ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
-----****-----
HỨA NGỌC TÂN
SO SÁNH NGỮ ÂM CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ NÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
MÃ SỐ:
60.22.01
Hà Nội – 2008
ðẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
-----****-----
HỨA NGỌC TÂN
SO SÁNH NGỮ ÂM CỦA MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ NÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
MÃ SỐ:
60.22.01
4
4.
Một vài ñặc ñiểm về ñịa bàn khảo sát
6
5.
Bố cục của luận văn
9
Chương 1: Sơ lược về dân tộc Nùng ở Việt Nam và lịch sử nghiên
10
cứu ngữ âm tiếng Nùng
1.1.
Sơ lược về dân tộc Nùng ở Việt Nam
10
1.2.
Mối quan hệ Tày – Nùng
Một số khái niệm cơ bản
29
2.2.
Âm tiết tiếng Nùng An
32
2.2.1. Nhận diện và phân xuất
32
2.2.2. Các kiếu âm tiết
34
Hệ thống âm ñầu tiếng Nùng An
34
2.3.1 Số lượng
35
2.3.2 Mô tả
38
2.4.2.3 Tiêu chí khu biệt
61
2.4.2.4 Nhận xét
62
2.4.3 Âm cuối
63
2.4.3.1 Số lượng
63
2.4.3.2 Tiêu chí khu biệt
64
2.4.3.3 Nhận xét
66
Hệ thống thanh ñiệu
68
2.5.1 Mô tả
83
Tương ứng NÂ của Nùng An với NÂ các PNNùng
102
3.2.1 Hệ thống NÂ các PN Nùng
102
3.2.2 Tương ứng ñối ứng NÂ PN Nùng An với NÂ các PN Nùng
104
3.3
Tương ứng âm cuối Nùng An với các phương ngữ Nùng
118
3.4
Tương ứng thanh ñiệu
120
3.5
Khác biệt từ vựng giữa Nùng An với các PN Nùng
cứu thường gắn việc nghiên cứu tiếng Nùng và các phương ngữ Nùng trong mối quan
hệ với tiếng Tày. Do quan niệm giữa hai dân tộc có những tương ñồng về ngôn ngữ và
văn hoá nên ñã không làm nổi bật ñược những ñặc trưng riêng vốn có của tiếng Nùng.
Hai dân tộc Tày, Nùng có nhiều ñiểm chung về lịch sử tộc người, ñặc trưng văn
hoá và ñặc biệt là hai dân tộc này, xét về mặt ngôn ngữ, cơ bản là có thể hiểu và giao
tiếp với nhau ñược. Tuy nhiên tương ñồng và ñồng nhất về ngôn ngữ và văn hoá là hai
chuyện hoàn toàn khác nhau. Việc tìm ra những dị biệt về ngôn ngữ và văn hoá là rất
quan trọng, nhất là ñối với việc xác ñịnh thành phần các dân tộc thiểu số hiện nay ở
Việt Nam. Những sự khác biệt của các phương ngữ Nùng là do ñâu, sự khác biệt ñó
ñến mức ñộ nào và liệu những khác biệt ñó có nằm trong giới hạn phương ngữ của một
ngôn ngữ như các phương ngữ trong tiếng Việt hay ñã mang tính ngôn ngữ. ðó là vấn
ñề cần những nghiên cứu toàn diện ñể ñưa ra kết luận chính xác, khách quan, khoa học.
Ở Việt Nam, tuy ñược coi là một dân tộc thiểu số thống nhất nhưng người Nùng
có sự khác biệt ñịa phương khá rõ nét. Sự khác biệt ñó thể hiện ở chỗ ở mỗi vùng khác
nhau họ có những tên gọi ñịa phương khác nhau. Những tên gọi ñịa phương ấy ít nhiều
phản ánh những nét dị biệt về ngôn ngữ, ñến mức giữa các nhóm Nùng có sự khác
nhau về mặt ngôn ngữ. Tính không ñồng nhất trong ngôn ngữ là một thực tế rất dễ
nhận thấy ở hầu hết các phương ngữ Nùng. Trong ñó, một vài nhóm có những ñặc
Hứa Ngọc Tân
-1-
Luận văn Cao học
trưng riêng về mặt ngôn ngữ làm cho chúng có những khác biệt với các nhóm khác,
như Nùng An, Nùng Dín, Nùng Giang. Nhưng mức ñộ khác biệt ấy ñược thể hiện như
thế nào thì cho ñến nay vẫn chưa có một nghiên cứu tỉ mỉ.
Các công trình ñề cập ñến tiếng Nùng và các phương ngữ Nùng dưới góc ñộ
văn có thể góp phần thiết thực vào việc giảng dạy song ngữ Việt – Nùng ở ñịa bàn cư
trú của người Nùng.
2. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Dân tộc Nùng có nhiều nhóm ñịa phương khác nhau tuỳ theo ñặc ñiểm về trang
phục hay ñịa danh cư trú của tổ tiên họ trước khi di cư ñến Việt Nam mà có các phụ
danh khác nhau như Nùng An, Nùng Dín, Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo,
......... Do di cư từ nhiều vùng khác nhau của Trung Quốc, những nhóm Nùng này mang
theo những ñặc ñiểm của các phương ngữ nơi họ sinh sống. Sự khác biệt của các PN
Nùng nằm ở các khía cạnh và mức ñộ cũng khác nhau. Khi di cư ñến Việt Nam họ bị
những ñặc ñiểm về di cư chi phối như: số lượng di cư ồ ạt hoặc lẻ tẻ, thời ñiểm khác
nhau. Hơn nữa, khi sinh sống ở Việt Nam họ lại sống ở những vùng khá xa nhau, ít tiếp
xúc với nhau, do vậy, tiếng của các ngành Nùng ở Việt Nam ñã vượt ra khỏi phạm vi
biến thể ñịa lí. Có ý kiến cho rằng vì những khác biệt này mà nên coi mỗi biến thể như
vậy ñược coi như là tiếng của một ngành như: tiếng ngành Nùng Cháo, tiếng ngành
Nùng Fàn Slình, ....
Cho ñến nay chưa có một nghiên cứu nào thoã mãn ñược về cả mặt ngữ âm lẫn
từ vựng. Tên gọi hiện nay của các phương/ thổ ngữ Nùng thường là do dân ñịa phương
(tự gọi và ñược gọi) sử dụng. Có thể thấy rằng việc tìm ra ñược sự tương ứng ñầy ñủ và
hoàn hảo trong so sánh giữa các phương ngữ Nùng trên phương diện ngôn ngữ là rất
khó. Do vậy, khi nhận ñề tài liên quan ñến so sánh ngữ âm các PN Nùng chúng tôi ñã
suy nghĩ rất nhiều về hướng và khả năng thực hiện ñề tài.
Chúng tôi lựa chọn tiếng (phương ngữ) Nùng An làm ñối tượng nghiên cứu
chính vì theo các kết quả nghiên cứu bước ñầu thì tiếng Nùng An có tính ñặc thù
phương ngữ rất cao so với các phương ngữ Nùng khác [34;43], [46;19], [47;80]. Hơn
nữa, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về ngữ âm tiếng Nùng An. Do vậy,
cùng với việc lựa chọn theo hướng so sánh các phương ngữ Nùng, chúng tôi xác ñịnh
ñối tượng cụ thể là mô tả một hệ thống ngữ âm của một phương ngữ Nùng cụ thể, rồi
Hứa Ngọc Tân
phương ngữ Nùng khác trên bình diện ñồng ñại. ðề tài ñược thực hiện chủ yếu theo
phương pháp quy nạp, trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lí, so sánh ñối chiếu tư liệu ñể
tìm ra sự tương ñồng và khác biệt của ngữ âm các phương ngữ Nùng. Từ ñó mô tả và
Hứa Ngọc Tân
-4-
Luận văn Cao học
ñưa ra những kết luận, ñánh giá chung, dự báo khuynh hướng biến ñổi về vấn ñề
nghiên cứu.
3.1.2 Phương pháp, thao tác cụ thể
ðề tài ñược thực hiện trên cơ sở một số phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp ñiều tra ñiền dã
ðối tượng khảo cứu là tiếng nói của một dân tộc thiểu số nên ñiều tra ñiền dã là
công việc ñầu tiên phải làm. Nguồn tư liệu ñược chúng tôi tiến hành thu thập thông qua
các chuyến ñiền dã tại ñịa bàn từ tháng 12 năm 2006 ñến tháng 3 năm 2008. Chúng tôi
lựa chọn một số ñịa bàn tiêu biểu tập trung cao các nhóm Nùng cư trú, như Nùng An là
ở xã Phúc Sen, Quảng Uyên (Cao Bằng); Nùng Inh, Nùng Cháo ở 2 huyện Hữu Lũng
và Bình Gia (Lạng Sơn); Nùng Fàn Slình ở ðồng ðăng (Cao Lộc) và Chi Lăng (Lạng
Sơn).
Bảng từ dùng ñể nghiên cứu với khoảng gần 2000 mục từ cơ bản ñể mô tả hệ
thống ngữ âm ngôn ngữ dân tộc thiểu số (do GS Trần Trí Dõi và GS M.Ferlus biên
soạn), và một bảng từ gần 1000 mục từ về các hiện tượng tự nhiên, từ chỉ tính chất
trạng thái, ñộng từ, từ thân tộc, từ xưng hô dùng trong sinh hoạt hàng ngày.... Chúng
tôi ñến những ñịa bàn này và sử dụng phương pháp phỏng vấn, quan sát trực tiếp bằng
thính giác, ghi âm dưới dạng băng từ ñể có thể kiểm tra cho kết quả có ñộ tin cậy cao
và ghi chép lại dưới dạng phiên âm quốc tế (IPA) các từ tương ñương trong tiếng
Cao Bằng 37 km, ngược lên phía Bắc cách thị trấn Quảng Uyên 4 km. Từ ñây có thể ñi
ñến các nơi trong huyện và trong tỉnh. Từ xã Phúc Sen có thể ñến khu du lịch thác Bản
Giốc - ñộng Ngườm Ngao (huyện Trùng Khánh), ñi cửa khẩu Tà Lùng. Tổng diện tích
ñất tự nhiên của xã là 1280 ha, trong ñó diện tích ñất canh tác là 217ha (chiếm 16,9%).
Như vậy, diện tích tự nhiên dành cho hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp là rất thấp.
Tính ñến ngày 31/12/2007, dân số toàn xã là 2062 người, với 413 hộ gia ñình,
số người trong ñộ tuổi lao ñộng chiếm 37%. Phúc Sen là xã có duy nhất một dân tộc
Nùng (Nùng An) cư trú phân tán trong mười bản. Do tính cục bộ về cư trú nên tình
trạng tiếng Nùng ñược sử dụng tương ñối phổ biến ở nhiều môi trường khác nhau (gia
ñình, làng bản, chợ, trường học, cơ quan hành chính xã - huyện); trong khi ñó tiếng
Việt chỉ ñược sử dụng một cách hạn chế ở một số môi trường như trong trường học, cơ
quan hành chính nhưng song song với tiếng Nùng.
Hứa Ngọc Tân
-6-
Luận văn Cao học
Về tình hình kinh tế, hoạt ñộng sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất nhỏ
lẻ, không tập trung do ñịa bàn bị bao bọc bởi núi ñá không thuận tiện cho việc canh tác
tập trung. Bình quân lương thực tính theo ñầu người là 500 kg/năm. Ngoài hoạt ñộng
sản xuất nông nghiệp một năm chỉ có một vụ lúa người dân còn trồng hoa màu như
ngô, khoai, sắn và một số loại rau như: rau cải, củ cải, bắp cải, rau cần và phát triển
chăn nuôi như: lợn, gà, ngựa, trâu , bò…. Xã còn là ñơn vị trồng giống ngô lai có hiệu
quả và cho năng suất cao, trình ñộ thâm canh của dân trong xã có nhiều tiến bộ. Nhưng
nhìn chung tình hình sản xuất nông nghiệp vẫn là tự cung tự cấp nên ñời sống người
dân còn nhiều khó khăn, xã vẫn còn tới 120 hộ nghèo (29%) trên 413 hộ.
Bên cạnh hoạt ñộng sản xuất nông nghiệp, xã còn phát triển nghề phụ ñể tăng
miền núi, vùng sâu nhưng chỉ cao 25m so với mực nước biển.
Hệ thống giao thông thuỷ lợi còn kém, hệ thống mương nước tuy ñã ñược xây
dựng nhưng một số ñiểm vẫn dùng hệ thống mương dẫn nước cổ truyền. Một năm chỉ
làm một vụ lúa, một vụ khoai, ngô. Không canh tác thêm ñược vì thời tiết rất khắc
nghiệt. Toàn xã có một trường cấp I, 01 trường cấp II nhưng hiện tượng học sinh bỏ
học là phổ biến.
Có thể nói, ñây là xã khó khăn rất khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Sinh
hoạt văn hoá còn rất nghèo nàn, thấp kém, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn ñeo ñẳng.
Nhưng vì vậy mà vẫn giữ ñược những ñặc ñiểm về mặt ngôn ngữ và văn hoá.
4.3. Xã ðồng Tân, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
Xã ðồng Tân có vị trí nằm trên giao lộ của trục ñường quốc lộ 1A, cách thị trấn
Hữu Lũng 5 km về hướng ñông nam, dân cư trên ñịa bàn ña số là người dân tộc, trong
ñó dân tộc Nùng chiếm ña số (65%), với các nhóm Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng Fàn
Slình. Hiện nay, ñồng bào Nùng ở ñây không còn giữ ñược nét văn hóa truyền thống
xưa nữa. Nhà cửa, trang phục, sinh hoạt hàng ngày ñều theo người Kinh, các hoạt ñộng
văn hóa như hát sli, lễ hội như lồng tồng ở ñây cũng không còn nữa. Tiếng mẹ ñẻ
không còn ñược sử dụng phổ biến trong môi trường giao tiếp truyền thống như gia
ñình, làng bản nữa (chỉ ñược các các cụ già và lớp người trung niên sử dụng).
Hệ thống giáo dục ñã ñược hoàn thiện với hệ thống trường học khang trang,
ñược ñầu tư từ bậc mẫu giáo cho ñến trung học cơ sở. Tuy có nhiều dân tộc cùng sinh
Hứa Ngọc Tân
-8-
Luận văn Cao học
sống nhưng trong các môi trường giao tiếp tiếng Việt ñã ñảm nhiệm tốt chức năng của
mình.
phía Bắc, kéo dài từ Lào Cai ñến Quảng Ninh, xen kẽ với dân tộc Tày và các dân tộc
khác. Hai tỉnh có số người Nùng cư trú ñông nhất là Lạng Sơn (302.415 người) và Cao
Bằng (161.134 người). Ngoài ra người Nùng còn cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Bắc Giang, Yên Bái. Vài chục năm trở lại ñây, một
bộ phận người Nùng di cư ñến vùng kinh tế mới, nên ở một số tỉnh miền Nam, Tây
Nguyên ñã có người Nùng cư trú như ở ðắc Lắc, Lâm ðồng, ðồng Nai [6;57], [26;11].
Ngoài lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Nùng còn cư trú ở các tỉnh Quảng ðông, Quảng Tây
(Trung Quốc).
1.1.2 Nguồn gốc lịch sử tộc người
Cho ñến nay, vẫn chưa có một nhận ñịnh thống nhất về lịch sử tộc người và
những ñặc trưng văn hoá của người Nùng ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu mới chỉ
thống nhất ở nhận ñịnh: Nùng là tộc danh của dân tộc Nùng, một trong những dân tộc
thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Kadai.
1
Theo Sổ tay công tác dân tộc và miền núi. NXB Hà Nội, năm 2000, 238 trang.
Hứa Ngọc Tân
- 10 -
Luận văn Cao học
Tư liệu Hán văn của Việt Nam ghi chép về người Nùng sớm nhất có lẽ là trong
Kiến văn tiểu lục của Lê Quý ðôn (thế kỷ XVIII). Qua những ghi chép trong tác phẩm
này chúng ta biết ñược người Nùng thuộc 12 thổ châu thuộc Trung Quốc di cư ñến
Việt Nam [9; tr.334].
Năm 1950, các tác giả Bùi ðình [8; tr.43-46], Nguyễn Trắc Dĩ [5] ñưa ra nhận
Như vậy, tộc danh Nùng lúc ñầu bắt nguồn từ tên dòng họ ñông người, có thế
lực với ñịa vực cư trú chủ yếu ở nam Trung Quốc, sau ñó họ thiên di dần về phía ñông,
phía nam và phía Tây. Lịch sử còn ghi nhận nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự áp bức
của các triều ñại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, tiêu biểu nhất là hai cuộc khởi
nghĩa của Nùng Dân Phú và Nùng Trí Cao. Sau thất bại của cuộc nổi dậy do Nùng Trí
Cao ñứng ñầu, từ thế kỷ XIII họ mất quyền tự trị về chính trị và phụ thuộc vào phong
kiến Trung Quốc [16;33], [38; tr.117-121].
1.1.3. ðặc ñiểm hoạt ñộng kinh tế
ðặc ñiểm cư trú của người Nùng thường là ở những thung lũng, khe suối, chân
núi, những cánh ñồng giữa núi và trên những suờn ñồi thấp nên trong quá trình ñịnh
cư, từ lâu người Nùng ñã có trình ñộ canh tác nông nghiệp cổ truyền khá phát triển.
ðồng bào Nùng ñã lựa chọn cho mình những hình thức lao ñộng, sản xuất phù hợp với
ñiều kiện ñịa lí tự nhiên. Nền kinh tế của ñồng bào Nùng căn bản là dựa trên nền kinh
tế nông nghiệp trồng trọt, cây lương thực chính là cây lúa, sau là cây ngô. Ngoài ra
ñồng bào còn trồng các loài cây hoa màu khác như khoai lang, khoai sọ, củ từ, rau,
ñậu, …..
Tính ña dạng của các loại cây trồng không chỉ phụ thuộc vào ñiều kiện tự nhiên
mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm sản xuất của ñồng bào. Cơ cấu mùa vụ khá ña
dạng, trên những chân ruộng nước (nà nặm), ñồng bào thường trồng hai vụ lúa mùa và
ñông xuân, có những nơi do ñiều kiện thời tiết, không nước nên chỉ trồng ñược một vụ
lúa, ở chân ruộng cạn (nà lẹng) ñồng bào trồng ngô, khoai lang, rau ñậu…
Người Nùng là cư dân nắm vững và sử dụng thành thạo các bản tính nông lịch,
ñồng thời họ cũng biết tuỳ vào tình hình thời tiết thông qua những biến ñổi của tự
nhiên ñể có những ñiều chỉnh gieo cấy cho phù hợp. ðể có năng suất cao, ñồng bào
Nùng ñặc biệt quan tâm ñến việc bón lót, bón thúc và làm công tác thủy lợi. Bên cạnh
việc làm ruộng nước, ñồng bào còn làm nương bãi. Nương ở chân ñồi hay ven rừng
thường trồng ngô, sắn, ñậu, lạc, chè, vừng… ðồng bào còn có nhiều kinh nghiệm trong
Hứa Ngọc Tân
chế.
So với các dân tộc thiểu số ở miền Bắc nước ta, có thể thấy rằng dân tộc Nùng
là một trong những dân tộc có chất lượng sống cao hơn cả. Bên cạnh những kinh
Hứa Ngọc Tân
- 13 -
Luận văn Cao học
nghiệm, kiến thức sản xuất truyền thống, họ ñã và ñang từng bước tiếp cận với tiến bộ
của khoa học kỹ thuật và cơ chế thị trường. ðiều này có ý nghĩa hết sức quan trọng ñối
với công cuộc phát triển bền vững kinh tế - xã hội của khu vực miền núi.
1.1.4. ðặc ñiểm gia ñình – xã hội
Quan hệ của các thành viên trong cộng ñồng làng bản của người Nùng ñược dựa
trên sự tương thân tương ái, mọi người có thái ñộ tôn trọng, giúp ñỡ nhau trong mọi
công việc. Ở mỗi bản có một trưởng thôn lo các công việc hành chính. Ngoài ra, người
dân tín nhiệm, kính trọng mời một người làm trưởng bản, là người có tầm ảnh hưởng
rất lớn trong các công việc chung của bản.
Do ñặc ñiểm cư trú khá tập trung, ở mỗi bản thường có vài ba họ trong cùng
một dân tộc Nùng cư trú. Tinh thần gia tộc ñược thể hiện rất mạnh mẽ trong ñồng bào
Nùng. Người trưởng tộc ñược mọi người kính trọng và có ảnh hưởng rất lớn trong
dòng họ. Gia ñình người Nùng là gia ñình nhỏ phụ hệ, người cha quyết ñịnh mọi việc,
con trai ñược thừa hưởng gia tài. Trrong quan hệ dòng họ (cùng thế hệ như con cô, cậu,
chú, bác…..), người Nùng không phân biệt ngôi thứ mà tuân theo lứa tuổi, ai lớn tuổi
hơn thì làm anh, chị, ai ít tuổi hơn thì làm em. Trong phân công công việc, nam nữ ñều
tham gia công việc ñồng áng thường thì nam cày bừa, nữ cấy gặt. Phụ nữ Nùng thường
làm việc rất nhiều, ngoài công việc ñồng áng họ còn phải chăm sóc gia ñình, may mặc.
Họ là người ñóng vai trò quan trọng trong sản xuất và quản lí kinh tế. Còn nam giới,
trước ñây của người Nùng rất phức tạp và chi tiết. Ở mỗi nhóm có thể có ít nhiều khác
nhau nhưng ñại ñể là thống nhất. Ngày nay, việc cưới xin của ñồng bào Nùng ñã có
những tiến bộ, những nghi thức phức tạp, tốn kém, những tập tục có tính mê tín dị ñoan
ñã ñược giản lược rất nhiều.
1.1.5. ðặc ñiểm tín ngưỡng – tôn giáo
Người Nùng tin rằng có linh hồn và người chết sẽ hồi sinh ở thế giới bên kia, ở
ñó người chết vẫn sinh hoạt như khi còn ở trần gian. Nếu không lo chu ñáo việc ma
chay thì linh hồn của người chết sẽ không ñược siêu thoát, lẩn quất chung quanh người
sống, quấy rối cuộc sống hoặc sẽ bị thiếu thốn ở cuộc sống bên kia. Người Nùng cho
rằng mỗi khi linh hồn người chết ñến hỏi thăm là gây ñau ốm cho con cháu. Cho nên
phải làm mọi cách ñể cho linh hồn người chết về thế giới bên kia một cách an bình.
Hơn nữa, do ảnh hưởng của Nho giáo về ñạo hiếu nên bổn phận làm con phải chăm sóc
cha mẹ khi già yếu, lo ma chay, thờ cúng khi cha mẹ mất và cho ñó là cách báo hiếu
Hứa Ngọc Tân
- 15 -
Luận văn Cao học
quan trọng nhất. Do vậy, ñám ma của người Nùng bao gồm nhiều nghi lễ rất phức tạp
và tốn kém có khi ñến mười mấy nghi lễ trong một ñám ma.
Người Nùng chịu ảnh hưởng rất lớn từ ðạo giáo, Phật giáo và Khổng giáo. Tuy
nhiên người Nùng tiếp thu chủ yếu những yếu tố liên quan ñến mê tín dị ñoan, mang
tính tiêu cực của tam giáo. Nó có ảnh hưởng tới mọi mặt của ñời sống ñồng bào Nùng.
Tín ngưỡng chủ yếu của người Nùng là thờ cúng tổ tiên. Trong mỗi gia ñình ñều
có bàn thờ tổ tiên, ñược ñặt ở nơi trang trọng nhất, thường ở gian chính giữa, hoặc
trong buồng kín sát vách nhà thuộc gian thứ hai. Khách lạ và phụ nữ ít khi ra vào nơi
này. Người Nùng theo tộc hệ 7 ñời nhưng chỉ thờ từ ñời ông bà trở lại còn các ñời từ cụ
thần, ngoài thờ cúng tổ tiên (thần gia ñình, dòng họ), còn thờ nhiều vị thần, cúng nhiều
ma quỷ khi cần thiết.
1.1.6. ðặc ñiểm tổ chức làng bản, nhà cửa
Bản của người Nùng là ñơn vị xã hội cơ bản nhất, các mối quan hệ xã hội của
một cồng ñồng ñược thể hiện rõ nét qua ñơn vị này. Khu vực ñịnh cư của người Nùng
phổ biến là vùng thung lũng hẹp, thường là những dải ñất chạy quanh chân ñồi, chân
núi, gần nguồn nước như ven sông, suối, hay trên những gò ñất thấp …. dựa lưng vào
ñồi núi, phía trước là bồn ñịa ñã ñược khai phá thành ñồng ruộng.
Số hộ và nhân khẩu trong mỗi bản phụ thuộc vào ñịa hình cư trú. Bản của người
Nùng thường có từ 15 - 30 hộ, có những bản lớn quần cư tới 50 - 60 hộ. Dân cư trong
cùng một bản thường có quan hệ giúp ñỡ nhau trong các hoạt ñộng kinh tế và cùng
chịu sự chi phối của những quan hệ xã hội. Trong mỗi bản thường có một ñình làng với
mục ñích cầu cúng cho mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển. Công việc cúng bái
thường gắn liền với lễ hội “lùng tồng” (lễ xuống ñồng) vào dịp tết năm mới, mọi gia
ñình ñều phải làm cỗ và ñem gia ñình làm lễ. Ở mỗi bản ñều có hội hiếu “phe” với mục
ñích là giúp ñỡ nhau khi có việc tang ma.
Nhà ở là công trình văn hoá, ñồng thời là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoá của
gia ñình ñồng thời cũng là một hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân tộc. Nhà của người
Nùng về cơ bản giống với nhà ở của người Tày. Người Nùng thường ở trong những
ngôi nhà sàn kiểu cổ. Nhà ở của người Nùng thường có hai loại: nhà sàn (nhà sàn gỗ và
nhà sàn tường ñất) và nhà ñất (nhà trệt)
Nhà sàn gỗ là nhà truyền thống của người Nùng, thường gọi là Ma Lan. Nhà sàn
gỗ có loại làm sơ sài bằng tre, gỗ lợp tranh vách nứa, cột chôn thẳng xuống ñất. Có loại
làm kĩ lưỡng hơn, sàn, vách làm toàn bằng gỗ, cột kê trên ñá tảng. Một loại khác là nhà
Hứa Ngọc Tân
- 17 -
Luận văn Cao học
Hứa Ngọc Tân
- 18 -
Luận văn Cao học
những ñồ lặt vặt. Bếp ñược ñể ra ñằng sau hoặc gian bên cạnh. Loại nhà này cơ bản là
giống với nhà sàn tường ñất.
Nhìn chung nhà của người Nùng trước ñây thường thiên về phòng thủ, cửa và
cửa sổ ít nên bí và tối tăm. Việc sinh hoạt các tầng dành cho cả người và gia súc nên
không ñựơc vệ sinh lắm. Nhà ở của người Nùng khá bền tùy theo vùng và loại nhà mà
ñộ bền của nhà có thể từ vài chục tới hàng trăm năm.
1.1.7. ðặc ñiểm trang phục
Người Nùng thường tự làm lấy quần áo phục vụ cho mình, công việc này do
phụ nữ ñảm trách. Việc dệt vải ñược thực hiện quanh năm ngoài phục vụ cho nhu cầu
bản thân và gia ñình, họ còn ñem bán. Quần áo của người Nùng có màu chàm, màu sắc
này vừa ñảm bảo sạch sẽ mà lại cân ñối hài hoà của con người với thiên nhiên cây cỏ.
Việc nhuộm màu chàm rất vất vả và ñược thực hiện trong thời gian dài. Quần của nam
và nữ các nhóm Nùng thường là cùng kiểu chỉ khác nhau ở phần cạp quần. Cạp quần
của nam giới thường là vải trắng khâu ñáp vào thân quần, còn cạp của nữ giới bằng vải
màu xanh. ðó là kiểu quần què, với phần trên trông không rộng nhưng ñũng và ống
quần rộng, dài ñến mắt cá chân thuận tiện cho việc lao ñộng, ñi lại, leo trèo… Dây thắt
lưng là ñoạn dây gai cùng màu với quần áo, buộc chặt ngang hông ñể giữ quần.
Áo của nam giới thường may xẻ giữa ngực có hàng cúc vải, cổ tròn, cao; áo có
bốn túi, hai túi ngực nhỏ, hai túi dưới (ngang bụng) to. Nam giới cũng ñội khăn băng
vải tự dệt màu chàm ñen. Khi ñi ra ngoài thường có thêm túi khoác. Áo của phụ nữ
Nùng rộng phần thân áo và tay áo, ñủ ñể cử ñộng thoải mái trong lao ñộng sản xuất. Áo
của phụ nữ Nùng thường là loại áo năm thân bao gồm bốn thân dài và một thân hụt ở
phía ngực bên phải, cúc cài bên nách phải, tà áo xẻ cao, cổ ñứng. Có thể phân biệt các
Trang sức ñược người Nùng ưa chuộng là những ñồ trang sức ñược chế tác từ
bạc: vòng cổ, vòng chân, vòng tay, nhẫn, khuyên tai, xà tích. ðồ trang sức ñược chị em
phụ nữ ñeo vào những dịp ñặc biệt lễ hội, chợ phiên, ngày Tết chứ ngày thường ít
dùng.
1.1.8. ðặc ñiểm ẩm thực
ðồng bào Nùng là cư dân nông nghiệp sống dựa vào trồng trọt và chăn nuôi là
chính nên cơm tẻ là thức ăn chính trong các bữa ăn, ở một số vùng sâu, vùng cao thì
ngô lại là lương thực chính. Người Nùng cũng là cư dân thích ăn cơm nếp. Thực phẩm
trong các bữa ăn của ñồng bào là rau xanh trồng trong vườn, trên nương, hái trong rừng
và các loại thịt, cá, trứng……….
Hứa Ngọc Tân
- 20 -
Luận văn Cao học
Bữa ăn hàng ngày của ñồng bào Nùng thường khá ñơn giản chủ yếu là các loại
rau củ thường ñược xào mỡ, ít ăn luộc, có thịt cá nhưng chiếm tỉ lệ nhỏ và không
thường xuyên. Người Nùng thích ăn thịt lợn, gà, vịt. Họ không ăn thịt trâu, thịt bò, thịt
chó (ở một số vùng ñồng bào có ăn nhưng thường không ăn ở nhà và cũng không phổ
biến). ðồng bào Nùng thường ăn ngày ba bữa: hai bữa chính và một bữa phụ. Hai bữa
chính là ăn trưa “kin ngài” khoảng 10-11 giờ trưa và bữa ăn chiều “kin pjầu” vào
khoảng 5-6 giờ chiều sau khi ñi làm về. Bữa phụ vào khoảng 13h giờ gọi là “kin lèng”.
Ngoài ra những hôm gia ñình có việc thì còn có thêm bữa ăn ñêm gọi là “slíu dề”.
Trong bữa ăn bà mẹ hoặc con dâu ngồi ñầu nồi ñể xới cơm cho cả nhà. Người
Nùng có tục lệ nghiêm ngặt là con dâu, em dâu không ñược ngồi ăn chung với bố
chồng, anh chồng. Người Nùng rất quan tâm ñến người già và trẻ con nên thường dành
những phần thức ăn ngon cho ông bà già và trẻ em.