Cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền (PAY TV) của đài truyền hình việt nam luận văn ths kinh - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

LÊ CHÍ CÔNG

CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN (PAY-TV)
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ:

60 34 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS NGUYỄN ĐĂNG NAM

HÀ NỘI – Năm 2006


MỤC LỤC

Trang
Mở đầu

6

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu


12
12

1.1.1. Cơ chế tài chính

12

1.1.2. Đổi mới cơ chế tài chính

14

1.2. Hoạt động kinh doanh truyền hình
1.2.1. Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn

14
14

1.2.1.1. Kỹ thuật truyền hình:

15

1.2.1.2. Phương thức truyền dẫn:

17

1.2.2.Các hình thức kinh doanh truyền hình

18

1.2.2.1. Quảng cáo trên truyền hình:

đa dạng

30

Chương 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CHO HOẠT
ĐỘNG TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN CỦA ĐÀI TRUYỀN
HÌNH VIỆT NAM

33

2.1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Đài Truyền
hình Việt Nam và cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình

33

2.1.1. Lịch sử ra đời; chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy
của Đài Truyền hình Việt Nam

33

2.1.1.1. Lịch sử ra đời:

33

2.1.1.2. Chức năng của Đài Truyền hình Việt Nam

34

2.1.1.3. Nhiệm vụ cơ bản của Đài Truyền hình Việt Nam:



2.2.2. Những ưu điểm và hạn chế của cơ chế tài chính hiện
3


hành đối với hoạt động truyền hình và truyền hình trả tiền của Đài
Truyền hình Việt Nam.

53

2.2.2.1. Ưu điểm:

53

2.2.2.2. Hạn chế.

57

Chƣơng 3. HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH CHO HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH PAY-TV CỦA ĐÀI THVN
3.1. Chiến lược phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam

64
64

3.1.1. Truyền hình Việt Nam trước thách thức của đời sống
và thời đại.

64



73

3.3.1. Các quan điểm chỉ đạo để xây dựng cơ chế tài chính
cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình
Việt Nam.

73

3.3.2. Xác định mô hình phát triển của Đài Truyền hình Việt
Nam trong tương lai và cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh
truyền hình trả tiền.

76

3.3.2.1. Mô hình phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam.

76

3.3.2.2. Cơ chế tài chính của Trung tâm Truyền hình Cáp
(VCTV).

83
4


3.3.3. Các điều kiện cần thiết để thực hiện cơ chế tài chính
cho hoạt động truyền hình trả tiền.

88

trở nên mật thiết, đồng thời sự cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, khoa học kỹ thuật, văn hoá và đặc biệt là thông tin ngày càng trở nên
gay gắt.
Thông tin ngày nay được xem như một nguồn lực quan trọng để phát
triển kinh tế- xã hội đất nước. Sự phát triển của thế giới trong những thập
niên gần đây cho thấy vai trò ngày càng tăng của thông tin trong quá trình
biến đổi khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Thành công hay thất
bại của một quốc gia tuỳ thuộc rất lớn vào khả năng chiếm được lợi thế
thông tin. Thiếu thông tin, các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa
học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả. Chính V.I Lênin đã từng
khẳng định "Không có thông tin thì không có thắng lợi trong bất cứ lĩnh
vực nào, cả khoa học, kỹ thuật và sản xuất".
Truyền hình là một trong những phương tiện thông tin đại chúng có
tác động mạnh mẽ và sâu rộng nhất, đang ngày càng trở thành nhu cầu thiết
yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý đất nước; là
phương tiện trong việc mở rộng sự giao lưu, hiểu biết giữa các quốc gia,
dân tộc; là nguồn cung cấp tri thức một cách tương đối toàn diện cho công
chúng. Truyền hình ngày nay đã trở thành một ngành sản xuất công nghiệp
với đầy đủ các ý nghĩa, tính chất toàn cầu mà truyền hình mang lại khiến
nó trở thành đối tượng nghiên cứu trong cả lĩnh vực lý thuyết lẫn ứng dụng,
lợi ích mà truyền hình mang lại, cũng như tác hại của nó gây ra cho xã hội.
6


Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm và chú ý đặc
biệt đến sự phát triển của ngành truyền hình. Nghị quyết Hội nghị BCHTW
Đảng lần thứ 5 (Khoá VIII) tháng 7/1998 về Xây dựng và phát triển văn
hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định: "Chăm lo đặc biệt về
định hướng chính trị tư tưởng văn hoá cũng như về kỹ thuật hiện đại đối
với truyền hình là loại báo chí có ưu thế lớn, có sức thu hút quần chúng

2. Tình hình nghiên cứu
Từ 1995 trở về trước, Đài Truyền hình Việt Nam hoạt động hoàn
toàn theo cơ chế bao cấp, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về cơ chế tài
chính và đổi mới phương thức hoạt động. Năm 1997, Đài Truyền hình Việt
Nam thực hiện và bảo vệ thành công đề tài cấp ngành về “Hệ thống định
mức đơn giá nhân công cho các chức danh truyền hình”. Mặc dù còn nhiều
hạn chế nhưng đề tài này đã giúp cho Đài có cơ sở để khoán sản phẩm
truyền hình và là tiền đề để đổi mới cơ chế tài chính sau này.
Đề tài Cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình trả tiền là đề tài
nghiên cứu đầu tiên về lĩnh vực này.
Được tham gia đề tài xây dựng định mức đơn giá nhân công cho các
chức danh truyền hình và tham gia từ những ngày đầu xây dựng cơ chế mới
áp dụng cho Đài Truyền hình Việt Nam, tác giả có điều kiện hệ thống toàn
bộ quá trình đổi mới cơ chế tài chính của Đài, và trên cơ sở phát triển đề tài
định mức nói trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu, phát hiện những bất cập làm
cản trở hoạt động của Đài, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế tài
chính cho hoạt động truyền hình nói chung và kinh doanh truyền hình trả
tiền nói riêng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề cơ bản về hoạt động truyền
hình và kinh doanh truyền hình trả tiền (PAY-TV) và cơ chế tài chính cho
hoạt động truyền hình và kinh doanh truyền hình trả tiền; những kinh
nghiệm quốc tế về cơ chế tài chính cho các hoạt động này.
- Đánh giá thực trạng cơ chế tài chính hiện hành đối với hoạt động
truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam nói chung, hoạt động kinh doanh

9



chung và truyền hình trả tiền nói riêng; so sánh những đặc thù của cơ chế
tài chính mà Đài Truyền hình Việt Nam đang áp dụng với khung khổ pháp
lý hiện hành, luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính
của hoạt động truyền hình, đồng thời xây dựng cơ chế tài chính áp dụng
cho hoạt động truyền hình trả tiền, giúp cho các đơn vị sự nghiệp đang kinh
doanh truyền hình trả tiền có được cơ chế tài chính phù hợp, đảm bảo
quyền tự chủ tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh
tranh trên thị trường kinh doanh truyền hình.
Tác giả hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn sẽ
là những đóng góp thiết thực, làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng đề án
về cơ chế tài chính áp dụng cho các đơn vị đang kinh doanh dịch vụ truyền
hình trả tiền trong hoạt động truyền hình ở Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính cho hoạt động
truyền hình
Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính cho hoạt động Truyền hình
trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh
truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam

11


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH
VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRUYỀN HÌNH
1.1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính
1.1.1. Cơ chế tài chính

kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối dưới hình thức giá trị các nguồn
lực tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các
mục tiêu nhất định của quá trình tái sản xuất xã hội.
Về cơ chế tài chính, theo từ điển thuật ngữ Tài chính – tín dụng thì
cơ chế tài chính được định nghĩa là “Hệ thống các hình thức, phương pháp,
biện pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực
tài chính trong nền kinh tế quốc dân”. Phù hợp với quan niệm trên, đối với
mỗi tổ chức hoặc chủ thể kinh tế, cơ chế tài chính được coi là hệ thống các
hình thức, phương pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng
các nguồn lực tài chính của tổ chức hoặc chủ thể kinh tế. Có nghĩa là mỗi
loại hình tổ chức đều tương ứng với một cơ chế tài chính nhất định được
điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật. Cơ chế tài chính của cơ quan
hành chính nhà nước khác cơ chế tài chính doanh nghiệp. Cơ chế tài chính
của doanh nghiệp nhà nước lại khác doanh nghiệp tư nhân. Ngay doanh
nghiệp nhà nước cũng có nhiều loại với những cơ chế tài chính khác nhau,
ví dụ cơ chế tài chính cho tổng công ty nhà nước khác với công ty, khác
với tập đoàn kinh tế v.v…
Khái niệm cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu xuất hiện
trong quá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng
điều hành các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các cơ chế
riêng, phù hợp, có hiệu quả. Và như vậy nó sẽ khác với cơ chế tài chính của
cho các cơ quan hành chính nhà nước mà trước đây các cơ quan hành chính
và cơ quan sự nghiệp thường được gộp làm một và gọi chung là các cơ
quan hành chính sự nghiệp.
13


1.1.2. Đổi mới cơ chế tài chính
Đổi mới cơ chế tài chính là hoạt động của chủ thể nhằm thay thế cơ
chế tài chính cũ (đổi mới hình thức, phương pháp tạo lập, phân phối và sử

định.
1.2.1.1. Kỹ thuật truyền hình:
Các chương trình mà khán giả cả nước có thể xem được hằng ngày
trên truyền hình là kết quả và sự kết hợp của hai khâu cơ bản nhất của
truyền hình là Sản xuất chương trình và Truyền dẫn phát sóng. Các chương
trình được các phóng viên thu thập, ghi hình tại hiện trường, hoặc trường
quay (giai đoạn tiền kỳ) sau đó được dựng hình, lồng tiếng, kỹ xảo (giai
đoạn hậu kỳ) tạo ra sản phẩm truyền hình và kết thúc khâu sản xuất ở trung
tâm kỹ thuật sản xuất chương trình. Các sản phẩm truyền hình được chuyển
thành tín hiệu truyền hình số (digital) hoặc tương tự (analog), phát sóng từ
máy phát mặt đất (truyền hình quảng bá), trực tiếp từ vệ tinh (DTH), hoặc
hệ thống cáp (truyền hình cáo) đến máy thu hình của người xem với phạm
vi, khoảng cách tùy thuộc vào hệ thống truyền dẫn phát sóng và kết thúc
khâu này khi máy thu hình nhận được tín hiệu truyền hình.
Ở khâu sản xuất chương trình, hiện nay hầu hết các nước trên thế
giới đang ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật số (digital). Các thiết bị sản xuất
chương trình kỹ thuật số có ưu điểm là thực hiện được nhiều kỹ xảo phức
tạp, tạo ra hình ảnh và âm thanh trung thực, sinh động lại gọn, nhẹ, dễ thao
tác, chi phí thấp và có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình sản
xuất. Việc thay thế và nâng tỷ trọng thiết bị kỹ thuật số trong dây chuyền
sản xuất đơn giản, không ảnh hưởng đến việc thu xem của người dân vì nó
chỉ xảy ra ở khâu sản xuất, trong phạm vi một đài truyền hình và có thể tiến
hành từng phần. Chính vì vậy, đến thời điểm này, Đài Truyền hình Việt
Nam đã thay thế gần hết các thiết bị trong dây chuyền sản xuất của mình
bằng các thiết bị sản xuất kỹ thuật số và có kế hoạch số hoá toàn bộ thiết bị
15


sản xuất trong vài năm tới. Trung tâm sản xuất mới của Đài Truyền hình
Việt Nam do Chính phủ Nhật Bản viện trợ trị giá hơn 300 triệu USD sẽ sử


1.2.1.2. Phương thức truyền dẫn:
Hiện tại, Đài Truyền hình Việt Nam đang sử dụng đồng thời 3
phương thức khác nhau trong khâu truyền dẫn phát sóng, tạo ra các loại
hình truyền hình (xét về phương diện truyền dẫn) khác nhau:
i) Truyền hình quảng bá: được hình thành bởi phương thức truyền
dẫn phổ biến nhất hiện nay là sử dụng máy phát sóng mặt đất hay còn gọi
là truyền hình mặt đất. Với truyền hình quảng bá, mỗi kênh truyền hình
phải có một hệ thống truyền dẫn phát sóng riêng, bao gồm hàng trăm trạm
phát mặt đất đặt trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Các máy thu hình chỉ cần
dùng anten thông thường là có thể xem được 3 kênh của Đài Truyền hình
Việt Nam (VTV1, VTV2, VTV3) và các kênh truyền hình địa phương
khác.
ii) Truyền hình cáp: sử dụng phương thức truyền dẫn bằng hệ thống
cáp từ trung tâm cung cấp tín hiệu đến từng máy thu hình. Trước khi có
truyền hình cáp, Đài Truyền hình Việt Nam sử dụng phương thức truyền
dẫn bằng thiết bị viba được gọi là truyền hình MMDS (Multi chanel Multi
points Distribution System- Hệ thống truyền hình nhiều kênh đến nhiều
điểm). Khi kết hợp 2 hình thức này thường gọi là truyền hình cáp và
MMDS. Phương thức truyền hình MMDS hiện nay đang được loại bỏ dần
vì tính lạc hậu của nó (đặc điểm truyền hình MMDS là từ điểm phát sóng
đến điểm thu phải không bị vật cản như nhà cao tầng, vật kiến trúc, cây
cối... che chắn).
iii) Truyền hình vệ tinh: sử dụng phương thức truyền dẫn tín hiệu
truyền hình trực tiếp từ vệ tinh đến từng máy thu hình còn được gọi là
truyền hình DTH (Direct To Home). Tín hiệu truyền hình từ trung tâm
được phát lên vệ tinh và phủ sóng toàn lãnh thổ và các nước lân cận. Ở mỗi
17



khác đang ngày càng phát triển mạnh là Dịch vụ truyền hình. Hình thức
kinh doanh này bao gồm: Kinh doanh bản quyền các chương trình truyền
hình; Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật truyền hình; Sản xuất các chương trình
truyền hình theo đơn đặt hàng; Sản xuất đồ lưu niệm mang thương hiệu và
các nhân vật truyền hình; Khai thác dịch vụ du lịch thông qua các cơ sở
truyền hình...
1.2.3. Kinh doanh truyền hình trả tiền trên thế giới và ở Việt Nam
Kinh doanh truyền hình trên thế giới mới phát triển trong khoảng
một thập kỷ trở lại đây và hiện đã trở thành một ngành kinh tế có nguồn thu
và tốc độ tăng trưởng lớn. Trong các hình thức kinh doanh truyền hình thì
truyền hình trả tiền, tuy mới xuất hiện, nhưng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
về doanh thu so với các hình thức kinh doanh khác. Có nhiều nguyên nhân
khiến cho truyền hình trả tiền có tốc độ tăng trưởng mạnh, ở nhiều nước
còn vượt cả doanh thu quảng cáo và trở thành nguồn thu chủ yếu của
truyền hình vì lợi thế của nó.
Thứ nhất, do phương thức truyền dẫn là sử dụng cáp, thu trực tiếp từ
vệ tinh hoặc kỹ thuật số, truyền hình trả tiền có thể phục vụ đến từng khách
hàng thuê bao với số kênh không hạn chế và có thể cung cấp chương trình
theo yêu cầu. Truyền hình trả tiền còn có nhiều nguồn thu khác từ các dịch
vụ gia tăng như điện thoại, internet băng thông rộng (ADSL), TVshopping, truy vấn thông tin... Khi mức sống người dân được nâng lên thì
nhu cầu hưởng thụ văn hoá thông tin càng cao và việc sử dụng các dịch vụ
đa phương tiện sẽ trở thành trào lưu trong xã hội.
Thứ hai, khả năng thu quảng cáo trên truyền hình quảng bá ngày
càng hạn chế và bão hoà, trong khi thị trường quảng cáo ngày càng cạnh
19


tranh khốc liệt với sự xuất hiện của nhiều hình thức quảng cáo mới như
ITV (truyền hình internet), hệ thống bán hàng đa cấp... làm cho các nhà đầu
tư trong lĩnh vực truyền thông ngày càng chú ý hơn đến lĩnh vực truyền

được truyền qua vệ tinh với 60 triệu thuê bao, hơn 60% hộ gia đình ở Mỹ
sử dụng truyền hình trả tiền. Sự phát triển quá nhanh chóng này làm nhiều
chính trị gia ở Mỹ lo ngại sẽ dẫn đến sự độc quyền truyền hình. Truyền
hình quảng bá cũng bắt đầu lên tiếng lại, bảo vệ cho lợi ích của những
người dân ở những vùng núi, vùng xa mà theo họ là không thể chịu được
chi phí của truyền hình trả tiền.
Đến năm 1999, 85% hộ gia đình ở Mỹ sử dụng truyền hình trả tiền
(bao gồm cả truyền hình Cáp và truyền hình vệ tinh). Truyền hình Cáp lúc
này có khả năng truyền phát hơn 120 kênh cùng lúc, truyền hình kỹ thuật
số cũng bắt đầu được thực hiện. Trong những năm đầu của thế kỷ 21,
truyền hình trả tiền ở Mỹ tiếp tục phát triển vững chắc, thể hiện qua số
lượng thuê bao tăng đều đặn, nội dung chương trình phong phú và các dịch
vụ viễn thông như Internet, điện thoại qua đường Cáp cũng trở nên quen
thuộc với người xem truyền hình. Nói chung, truyền hình trả tiền ở Mỹ
luôn luôn dẫn đầu cả về công nghệ và nội dung chương trình.
- Kinh doanh Truyền hình trả tiền tại châu Âu (Anh, Pháp, Đức)
Truyền hình Cáp và DTH ở Anh rất gắn bó với nhau. Truyền hình vệ
tinh hiện đang chiếm ưu thế hơn, nhưng tương lai của truyền hình Cáp
cũng rất hứa hẹn vì tính đa dịch vụ của nó. Vì vậy ở Anh, các hãng truyền
hình trả tiền được ví như một hiệu sách, bán cả sách (các chương trình
truyền hình) và những sản phẩm tương tự như báo, tạp chí (các dịch vụ
viễn thông khác); được phép bán, nhưng lại không chịu trách nhiệm sản
xuất nội dung chương trình. Truyền hình Cáp bắt đầu có mặt ở Anh từ
những năm 50, đầu tiên là để phục vụ nhu cầu xem truyền hình ở những
nơi khó bắt được tín hiệu phát sóng bằng anten. Đến năm 1966, những dịch
vụ trả tiền đầu tiên mới được thử nghiệm ở London, dịch vụ này còn khá xa
21


lạ với người dân. Từ năm 1970, truyền hình Cáp bắt đầu phát triển cùng với

Trung Quốc phóng thêm năm vệ tinh, đáp ứng yêu cầu phát sóng từ Bắc
Kinh đến các tỉnh thành. Bắt đầu từ thập kỷ 90, ngành Truyền hình và đặc
biệt là Truyền hình trả tiền ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, gắn liền với
những nỗ lực cải cách và mở cửa của đất nước.
Đầu năm 1990, chế độ làm việc 5 ngày/1 tuần được áp dụng thay thế
cho 6 ngày/1 tuần dẫn đến thời gian nghỉ ngơi giải trí của người dân được
tăng lên gấp đôi. Chế dộ này đã đem lại những thách thức và cơ hội mới
cho truyền hình. Người dân muốn được xem nhiều chương trình truyền
hình hơn, với nội dung và chất lượng tốt hơn.
Năm 1990, có khoảng hơn 100 trung tâm Cáp ở Trung Quốc, nhưng
chủ yếu là thử nghiệm và số người người sử dụng rất ít. Đầu năm 1991,
Chính phủ Trung Quốc thừa nhận “Truyền hình Cáp là một bộ phận quan
trọng của ngành Truyền hình Trung Quốc, cần được quan tâm phát triển
ngang bằng với truyền hình quảng bá” (Theo Niên giám phát thanh truyền
hình Trung Quốc-1992, 1993). Ngay sau đó, tháng 3/1991, Trung tâm
Truyền hình Cáp quốc gia đầu tiên- Đài Truyền hình Cáp Bắc Kinh, được
thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động, hỗ trợ cho truyền hình quảng bá để
phục vụ nhân dân.
Các kênh truyền hình giải trí trên thế giới như HBO, ESPN, MTV
(Mỹ) hoặc NHK (Nhật)… đều nhận thấy Trung Quốc là một thị trường tiêu
thụ đầy tiềm năng, tuy nhiên, những dịch vụ truyền hình của nước ngoài
này đều chưa được Chính phủ Trung Quốc chấp nhận, vẫn chỉ có những đài
Truyền hình của Trung Quốc mới được phép phát sóng và cung cấp các
dịch vụ truyền hình. Nhưng chính những người dân Trung Quốc lại tìm
cách tiếp cận những kênh truyền hình nước ngoài này mà không cần sự
đồng ý của Chính phủ. Đầu năm 1991, ở Trung Quốc có khoảng 25.000
chảo thu tín hiệu vệ tinh, chủ yếu được dùng để phục vụ cho công tác giáo
dục, quốc phòng và khoa học. Sau đó, chính phủ Trung Quốc cho phép
người dân ở những vùng sâu, vùng núi xa được phép mua chảo vệ tinh để
có thể bắt sóng và xem những kênh truyền hình Quốc gia. Trung Quốc

Đến năm 1999, truyền hình Cáp Trung Quốc đã có 85 triệu thuê bao,
năm 2003, con số này lên tới gần 100 triệu. Hãng Truyền hình Cáp lớn nhất

24


Trung Quốc là Hãng Truyền hình Cáp Thượng Hải, đây cũng là một hãng
đi đầu về công nghệ.
Trung Quốc cũng nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất
lượng chương trình sản xuất trong nước để đẩy mạnh xuất khẩu chương
trình truyền hình ra nước ngoài. Bước vào thế kỷ 21, Trung Quốc trở thành
nhà xuất khẩu truyền hình chủ yếu ở Hồng Kông, Đài Loan, Singapore,
Thái Lan và Việt Nam. Tuy vẫn còn hạn chế ở các phần còn lại của thế giới
vì sự khác biệt về văn hoá, Trung Quốc cũng đang hướng tới các thị trường
Châu Âu và Mỹ.
Trong năm 2005, Trung Quốc cho phép mở cửa hơn nữa thị trường
viễn thông, đưa ra các điều kiện thông thoáng hơn đối với các chương trình
nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài. Những công ty nước ngoài như Walst
Disney, HBO, và MTV có thể cung cấp miễn phí một số chương trình cho
các hãng truyền hình Trung Quốc để đổi lại quyền được phát một vài phút
quảng cáo. Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích sự trợ giúp của các
nhà sản xuất nước ngoài để sản xuất các chương trình hấp dẫn hơn, hướng
tới Olympic Bắc Kinh 2008 tất cả các thành phố trên cả nước sẽ chuyển
sang sử dụng cáp kỹ thuật số.
- Kinh doanh Truyền hình trả tiền tại Việt Nam
Hiện nay cả nước có 20 đơn vị trên 25 tỉnh, thành phố đang hoạt
động trong lĩnh vực truyền hình trả tiền với tổng số trên 600.000 thuê bao
truyền hình cáp. Nếu so với hơn 70.000 thuê bao vào cuối tháng 9/2003
(chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) thì chỉ trong vòng 3 năm số
lượng thuê bao truyền hình cáp đã tăng gấp hơn 8 lần. So với nhiều ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status