ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
LÊ THÀNH VIỆT
Kiểm soát giá đối với hàng hoá và dịch vụ
độc quyền ở Việt Nam hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, 2002
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1
KIỂM SOÁT GIÁ ĐỘC QUYỀN VÀ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA GIÁ ĐỘC
QUYỀN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Nguồn gốc và bản chất của độc quyền
1.1.1. Tính kinh tế của quy mô và độc quyền tự nhiên
1.1.2. Độc quyền do thoả thuận ngầm và sự hình thành của những
7
8
Cartel ngầm
23
23
1.3.2. Kiểm soát giá độc quyền
26
1.3.2.1 Căn cứ xác định giá cả hàng hoá độc quyền Nhà nước
1.3.2.2. Sự can thiệp trực tiếp
30
1.3.2.3. Sự can thiệp gián tiếp
1.4. Kinh nghiệm của một số nước về kiểm soát giá độc quyền
31
33
39
1.4.1. Kinh nghiệm của Liên bang Mỹ
1.4.2. Kinh nghiệm của các nước Đông Âu
40
1.4.3. Kinh nghiệm của cộng hoà nhân dân Trung Hoa
40
42
80
80
soát giá độc quyền
86
3.2.2. Căn cứ xác định giá đối với hàng hoá dịch vụ độc quyền
3.2.3. Ban hành hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát giá độc quyền và tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh để chống độc quyền về giá
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
93
100
104
109
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một động lực quan trọng để
phát triển nền kinh tế của mỗi nước. Cạnh tranh gay gắt tất yếu dẫn đến tình
trạng độc quyền. Mặt khác do mục đích tối đa hoá lợi nhuận trong kinh tế thị
trường do đó cũng hình thành nên các tổ chức độc quyền. Độc quyền tuy gây
xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này tác giả đã chọn đề tài:
“Kiểm soát giá đối với hàng hoá và dịch vụ độc quyền ở Việt Nam hiện
nay”. Đây là đề tài chứa đựng nhiều vấn đề thực tiễn và lý luận có ý nghĩa
trong việc kiểm soát giá độc quyền khi mà độc quyền giá đang là vấn đề bức
xúc của người tiêu dùng và pháp luật cạnh tranh, chống độc quyền đang
trong quá trình soạn thảo.
2. Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh là vấn đề
được một số học giả quan tâm, đề cập tới ví dụ như:
- Đặng Vũ Huân, Về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và
kiểm soát độc quyền, Bộ Tư pháp, 1996.
- Lê Viết Thái, Cơ sở và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh
tranh ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, 2000.
- Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Cạnh tranh và xây dựng
pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Công an Nhân dân,
2001.
Nhìn chung các học giả trước chủ yếu nghiên cứu kiểm soát độc
quyền, chống cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh...còn trong
luận văn này, tác giả đề cập tới một vấn đề mới “kiểm soát giá độc quyền”
2
nhằm mục đích tạo ra môi trường bình đẳng cho các nhà kinh doanh, đảm
bảo lợi ích cho người tiêu dùng và toàn xã hội.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Cung cấp cơ sở lý thuyết và phương pháp luận để làm rõ nguồn gốc,
bản chất của độc quyền, khái niệm về giá độc quyền và kiểm soát giá độc
quyền cũng như những tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế.
Để từ đó làm căn cứ cho việc nghiên cứu thực trạng độc quyền và kiểm soát
việc kiểm soát giá độc quyền.
Nói một cách cụ thể, luận văn đã kế thừa và sử dụng những học
thuyết, phương pháp luận của kinh tế học hiện đại để luận giải một cách
khoa học về sự vận động và phát triển của độc quyền, giá độc quyền và kiểm
soát giá độc quyền, nhận dạng hình thái thị trường độc quyền.
Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp thu thập và xử lý thông tin
dữ liệu, trên cơ sở đó thực hiện việc phân tích động thái của thị trường độc
quyền ở nước ta, để làm căn cứ thực tế đánh giá thực trạng độc quyền trong
một số ngành kinh tế từ đó sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng
hợp để đưa ra những kiến nghị giải pháp cho việc kiểm soát giá độc quyền ở
Việt Nam trong thời gian tới.
6. Những kết quả đạt đƣợc và điểm mới của luận văn
Về mặt lý thuyết, luận văn cung cấp một cách khái quát có hệ thống
những vấn đề cơ bản lý thuyết về độc quyền, giá độc quyền và kiểm soát giá
độc quyền bao gồm các yếu tố tác động đến sự hình thành vận động của các
hình thái thị trường (cạnh tranh, độc quyền, độc quyền nhóm) cũng như
4
những tác động tích cực và những hạn chế của chúng tới quá trình phát triển
kinh tế - xã hội.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở lý thuyết, luận văn đã phân tích thực trạng
độc quyền và kiểm soát giá độc quyền ở Việt Nam, đưa ra một số kiến nghị
mới nhằm kiểm soát giá đối với hàng hoá và dịch vụ độc quyền ở nước ta
trong thời gian tới.
Cụ thể, luận văn đã chỉ ra thực trạng độc quyền và kiểm soát giá độc
quyền ở Việt Nam hiện nay là: toàn bộ độc quyền ở nước ta hiện nay là độc
quyền của các doanh nghiệp Nhà nước được hình thành do cơ chế kinh tế cũ
để lại, hệ thống pháp luật cho việc kiểm soát độc quyền nói chung và kiểm
giải pháp kiểm soát giá đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
độc quyền ở Việt Nam.
6
CHƢƠNG 1
KIỂM SOÁT GIÁ ĐỘC QUYỀN VÀ ẢNH HƢỞNG TIÊU CỰC CỦA
GIÁ ĐỘC QUYỀN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Nguồn gốc và bản chất của độc quyền
Cạnh tranh tự do theo luật định là một động lực quan trọng của sự
phát triển. Cạnh tranh thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung nguồn lực, vốn
và các yếu tố khác của quá trình tái sản xuất. Cạnh tranh cao độ sẽ làm
xuất hiện các doanh nghiệp lớn có khả năng khống chế được thị trường
và tiến tới độc quyền trên thị trường đó.
Xét về bản chất của quá trình cạnh tranh, nếu để tự do quá trình
này sẽ phát triển theo lộ trình sau đây: từ cạnh tranh lành mạnh sang
cạnh tranh không lành mạnh mang tính độc quyền, từ cạnh tranh mang
tính độc quyền sang độc quyền. Độc quyền khi mới xuất hiện có những ý
nghĩa tiến bộ nhất định. Để giành được vị trí độc quyền các doanh nghiệp
phải cải tiến tổ chức quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tập trun g
mọi nguồn lực tạo sức mạnh để giành giữ vị trí độc quyền. Do vậy, độc
quyền đã có những tác động tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung
các nguồn lực để phát triển tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn, luôn đi
đầu về mặt kỹ thuật công nghệ. Song khi đã giữ vững được vị trí độc
quyền thì các doanh nghiệp độc quyền lại tìm cách duy trì địa vị độc
quyền của mình bằng cách thôn tính hoặc tiêu diệt các đối thủ, không
chú trọng tới việc tăng năng suất, cải tiến kỹ thuật nữa... Những doanh
nghiệp độc quyền này lại là những lực cản cho môi trường cạnh tranh.
D(p)
AC
AC
*
(A) q
MES
q
* *
(B) q
q
Hình 1
Trong hình 1, đồ thị (A) mô tả ngành có qui mô tối thiểu có hiệu quả
(điểm thấp nhất trong đường cong chi phí trung bình AC, tức là điểm MES)
nhỏ so với nhu cầu (giao điểm của đường cong cầu D (p) và đường chi phí
8
trung bình AC), tức là điểm hoà vốn được ký hiệu là q* trong hình (A) và
q** trong hình (B) và do đó ngành này có cơ cấu cạnh tranh tiềm năng. Ở
đây cần lưu ý là, trong giai đoạn dài hạn chi phí cố định có thể thay đổi tuỳ
theo sự thay đổi của công nghệ, đặc biệt là phụ thuộc vào sự vận động của
một cơ cấu ngành mềm dẻo với khả năng nhập cuộc của các doanh nghiệp
mới và khả năng bỏ cuộc của các doanh nghiệp đã có mặt trên thị trường
được dễ dàng. Điều này có nghĩa là cơ cấu của ngành rất năng động, luôn có
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong Cartel và ngoài Cartel, đồng thời
các Cartel không có được một cơ cấu bền vững do khả năng bỏ cuộc chống
lại những tổ chức ngầm. Chính phủ phải chú trọng những biện pháp gián
tiếp, đặc biệt là những biện pháp mang tính cơ cấu.
1.1.3. Độc quyền do sự tồn tại của những vật cản đối với khả năng
nhập cuộc, bỏ cuộc của các doanh nghiệp và những biện pháp khắc phục
Trong thực tế, một số ngành có cơ cấu cạnh tranh tiềm năng, song trong
một giai đoạn nào đó lại ở trong tình trạnh độc quyền. Tuy lợi nhuận của các
doanh nghiệp độc quyền rất cao tạo sự nhòm ngó của các doanh nghiệp khác
song sự nhập cuộc của các doanh nghiệp mới lại không xảy ra. Nguyên nhân
chính là trong ngành này có những vật cản đối với khả năng nhập cuộc. Có
thể chia những vật cản ra làm hai loại: Vật cản tuyệt đối và vật cản tương
đối.
- Vật cản tuyệt đối.
Đây là những cản trở loại bỏ hoàn toàn sự nhập cuộc trong một giai
đoạn nào đó. Những vật cản này mang tính chất pháp lý, bằng các điều luật
chứ không phải tính chất kinh tế. Trong một giai đoạn nhất định, vì một lý do
nào đó mà Nhà nước muốn bảo vệ tính độc quyền của một ngành nào đó nếu
không cho phép bất cứ một sự nhập cuộc nào.
Một ví dụ phổ biến nhất trong thực tế là bảo vệ bản quyền đối với
những phát minh và sáng chế. Một bằng sáng chế cho phép người phát minh
độc quyền sử dụng và thu lợi từ sáng kiến đó trong một thời gian. Đặc quyền
đó một mặt khuyến khích đầu tư cho khoa học kỹ thuật, mặt khác lại gây ra
10
chi phí sản xuất của các doanh nghiệp độc quyền. Điều này rất có ý nghĩa đối
với Việt Nam là nơi thị trường vốn rất hạn chế.
Hai là: Một số lợi thế đặc biệt về chi phí của doanh nghiệp độc quyền.
Doanh nghiệp độc quyền có những lợi thế về vị trí, mạng lưới tiêu thụ,
mạng lưới cung cấp đầu vào, thông tin, kinh nghiệm chuyên gia và quan hệ
với khách hàng. Những lợi thế này dẫn đến việc các doanh nghiệp độc quyền
có lợi thế nhất định về chi phí so với các doanh nghiệp mới nhập cuộc.
Ba là: Sự trung thành của khách hàng quen.
Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, quan hệ lâu dài nhiều khi
quan trọng không kém gì so với giá trong quan hệ giữa người bán hàng và
người mua hàng. Quan hệ lâu năm giữa doanh nghiệp độc quyền với người
tiêu dùng, sự bảo thủ và không ưa mạo hiểm của khách hàng dẫn đến việc
các doanh nghiệp mới nhập cuộc phải chi phí cho quảng cáo, khuyến mại và
chất lượng cao hơn so với các doanh nghiệp độc quyền, ít nhất là trong
những giai đoạn đầu.
Tất cả 3 điểm trên tạo ra sự phi đối xứng về chi phí có lợi cho doanh
nghiệp độc quyền. Tuy nhiên, việc cơ cấu độc quyền trên thị trường có bền
vững hay không còn phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa doanh nghiệp
độc quyền và các doanh nghiệp nhập cuộc tiềm năng và cuộc tranh đấu thực
sự giữa các doanh nghiệp này.
1.2. Hình thái thị trƣờng độc quyền
Quá trình trong đó giá cả và sản phẩm được xác định trong thế giới thực
thường được phản ánh rõ ràng trong cơ cấu thị trường. Một thị trường bao
gồm tất cả những người mua, người bán hiện có và ở dạng tiềm năng của
một sản phẩm.
Thông thường cơ cấu thị trường được chia làm 3 dạng: cạnh tranh hoàn
hảo một thái cực, độc quyền thuần tuý ở một thái cực khác và độc quyền ở
12
dần từ trái sang phải tức là cạnh tranh hoàn hảo cho đến độc quyền nhóm và
cao nhất là độc quyền. Cụ thể là nếu chuyển dạng thị trường từ trái sang
phải, giá cả sẽ tăng lên còn lượng cung ứng sẽ giảm dần đi. Dạng thực tế phổ
biến nhất là độc quyền nhóm và trong nội bộ dạng này, tổn thất xã hội tỷ lệ
13
nghịch với cấp độ khốc liệt của cạnh tranh giữa các tập đoàn độc quyền mà
cấp độ này lại tỷ lệ nghịch với khả năng phối hợp chính sách giữa các tập
đoàn này (khả năng hình thành nên những Cartel công khai và ngầm). Như
vậy trừ một vài trường hợp đặc biệt, việc phối hợp chính sách giữa các công
ty thường làm tăng tổn thất xã hội. Bởi vậy những biện pháp chống độc
quyền trên thực chất là làm thay đổi cơ cấu thị trường theo chiều từ phải
sang trái (độc quyền độc quyền nhóm cạnh tranh hoàn hảo). Trên thực
tế, dạng thị trường cạnh tranh hoàn hảo rất hiếm có và thường là ở những
ngành nhỏ và không quan trọng. Bởi vậy, một khi đã chuyển được cơ cấu thị
trường từ độc quyền sang độc quyền nhóm thì bước tiếp theo của các biện
pháp chống độc quyền là làm tăng thêm tính khốc liệt của cạnh tranh trong
dạng này và đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng.
1.2.1. Thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo
Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì giá và lượng của một hàng hoá
trên thị trường hoàn toàn xác định bởi thế lực thị trường: cung và cầu về
hàng hoá đó và do vậy một hãng tham gia thị trường phải là người chấp nhận
giá (nó có thể bán bất kỳ số lượng nào theo giá thị trường).
- Ý nghĩa và tính chất quan trọng của thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Theo như định nghĩa ở trên thì cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị
trường, trong đó có rất nhiều người mua và người bán một sản phẩm, họ là
quá nhỏ so với qui mô thị trường do vậy không có khả năng để tác động tới
cung và cầu). Do vậy, một doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh là người chấp
nhận giá. Có nghĩa là hãng này chấp nhận giá thị trường của sản phẩm và
hoàn toàn không thể tác động tới giá thị trường bằng cách thay đổi sản lượng
sản xuất. Do sản phẩm của các hãng là đồng nhất, nên một hãng không thể
bán sản phẩm cao hơn giá của hãng khác, làm như vậy hãng sẽ mất hết khách
hàng. Mặt khác, một hãng cũng không có lý do gì để bán với giá thấp hơn
giá của hãng khác vì nếu làm như vậy về lâu dài, hãng này sẽ không có “lợi
nhuận kinh tế”.
15
Tuy nhiên, việc nghiên cứu hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo
chủ yếu có ý nghĩa về mặt lý thuyết khi chúng ta đặt vấn đề nghiên cứu các
loại hình thái thị trường một cách toàn diện.
Trên thực tế, cả thời kỳ sơ khai của sản xuất hàng hoá cũng không tồn
tại thị trường cạnh tranh hoàn hảo theo đúng ý nghĩa vốn có của nó. Chỉ có
một số loại hình thị trường có dáng dấp gần với mô hình thị trường cạnh
tranh hoàn hảo tồn tại ở một số ngành như sản xuất nông nghiệp phân tán
hoặc trong phạm vi một khu vực buôn bán nhỏ ở một số thành phố.
1.2.2. Thị trƣờng độc quyền
Độc quyền là một hình thái thị trường trong đó có một doanh nghiệp
duy nhất bán một sản phẩm mà không có một sản phẩm thay thế gần giống
với nó (được gọi là độc quyền bán), hoặc chỉ có một người mua (được gọi là
độc quyền mua). Do vậy độc quyền là thái cực trái ngược với cạnh tranh
hoàn hảo.
So sánh thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Khi một ngành công nghiệp mang tính cạnh tranh hoàn hảo ở trong
trạng thái cân bằng dài hạn thì mỗi doanh nghiệp sẽ sản xuất với chi phí bình
quân cho một đơn vị sản phẩm thấp nhất và cũng bán với giá cạnh tranh thấp
nhiều động cơ để cải tiến sản xuất và thực tế rất nhiều công nghệ mới đã
được áp dụng ở những doanh nghiệp rất nhỏ.
Chỉ khi chúng ta không xét tiến bộ công nghệ và giả định rằng công
nghệ được sử dụng để sản xuất sản phẩm cho phép rất nhiều doanh nghiệp
sản xuất có hiệu quả thì chúng ta mới có thể chứng minh được cạnh tranh
hoàn hảo là tốt hơn độc quyền theo giác độ toàn xã hội.
Tóm lại, chúng ta có thể chứng minh rằng cạnh tranh hoàn hảo sẽ dẫn
đến việc sử dụng có hiệu quả hơn của cải và nguồn lực xã hội so với độc
quyền chỉ khi công nghệ sản xuất sản phẩm cho phép nhiều doanh nghiệp
hoạt động có hiệu quả trên thị trường. Song thông thường do tính kinh tế của
qui mô sản xuất luôn đòi hỏi sản lượng sản xuất của một doanh nghiệp phải
17
lớn, và như vậy chỉ có một hay rất ít doanh nghiệp là có thể thoả mãn được
toàn bộ thị trường của một sản phẩm.
1.2.3. Thị trƣờng độc quyền nhóm
Độc quyền nhóm là một hình thái tổ chức thị trường trong đó có một số
người cạnh tranh với nhau trong việc bán một sản phẩm thuần nhất. Tuỳ theo
tham số hành động của các tập đoàn độc quyền là giá hay là lượng ta sẽ có
hai dạng cạnh tranh tương ứng giữa các tập đoàn độc quyền, cạnh tranh về
giá và cạnh tranh về lượng. Khác với thị trường độc quyền, nơi mà giá và sản
lượng độc quyền không phụ thuộc vào tham số hành động. Ở thị trường độc
quyền nhóm, giá bán và lượng cung ứng phụ thuộc đáng kể vào sự lựa chọn
này.
Cạnh tranh về lượng thường xảy ra khi việc điều chỉnh sản lượng có
khó khăn nhất định và tốn kém. Trong thực tế, cạnh tranh về lượng thường
được thực hiện khi các công ty đưa ra quyết định về công suất sản xuất ở giai
đoạn trước khi nhập cuộc hoặc điều chỉnh lại công suất đối với các công ty
có dây với điện thoại di động (các dịch vụ này có khả năng thay thế lẫn nhau
ở một mức độ nhất định) là một ví dụ khác của thị trường độc quyền nhóm
với sự phân liệt sản phẩm theo tính chất.
Thực tế cho thấy, các công ty đều có xu thế phân liệt sản phẩm (hoặc
theo không gian hoặc theo tính chất) một cách tối đa để giảm mức độ khốc
liệt của cạnh tranh. Mặt khác các công ty có xu hướng làm gia tăng thị phần
của mình thông qua đẩy mạnh quảng cáo, nâng cấp chất lượng dịch vụ...cách
này được gọi là cạnh tranh phi giá cả. Ví dụ, khi General Motors có một
chiến lược quảng cáo lớn, thì Ford và Chrysler sẽ nhanh chóng làm theo. Khi
hãng Pepsicola có một chiến dịch quảng cáo lớn trong những năm 80 thì
hãng Cocacola cũng đáp lại bằng một chiến dịch quảng cáo của riêng họ.
Hành vi của các bên tham gia thị trường. Do mục đích cơ bản của người
tiêu dùng là tối đa hoá lợi ích tiêu dùng, của người sản xuất là tối đa hoá lợi
nhuận. Vì vậy, tuỳ thuộc vào hình thái thị trường cụ thể mà họ có những
phương thức ứng xử khác nhau vì những mục đích trên. Song nhìn chung dù
19
ở bất kỳ hình thái thị trường nào, bất cứ ai khi tham gia thị trường đều rất
quan tâm đến hai loại tham số, tham số hành động và tham số chờ đợi.
. Tham số hành động là đại lượng kinh tế mà người kinh doanh dùng nó
để đạt mục đích của mình.
. Tham số chờ đợi là một biến số mà người kinh doanh không thể quyết
định được, trái lại nó được qui định do các nhà kinh doanh khác (hoặc người
mua) trên cơ sở đáp lại hoặc phản ứng lại tham số hành động của bên bán.
Ví dụ: Hai tham số giá cả và lượng cung ứng. Một doanh nghiệp sản
xuất độc quyền có thể lựa chọn một trong hai tham số trên là tham số hành
động. Giả định họ chọn giá cả làm tham số hành động của mình thì người
mua sẽ chiếm lấy tham số chờ đợi, tức là người mua sẽ qui định số lượng có
phẩm mới mà người sản xuất bí mật được giải pháp công nghệ của họ, thì họ
sẽ bán nó với giá cao hơn mức giá thu được lợi nhuận bình quân. Trái lại,
một sản phẩm mới nếu khó giữ được bí mật bí quyết kỹ thuật thì người sản
xuất sẽ đồng thời tăng khối lượng sản xuất lên rất lớn và giảm giá bán thấp
hơn mức giá thu được lợi nhuận bình quân để ngăn cản các đối thủ cạnh
tranh có thể xâm nhập vào thị trường.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm mà sự cạnh tranh về giá
mãnh liệt hơn hay chất lượng mãnh liệt hơn. Ví dụ: đối với nhiều loại hàng
tiêu dùng, hàng lương thực, thực phẩm, dịch vụ...thì sự thay đổi chất lượng
thực tế chỉ chú trọng vào những thay đổi “màu mè” cách trình bày, hương vị,
sự tiện nghi...ở đây sự cạnh tranh giá cả nguy hiểm hơn đối với nhà sản xuất
kinh doanh. Trái lại, những mặt hàng mốt, thời trang...thì cạnh tranh mốt thời
trang, dáng kiểu lại mãnh liệt hơn cạnh tranh giá cả.
1.2.4. Nhận dạng các hình thái thị trƣờng
Trước khi đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp kiểm soát giá hay
chống độc quyền trong một ngành nào đó, chúng ta phải nhận dạng chính
xác được hình thái cơ cấu thị trường trong ngành đó (tức là xác định được đó
là thị trường độc quyền, độc quyền nhóm hay cạnh tranh và cấp độ cạnh
tranh ở thị trường đó như thế nào). Nếu không các biện pháp mà Nhà nước
áp dụng có thể sẽ ít hiệu quả hoặc thậm chí gây ra những hậu quả tiêu cực.
21