ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHAN VĂN THẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2009
1
tỉnh Bến Tre 70
3.1. Phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam và Bến
Tre 70
3.1.1. Phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch Việt Nam 70
3.1.2. Phương hướng, mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh
Bến Tre 71
3.2. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch ở tỉnh Bến
Tre 76
3.2.1. Nhóm giải pháp kiện toàn tổ chức quản lý và phát
triển các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 76
3.2.2. Nhóm giải pháp định hướng thị trường và phát triển
các sản phẩm du lịch 80
3.2.3. Nhóm giải pháp về xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du
lịch 85
3.2.4. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực du lịch 87
3.2.5. Nhóm giải pháp về bảo vệ, tôn tạo tài nguyên, bảo vệ
môi trường du lịch 91
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
xứng với tiềm năng, có những yếu tố cần phải tập trung phân tích làm rõ như
thực trạng du lịch Bến Tre với phương hướng, giải pháp phù hợp, đẩy nhanh
phát triển du lịch Bến Tre lên tầm cao mới. Vì vậy, “Phát triển du lịch ở tỉnh
Bến Tre” đã được tác giả chọn làm đề tài để viết Luận văn thạc sĩ kinh tế,
chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu
Đến nay, vấn đề phát triển du lịch đã có nhiều đề tài, công trình, luận
văn và những bài viết được nghiên cứu đăng tải và công bố. Trong đó, có một
số công trình đề tài được các tác giả quan tâm như:
- Trần Thanh Bình (2005), Thị trường du lịch trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế.
- Nguyễn Huy Cảnh (2006), Phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế ở Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế.
- Hoàng Đức Cường (1999), Phát triển kinh tế du lịch ở Nghệ An, Luận
văn thạc sĩ kinh tế.
- GS.TS. Nguyễn Văn Đính và TS. Trần Thị Minh Hòa (2006), Giáo
trình kinh tế du lịch. Nxb. Lao động - xã hội, Hà Nội.
- Bùi Thu Hằng (1999), Phát triển du lịch ở An Giang, Luận văn thạc sĩ
kinh tế.
- Nguyễn Thị Hóa (1997), Kinh tế du lịch Thừa Thiên Huế, Luận văn
thạc sĩ kinh tế.
- Huỳnh Vĩnh Lạc (2005), Khai thác tiềm năng du lịch đảo Phú Quốc
tỉnh Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ kinh tế.
5
- Trần Quốc Nhật (1995), Phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu, Luận văn thạc sĩ kinh tế.
- Lê Kim Thoa (1998), Đổi mới phương thức hoạt động kinh tế du lịch
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Luận văn thạc sĩ kinh tế.
- Bùi Thị Hải Yến (2006), Quy hoạch du lịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
- Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long (2007), Tài nguyên du lịch,
chương trình quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre từ năm
2001 - 2010, đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Ngoài ra, luận văn
còn kế thừa, tham khảo các giáo trình, sách, báo, tạp chí khoa học và nhiều
nguồn tư liệu khác.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Luận văn sử dụng dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp cụ thể: kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng
hợp, so sánh, thống kê, lôgíc - lịch sử. v.v…
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả không có tham vọng và cũng không có khả
năng nghiên cứu toàn bộ về phát triển du lịch nói chung mà chỉ tập trung
nghiên cứu thực trạng du lịch ở tỉnh Bến Tre từ năm 1996 - 2008 cùng với
phương hướng và giải pháp phát triển du lịch Bến Tre đến năm 2015 và tầm
nhìn đến năm 2020.
6. Đóng góp của Luận văn
Khi đề tài hoàn thành sẽ góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học lý luận
và thực tiễn cho phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre. Qua đó, có thể vận dụng để
giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống, phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân địa phương. Luận văn có
7
thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, cũng như các tổ chức có liên
quan về tìm hiểu đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu của mình, đồng thời phục vụ
cho công tác giảng dạy và học tập bộ môn thương mại du lịch và các bộ môn
khác ở các trường cao đẳng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch.
Chương 2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre.
chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu
cầu của người đi du lịch. Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ
9
hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của
khách (người đi du lịch), đồng thời thông qua đó đạt được mục đích số một
của mình là tối đa hóa lợi nhuận.
Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: du lịch được hiểu là
việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất để
phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng,
được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du
lịch là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các
nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân
thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương.
Tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại: du lịch là một hiện tượng
kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, nó được đặc trưng bởi sự tăng
nhanh khối lượng và mở rộng phạm vi, cơ cấu dân cư tham gia vào quá trình
du lịch của mỗi nước, mỗi vùng trên thế giới. Với họ, hoạt động du lịch tại địa
phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu về nền văn hóa và phong
cách của người ngoài địa phương, người nước ngoài; là cơ hội để tìm kiếm
việc làm, để phát sinh và phát triển các nghề cổ truyền, các nghề thủ công
truyền thống của dân tộc. thông qua du lịch, có thể tăng thu nhập và cũng gây
ảnh hưởng đến đời sống người dân sở tại như: về môi trường, trật tự an ninh
xã hội, nơi ăn chốn ở v.v…
Michael Coltman đã đưa ra định nghĩa rất ngắn gọn về du lịch: “Du lịch
là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du
khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và
chính quyền nơi đón khách du lịch” [37, tr.18].
Dựa trên 4 nhóm nhân tố đó, Luật Du lịch Việt Nam (2005) nêu rõ:
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh
doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
11
Sản phẩm du lịch là tổ hợp những gì đáp ứng nhu cầu và mong muốn
của khách du lịch, nó bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và các tiện
nghi cung cấp cho khách du lịch. Chúng được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên,
cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một cơ sở nào đó.
- Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch về cơ bản không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành
phần chính của sản phẩm du lịch chính là dịch vụ (thường chiếm 80% - 90%
về mặt giá trị), còn hàng hóa chiếm một tỷ trọng nhỏ. Chất lượng của sản
phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và
mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch.
Xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình
du lịch, chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo
các nhóm cơ bản sau: dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,
đồ ăn, thức uống; dịch vụ tham quan, giải trí; hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu
niệm; các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với tài nguyên du lịch.
Các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa: “Tất cả giới tự nhiên
và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành
du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể
gọi là tài nguyên du lịch” [42, tr.41].
Luật Du lịch Việt Nam (2005) xác định rõ: “Tài nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [30, tr.2].
“Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn được khai thác và chưa được khai thác.
12
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo,
nên thường có sự kết hợp một vài loại hình du lịch cùng một lúc. Chẳng hạn,
du lịch nghỉ ngơi, giải trí với du lịch văn hóa; du lịch công vụ với du lịch văn
hóa, v.v…
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của các khách du
lịch đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng.
Tùy theo tài nguyên, lợi thế của từng nước, từng địa phương để khai
thác, phát huy tiềm năng loại hình du lịch phù hợp.
Trong Luật Du lịch Việt Nam (2005) tại chương VI, Điều 38 có quy
định về các ngành, nghề kinh doanh du lịch như: “Kinh doanh lữ hành; kinh
doanh lưu trú du lịch; kinh doanh vận chuyển khách du lịch; kinh doanh phát
triển khu du lịch, điểm du lịch; kinh doanh dịch vụ du lịch khác” [30, tr.14].
Việc kinh doanh các loại hình du lịch gắn với các ngành, nghề kinh
doanh du lịch có quan hệ mật thiết với thị trường du lịch.
“Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của
sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ
trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung cầu và toàn bộ các mối quan
hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch”
[20, tr.23].
Trên thực tế, thị trường du lịch cũng là một bộ phận cấu thành của thị
trường hàng hóa, cũng chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của thị trường
như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị…
Trong thị trường hàng hóa du lịch (hàng hóa dưới dạng vật chất và
hàng hóa dưới dạng dịch vụ) được thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về
du lịch, do vậy nó có sự độc lập tương đối với thị trường hàng hóa thông
thường.
14
Đặc trưng của thị trường du lịch bắt nguồn từ đặc điểm của sản phẩm
du lịch và cung cầu về du lịch.
* Cầu du lịch là một loại nhu cầu xã hội đặc biệt nảy sinh khi thu nhập
của con người tăng lên vượt xa nhu cầu vật chất và tinh thần thông thường
động tiện nghi, lịch sự, giá cả phải chăng, kích thích mạnh cầu du lịch.
Tâm lý về mức độ hưng phấn hay ức chế; giới tính, tuổi tác, nghề
nghiệp, kỳ vọng, thị hiếu, sự tập trung dân cư tác động mạnh tới cầu và cơ cấu
cầu về du lịch. Thường thì các nhà doanh nghiệp, nhà báo, nhà ngoại giao,
một số quan chức… tham gia vào các hoạt động du lịch nhiều hơn các nghề
nghiệp khác, vì bên cạnh công việc, họ thường tranh thủ nghỉ ngơi, tham quan
danh lam thắng cảnh.
Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ổn định cũng là yếu tố kích thích
lượng du khách quốc tế, trong đó có chính sách phát triển du lịch của chính
phủ tác động trực tiếp đến khối lượng, cơ cấu cầu du lịch như: các thủ tục
vào, ra du lịch, tham quan, đi lại, lưu trú… được thông thoáng, thuận tiện.
* Cung trên thị trường du lịch được tạo thành từ các yếu tố như tài
nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, hàng hóa và dịch vụ cung ứng phục
vụ du khách, chủ yếu dưới dạng phi vật thể, bởi cầu du lịch được thỏa mãn
thông qua các dịch vụ.
Cùng với thị trường các hàng hóa khác, cung sản phẩm du lịch cũng
chịu sự chi phối của quy luật cung. Động lực chi phối và thúc đẩy quy luật
này hoạt động chính là lợi nhuận. Nếu tổng chi phí đầu vào để sản xuất tăng,
trong khi giá hàng hóa và dịch vụ tăng cao hơn đem lại lợi nhuận tăng, cuốn
hút nhiều người kinh doanh du lịch làm tăng mức cung du lịch.
Ngoài giá của bản thân các sản phẩm du lịch, cung du lịch còn chịu tác
động của các yếu tố:
16
Sự phát triển của khoa học công nghệ, sức sản xuất và tiến bộ xã hội.
Khi khoa học công nghệ phát triển với sự ứng dụng nó càng phổ biến và hiệu
quả, tạo điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật hiện đại, tạo
điều kiện thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, mở rộng thị trường, góp
phần tạo ra các dịch vụ hàng hóa có giá trị sử dụng chất lượng cao, phong
phú, đa dạng; nâng cao năng suất, giảm giá thành, lợi thế trong cạnh tranh.
Cung du lịch phụ thuộc cầu du lịch (cầu có khả năng thanh toán), các
nhập quốc dân và phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng thêm hợp lý.
Du lịch nội địa còn tăng cường bồi bổ sức khỏe cho người lao động, qua đó
tăng năng suất lao động, giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du
lịch quốc tế được hiệu quả hơn, vì trước và sau thời vụ du lịch, khách quốc tế
vắng, có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật ấy vào phục vụ khách du lịch nội
địa với giá cả thích hợp với thu nhập của người lao động. Phương thức đó,
vừa thúc đẩy du lịch nội địa phát triển, vừa phát huy được cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện có, vốn quay được nhiều vòng.
Du lịch địa phương phát triển, góp phần tăng thu ngân sách qua các
khoản trích nộp ngân sách, các khoản thuế từ các cơ sở du lịch hoạt động trên
địa bàn thuộc quyền quản lý trực tiếp của địa phương. Du lịch tạo điều kiện
sử dụng có hiệu quả tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật, huy động tiền nhàn
rỗi trong dân cư, tái sản xuất sức lao động, nâng cao những giá trị văn hóa
truyền thống, văn minh nhân loại, đất nước và con người mỗi vùng, miền.
Phát triển du lịch, công ăn việc làm, thu nhập người dân từng bước
được giải quyết và nâng lên. Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan
đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu. Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra
được một việc làm mới. Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện
nay thu hút khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao
18
động trong các dịch vụ bổ sung. Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ sung
có thể tăng lên nhiều lần, nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và
phong phú về chủng loại.
Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển và ngược
lại. Cơ sở của vai trò này là tính tổng thể về sản phẩm phục vụ du khách có sự
hỗ trợ liên ngành, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế. Thông qua các cơ sở du
lịch, một số lượng lớn sản phẩm của các ngành (nông nghiệp, công nghiệp,
thủ công, mỹ nghệ, các nghề truyền thống, giao thông vận tải, tài chính, tín
dụng, bưu điện, hải quan…) phát triển. Sự phát triển du lịch tạo ra các cơ hội,
điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường một cách tinh tế, các hợp đồng
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của
tương lai” [30, tr.3].
Phát triển du lịch bền vững được coi là hoạt động khai thác có quản lý
các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách
du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự
đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn
về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ
môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
Phát triển du lịch bền vững dựa vào ba trụ cột cơ bản:
- Thứ nhất, đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững: Đảm bảo sự tăng
trưởng, phát triển ổn định lâu dài về kinh tế của các doanh nghiệp và của ngành
du lịch, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia và cộng đồng;
- Thứ hai, đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường. Thể
hiện ở việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và điều kiện môi
trường. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh doanh du lịch
cần được quản lý sao cho không chỉ nhu cầu phát triển trong hiện tại mà còn
20
đảm bảo cho nhu cầu phát triển qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, trong quá
trình phát triển, các tác động của hoạt động kinh doanh du lịch đến môi
trường sẽ được hạn chế với những đóng góp cho các nỗ lực tôn tạo tài
nguyên, bảo vệ môi trường.
- Thứ ba, đảm bảo sự bền vững về văn hóa - xã hội. Theo đó sự phát
triển hoạt động kinh doanh du lịch phải có những đóng góp cụ thể cho phát
triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Một số xu hướng phát triển du lịch thế giới
* Nhóm xu hướng phát triển của cầu du lịch
- Xu hướng 1:
Du lịch ngày càng được khẳng định là một hiện tượng kinh tế - xã hội
phổ biến, vì thu nhập và đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu và khả
phục vụ khách hiện có và tiềm ẩn để kết hợp xây dựng các tuyến du lịch phù
hợp, hấp dẫn để thu hút khách.
* Nhóm xu hướng phát triển của cung du lịch
- Xu hướng 1:
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và phát triển hệ thống sản phẩm du lịch
gắn liền với tăng cường hoạt động truyền thông.
Xuất phát từ yêu cầu cạnh tranh quyết liệt trong việc thu hút và phục vụ
khách du lịch nên các quốc gia phát triển du lịch (các doanh nghiệp du lịch)
đưa ra chính sách đa dạng hóa sản phẩm với việc các tổ chức lữ hành lớn trên
thế giới phát triển các loại hình bán chương trình du lịch đến tận nhà qua
mạng internet và xu hướng các doanh nghiệp du lịch kết hợp tổ chức đón
khách từ nước thứ ba ngày càng tăng. Nhìn chung, khách du lịch trên thế giới
vẫn có thói quen đến nhiều những nơi được nghe và xem hoạt động truyền
22
thông. Vai trò của hoạt động tuyên truyền, quảng cáo trong du lịch quốc tế
càng được nâng cao cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
- Xu hướng 2:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khu vực hóa, quốc tế hóa du
lịch. Nhiều nước coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, có chiến lược đưa du
lịch thành ngành công nghiệp hàng đầu hoặc thứ hai, thứ ba trong nền kinh tế
quốc dân. Ở những nước du lịch phát triển đã ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, công nghệ cao như điện tử, tin học, vô tuyến viễn thông, tự động hóa,
công nghệ sinh học v.v… để phát triển công nghiệp lữ hành, công nghiệp
khách sạn, công nghiệp vận chuyển khách du lịch. Đội ngũ lao động của các
tổ chức kinh doanh được đào tạo cơ bản, có kiến thức, hiểu biết rộng, chuyên
môn vững vàng và ngoại ngữ thông thạo. Trang thiết bị, phương tiện ở các
khâu tác nghiệp rất hiện đại. Công nghệ phục vụ từng lĩnh vực ngày càng
được cải tiến và nâng cao, đi sâu vào chuyên môn hóa ngành nghề. Mặt khác,
các tuyến du lịch của các nước được gắn kết với nhau đáp ứng nhu cầu đi du
lịch nhiều nước trong một chuyến hành trình. Sản phẩm và dịch vụ du lịch đã
Nhiều nghề thủ công truyền thống, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh
hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với
những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên
nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông, tạo cho du lịch
Việt Nam có nhiều điều kiện khai thác thế mạnh về du lịch văn hóa - lịch sử.
Tài nguyên du lịch Việt Nam phân bố tương đối đều trong toàn quốc,
vừa tập trung thành từng cụm gần các đô thị lớn, các trục giao thông quan
trọng thuận tiện cho việc tổ chức khai thác, hình thành các tuyến du lịch bổ
sung giữa các vùng.
24
Việt Nam có chế độ chính trị hòa bình, ổn định; công tác giữ gìn an
ninh trật tự xã hội được đảm bảo.
Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước Việt
Nam tiếp tục phát huy có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối
ngoại, trong đó có du lịch phát triển.
Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, cho phép sử dụng
hiệu quả các nguồn lực để cung cấp sản phẩm có chất lượng.
Sự có mặt của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam có nhiều lĩnh vực
đặc biệt sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư xây dựng các khu nghỉ dưỡng và các khách
sạn cao cấp; hình ảnh du lịch Việt Nam ngày càng đậm nét trên thị trường du
lịch quốc tế, là điểm đến thân thiện và an toàn.
Nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và ổn định, đời sống vật chất và
tinh thần của người dân càng được nâng cao, nhu cầu đi du lịch của người dân
đã trở thành nhu cầu thiết yếu.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư xây dựng và nâng
cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các tiềm năng du lịch của đất
nước, giao lưu giữa các vùng (đặc biệt là vùng sâu, vùng xa - nơi có nhiều tài
nguyên du lịch đặc sắc) và phát triển các tuyến, điểm tham quan du lịch.
Theo số liệu của Tổng cục du lịch Việt Nam, từ 1990 - 2004 khách du
lịch quốc tế tăng 10 lần, từ 250.000 lượt năm 1990 lên 2.930.000 lượt năm