6. Đóng góp của luận văn
4
- Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có vị trí rất quan trọng trong
quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia ở từng thời kỳ.
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; sự phát triển
của phân công lao động xã hội; xu thế toàn cầu hóa về sản xuất và đời sống;
quy luật lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, lợi thế của nước phát triển muộn
về công nghiệp... Tất cả những yếu tố đó đều có ảnh hưởng, liên quan đến sự
hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng quốc gia ở từng thời kỳ
nhất định.
Thuật ngữ “cơ cấu kinh tế”, tùy theo phạm vi xem xét rộng hay hẹp, ta
sẽ có nội dung khái niệm cơ cấu kinh tế có sự khác nhau về mức độ. Dưới đây
là quan điểm chung nhất và tương đối đầy đủ, đó là: cơ cấu kinh tế là tổng thể
các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân, kinh tế của một địa
phương, một cơ sở. Các quan hệ này có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau
tồn tại như một chỉnh thể mang tính hệ thống, thể hiện ở chất lượng, nhịp độ
phát triển và tỷ trọng giá trị của từng bộ phận cấu thành tổng thể, diễn ra trong
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế
từng thời kỳ.
6
- Cơ cấu kinh tế, nếu xem xét ở cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên
một vùng lãnh thổ, thì nội dung của nó bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu
vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật - công nghệ, cơ cấu
lao động... Trong đó cơ cấu ngành kinh tế là cốt lõi của cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng là: tính khách quan, tính thị trường, tính mục
tiêu, tính kết hợp giữa số lượng và chất lượng, tính lịch sử, tính động, tính
hiện đại, tính hiệu quả kinh tế - xã hội.
Như vậy, về mặt nội dung cơ cấu kinh tế là một hệ thống đa cơ cấu hợp
Kinh tế tập thể.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
Kinh tế tư bản, tư nhân.
Kinh tế tư bản Nhà nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó, kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và kinh tế Nhà nước
cùng với kinh tế tập thể hợp thành nền tảng cho chế độ xã hội mới - Xã hội
Chủ nghĩa.
+ Thứ tư, cơ cấu kỹ thuật - công nghệ là tổng thể các loại trình độ (thế
hệ) kỹ thuật và công nghệ tồn tại trong nền kinh tế được hình thành trong mối
quan hệ tương tác giữa công cụ thủ công, nửa cơ khí, cơ khí, tự động hóa,....
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng tương ứng với các
nguồn lực, trong đó quan trọng nhất là vốn và sức lao động.
Công nghệ nước ta hiện nay mang tính đa dạng, đan xen nhiều trình độ,
vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số
ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Làm như vậy, ta vừa
tận dụng tiềm năng lao động, vừa rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta
với các nước trong khu vực, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
+ Thứ năm, cơ cấu lao động: trên cơ sở cơ cấu kinh tế được chuyển
dịch, đẩy mạnh phân công lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông
8
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, trong đó tỷ trọng lao
động dịch vụ tăng nhanh hơn tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng lao
động xã hội; tỷ trọng lao động giản đơn giảm dần và tỷ trọng lao động trí tuệ
tăng nhanh và ngày càng chiếm ưu thế trong cơ cấu lao động.
- Trong quá trình phát triển cơ cấu kinh tế không chỉ đa dạng về nội
dung, mà còn phải đạt cơ cấu tối ưu (hợp lý).
hiệu quả; gắn liền với sự phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng.
+ Ba là, tính hiện đại, việc xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu khoa học công nghệ phải phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ của khoa học và công
nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới. Làm cho kỹ thuật và công
nghệ của ta chậm lạc hậu với phát triển của thời đại.
Đảm bảo được yêu cần này là điều kiện tốt để ta thực hiện hợp tác và
phân công quốc tế có hiệu quả, rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta với
các nước trong khu vực và trên thế giới.
+ Bốn là, đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội, nhờ đó cho phép cơ
cấu kinh tế khai thác tối đa mọi nguồn lực, tiềm năng của đất nước, của địa
phương, của ngành, xí nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chí rất quan trọng, là kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế
tối ưu (hợp lý).
Các yêu cầu nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau và đều có tác dụng chi
phối sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta nói chung và tỉnh
Bến Tre nói riêng trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá
(CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước.
1.1.2. Yêu cầu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một quá trình, trải qua những
chặng đường nhất định, và thực hiện phải thông qua việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
10
- C.Mác chỉ rõ: “Cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất của một
lĩnh vực công nghiệp này gây ra cuộc cách mạng trong các lĩnh vực khác.
Điều đó áp dụng trước hết cho những ngành công nghiệp tuy bị cô lập do sự
phân công lao động xã hội, thành thử mỗi một ngành sản xuất ra một hàng
hóa độc lập, nhưng vẫn quyện chặt với nhau thành những giai đoạn của một
quá trình chung. Ví dụ, việc kéo sợi bằng máy đã làm cho việc dệt bằng máy
phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
lạc hậu, kém hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng phù hợp với xu hướng phát
triển của nền sản xuất hiện đại.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là làm cho tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp ngày tăng, nông nghiệp ngày
càng giảm; tỷ trọng giá trị sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản
phẩm nông - công nghiệp ngày càng giảm tương ứng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là yêu cầu khách quan của nước ta hiện nay, vì mấy lý do sau đây:
- Thứ nhất, do thực trạng nền kinh tế nước ta đặt ra.
Qua 10 năm (1991 - 2000) thực hiện chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế - xã hội, nến kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn rất
quan trọng. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi
(tăng 2,07 lần). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong 10 năm 7,5%.
Cụ thể là nông nghiệp phát triển liên tục; sản lượng lương thực bình quân mỗi
năm tăng 1,3 triệu tấn, đưa lương thực bình quân đầu người từ 330kg năm
1990 lên 360kg năm 1995 và 444kg năm 2000, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới.
Về công nghiệp, đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị sản lượng
công nghiệp 10 năm (1991 - 2000) tăng 13,6%/ năm, cao hơn mục tiêu đề ra.
Trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 11,4%, công nghiệp ngoài quốc doanh
12
tăng 11%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5%. Sản lượng
một số sản phẩm quan trọng tăng nhanh.
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, giá trị tăng 8,4%/ năm, trong đó
5 năm đầu tăng 10,1%, và 5 năm sau tăng 6,8%.
Tích lũy nội bộ của nền kinh tế tăng đáng kể. Mức tiết kiệm trong nước
cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
năm 2000 là 24,3% chưa đạt chỉ tiêu đề ra là còn khoảng 19 - 20%; tỷ trọng
dịch vụ là 39,1%, chỉ tiêu là 45 - 46%.
Đầu tư còn phân tán, làm cho hiệu quả sử dụng vốn, nhất là vốn từ
ngân sách chưa cao. Trong nông nghiệp ít chú ý đầu tư cho việc nghiên cứu,
ứng dụng giống mới cho năng suất cao và giá trị hàng hóa lớn. Trong công
nghiệp, chưa tập trung đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại. Nguồn
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm.
Từ thực trạng nêu trên, để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội trong thời
gian tới, thì cần phải tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Thứ hai, xuất phát từ mục tiêu, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta và mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định: “Mục tiêu của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có
cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh, vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh.
Từ nay đến 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp” [8, tr.80].
14
Tiếp theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vạch rõ kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001 - 2005) là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao
Bởi vì, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nên những điều kiện vật chất
- kỹ thuật, khoa học - công nghệ và con người để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp có năng suất lao
động cao và từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế mới: công - nông nghiệp và
dịch vụ hiện đại. Trong những năm trước mắt, nước ta cần tập trung đẩy mạnh
công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, ra sức phát triển các ngành công
nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản; công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu, phát triển du lịch và dịch vụ ở thành thị và nông thôn… Kinh tế
nông nghiệp và nông thôn nước ta vốn lạc hậu, nghèo nàn không thể tự vươn lên
đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ, không đủ khả năng giải quyết
công ăn việc làm cho khoảng 70% lao động xã hội đang sinh sống ở địa bàn này.
Điều đó, đòi hỏi phải có sự tác động mạnh của công nghiệp vào nông nghiệp,
như đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ sinh
học, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi... mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản,
phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn.
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như cơ cấu nông nghiệp được chuyển
dịch và phát triển xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng xã hội;
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng nhanh khối lượng nông sản xuất
khẩu; giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, từ đó mở rộng
thị trường cho sản phẩm và dịch vụ công nghiệp; bổ sung lực lượng lao động
cho các ngành công nghiệp và dịch vụ góp phần tích lũy vốn cho công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
16
Như vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là một tất yếu khách quan, phù hợp với lý luận Mác - Lênin và tư
ngành: khai thác, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, khai thác và chế biến dầu
khí, du lịch, giao thông đường biển...
Nước ta vừa ở vị trí trung tâm, vừa có chung biển Đông với nhiều nước
Đông Nam Á (với Campuchia, Thái Lan, Malayxia, Philippin...). Trên đất liền
cũng như biển, lãnh thổ nước ta có nhiều tuyến đường, đầu mối giao thông,
sân bay, hải cảng thuận lợi để giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế
giới bằng đường bộ, đường sông, đường biển và đường hàng không, là một
trong những điều kiện thuận lợi để thực hiện kinh tế mở, chủ động hội nhập.
Bên cạnh thuận lợi thì điều kiện tự nhiên nước ta cũng gây nhiều trở
ngại đối với việc phát triển kinh tế - xã hội. Như tài nguyên đất của nước ta có
hạn, diện tích đất canh tác tính theo đầu người khoảng 0,1ha/người. Bão, lũ
lụt, hạn hán hằng năm gây nhiều tổn thất cho nền kinh tế. Diện tích rừng tiếp
tục giảm. Nhiều loài thú, chim, thủy sản trở nên hiếm, có nguy cơ tuyệt
chủng. Khoáng sản phân bố phân tán, không đều về trữ lượng gây khó khăn
cho việc khai thác, chế biến. Về cảnh quan du lịch, nhiều nơi thiếu sự tu bổ,
chưa có sức thu hút du khách, nhất là khách nước ngoài.
Điều kiện địa lý, tự nhiên nước ta có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tận dụng, khai thác mặt thuận
lợi của điều kiện tự nhiên; đồng thời tìm cách khắc phục, hạn chế tối đa
những trở ngại do chúng gây ra.
Cũng cần lưu ý, tuy điều kiện địa lý, tự nhiên có vai trò quan trọng,
nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định, vì thế chúng ta không nên tuyệt
đối hóa “địa lý, tự nhiên”. Vì thực tế cho thấy, nhiều nước có điều kiện tự
nhiên kém ưu đãi, nhưng vẫn chuyển dịch cơ cấu kinh tế trở thành nước phát
triển. Như: Nhật Bản là nước gần như không có tài nguyên khoáng sản, động
đất thường xuyên xảy ra mà vẫn trở thành siêu cường kinh tế; Hồng Kông,
18
những ưu điểm, do nhiều nguyên nhân nên nhìn chung trình độ dân trí chưa
cao, lực lượng lao động qua đào tạo còn thấp chưa đạt yêu cầu, giá nhân công
rẽ, thu nhập thấp dẫn đến đời sống người lao động ở nước ta còn khó khăn.
Do đó, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải ra sức nâng cao
trình độ văn hóa cho nhân dân, đào tạo nghề cho thanh niên, phân công lại lao
động xã hội ở nước ta.
Về cơ sở vật chất - kỹ thuật, qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng; trong đó, cơ sở vật chất - kỹ thuật
của nước ta từng bước được tăng cường, nhiều máy móc, thiết bị, công nghệ
hiện đại đầu tư vào các ngành trong nền kinh tế. Vốn đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội trong 10 năm (1991 - 2000) khoảng 632 nghìn tỷ đồng (tương đương
khoảng 57 tỷ USD). Đầu tư phát triển so với GDP tăng từ 18% năm 1990 lên
28% năm 2000. Nhờ đó, năng lực sản xuất của hầu hết các ngành sản xuất và
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên cơ sở vật chất
kỹ thuật, kết cấu hạ tầng của nước ta phần lớn vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển và cạnh tranh quốc tế. Cho nên Đại hội Đảng lần thứ
IX đã định hướng phát triển khoa học - công nghệ như sau: “Con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có
những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất
nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” [9, tr.91].
Về quan hệ sản xuất, qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quán
triệt chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo ra sự phong
phú, đa dạng của các hình thức tổ chức kinh tế, làm cho quan hệ sản xuất có
20