nghiên cứu - trao đổi
Bàn thêm về xử lí
vi phạm hành chính
PTS. Trần Minh Hơng *
X
ử lí vi phạm hành chính là hoạt động
phức tạp, có sự tham gia của nhiều
cơ quan, tổ chức với phạm vi quyền
hạn, nhiệm vụ khác nhau. Mặt khác, xử lí
vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng
các biện pháp cỡng chế nhà nớc đối với
tổ chức, cá nhân nên đòi hỏi tiến hành rất
thận trọng, tuân thủ triệt để các quy định
pháp luật cả về nội dung lẫn thủ tục. Qua
nghiên cứu pháp luật về xử lí vi phạm
hành chính và khảo sát thực tiễn xử lí vi
phạm hành chính, chúng tôi thấy có nhiều
vấn đề cần bàn thêm cả từ góc độ lí luận
lẫn thực tiễn và sau đây là một số vấn đề
đó:
1. Thiệt hại có phải là dấu hiệu bắt
buộc phải có trong xử lí vi phạm hành
chính hay không ?
Nói đến thiệt hại với tính chất là hậu
quả của vi phạm hành chính, chúng ta
phải xem xét từ hai góc độ: Góc độ pháp
lí và góc độ x hội.
Xét từ góc độ pháp lí thì vi phạm hành
phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp
luật lao động) hoặc hành vi tự ý đào bới
hoặc làm bất cứ việc gì khác gây h hại
đê, đập, kè, cống, hầm, đờng sắt hoặc
công trình công cộng khác (mục a, khoản
1, Điều 17 Nghị định số 49/CP ngày
15/8/1996 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,
trật tự...).
Xét từ góc độ x hội, bất kì hành vi vi
phạm pháp luật nào, trong đó có các vi
phạm hành chính, đều gây ra thiệt hại bởi
vì nó ảnh hởng xấu đến x hội, xâm
phạm những quan hệ x hội đợc pháp
luật bảo vệ và gây nên trạng thái tâm lí
không giống nhau trong những con ngời
cụ thể (lo lắng, hoài nghi, thúc đẩy họ
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật...).
Tóm lại, xét từ góc độ pháp lí thì phần
lớn vi phạm hành chính không gây ra
thiệt hại mà chứa đựng khả năng gây thiệt
hại. Còn xét từ góc độ x hội thì mọi vi
phạm hành chính đều là hành vi gây thiệt
hại cho x hội.
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
so với xác định lỗi của cá nhân. Vấn đề
này ít đợc các nhà chuyên môn quan
tâm nghiên cứu. Một số tác giả cho rằng
lỗi của tổ chức thể hiện trong lỗi của các
thành viên của tổ chức đó trong khi thực
hiện nhiệm vụ đợc tổ chức giao. Nhìn
chung, những ngời đa ra quan điểm
này có lí vì bất kì hoạt động nào của một
tổ chức, dù hợp pháp hay không hợp
pháp, đều đợc thể hiện thông qua hành
vi của những ngời là thành viên của tổ
chức đó.
Việc xác định hình thức lỗi của tổ
chức trong thực hiện vi phạm hành chính
cũng không phải là nhiệm vụ dễ dàng bởi
vì không phải lúc nào nó cũng thể hiện rõ
là lỗi cố ý hay vô ý. Đối với hành vi trái
pháp luật nào đó của một tổ chức, ví dụ,
ban hành quyết định trái pháp luật, thái
độ tâm lí của các thành viên không giống
nhau (có ngời đồng ý, có ngời không).
Tuy nhiên, trong trờng hợp này, việc xác
định lỗi của tổ chức thông qua lỗi của
từng ngời còn có thể tiến hành đợc vì
mỗi ngời đ thể hiện quan điểm của
mình trong việc bàn bạc và biểu quyết.
Thực tế cho thấy có những trờng hợp lỗi
của từng con ngời cụ thể bị loại trừ hoặc
không thể chứng minh đợc.
mình gây ra; tổ chức bị xử phạt phải chấp
Tạp chí luật học - 17
nghiên cứu - trao đổi
hành quyết định xử phạt đồng thời tiến
hành xác định lỗi của ngời thuộc tổ chức
mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính
trong khi thi hành công vụ đợc giao để
truy cứu trách nhiệm kỉ luật và để quyết
định mức bồi thờng thiệt hại theo quy
định của pháp luật. Nh vậy, cơ quan hay
ngời có thẩm quyền xử lí vi phạm hành
chính chỉ cần quan tâm đến vấn đề xử lí
tổ chức vi phạm, còn việc quy trách
nhiệm cụ thể (trách nhiệm kỉ luật và trách
nhiệm bồi thờng thiệt hại) cho các thành
viên của tổ chức là nhiệm vụ của tổ chức
bị xử phạt.
3. Về thẩm quyền xử lí vi phạm
hành chính của ủy ban nhân dân các
cấp
Tuy không phổ biến nhng hiện cũng
còn những ý kiến khác nhau về thẩm
quyền xử lí phạm vi hành chính của ủy
ban nhân dân các cấp. Một trong những
điểm gây nhiều tranh luận là thẩm quyền
xử lí vi phạm hành chính thuộc về ủy ban
nhân dân hay chủ tịch ủy ban nhân dân?
trình hội đồng nhân dân;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết
của hội đồng nhân dân về kinh tế - x hội,
thông qua báo cáo của ủy ban nhân dân
trớc hội đồng nhân dân;
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải
thể các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban
nhân dân và việc phân vạch, điều chỉnh
địa giới đơn vị hành chính ở địa phơng
(Điều 49 Luật tổ chức hội đồng nhân dân
và ủy ban nhân dân).
Từ đó, ta thấy việc xử lí vi phạm hành
chính không phải là vấn đề mà ủy ban
nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết
định theo đa số. Do đó, có thể kết luận
rằng việc xử lí vi phạm hành chính thuộc
thẩm quyền của ủy ban nhân dân nhng
do chủ tịch ủy ban nhân dân trực tiếp tiến
hành.
4. Vấn đề thu tiền phạt và trích
thởng trong xử lí vi phạm hành chính
Hiện nay, đối với những trờng hợp
phạt tiền, Nhà nớc ta không áp dụng
phơng thức thu tiền phạt tại chỗ. Tiền
phạt đợc tổ chức thu thông qua các điểm
thu tiền phạt do kho bạc nhà nớc đảm
nhiệm. Quy định này đảm bảo cho tiền
thu đợc từ xử phạt vi phạm hành chính
đợc đa vào ngân sách nhà nớc đồng
thời hạn chế khả năng vi phạm pháp luật
hợp giấy tờ của ngời bị xử phạt bị thất
lạc...
Thực tiễn đó đòi hỏi phải tìm ra
phơng thức thu tiền phạt để một mặt tạo
điều kiện thuận lợi cho ngời bị xử phạt
thi hành quyết định phạt tiền, mặt khác,
tạo điều kiện cho cơ quan và ngời có
thẩm quyền xử phạt hoàn thành tốt nhiệm
vụ đợc giao. Nên chăng áp dụng phơng
thức kết hợp giữa thu tiền phạt tại chỗ và
thu tại kho bạc hoặc một cơ quan nào đó
của Nhà nớc. Chẳng hạn, nếu số tiền
phạt không lớn thì có thể ngời ra quyết
định xử phạt trực tiếp thu...
Một vấn đề cũng thờng gặp trong
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là
không phải lúc nào ngời bị xử phạt cũng
có tiền nộp phạt ngay, nhất là những
trờng hợp số tiền phạt tơng đối lớn và
đối tợng bị xử phạt gặp khó khăn về
kinh tế. Chính vì vậy, cần bổ sung quy
định về tạm ho n thi hành quyết định
phạt tiền đối với cá nhân bị xử phạt vi
phạm hành chính với mức phạt tiền tơng
đối lớn (ví dụ, từ 500.000 đồng trở lên)
trong trờng hợp gia đình đang gặp khó
khăn đặc biệt về kinh tế, có đơn đề nghị
và đợc ủy ban nhân dân cấp x hoặc cơ
quan xác nhận. Đồng thời cũng cần quy
hỏi cơ quan nhà nớc có thẩm quyền có
biện pháp kiên quyết và hữu hiệu để khắc
phục tình trạng văn bản của cơ quan cấp
dới đặt ra những quy định trái với quy
định trong văn bản của cơ quan cấp trên
về cùng một vấn đề mà không bị xử lí./.
Tạp chí luật học - 19