Sử dụng hợp lý tài nguyên nước - Pdf 33

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sử dụng hợp lý tài nguyên
I. KHÁI QUÁT
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên
trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho
hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Nước chiếm 99%
trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con
người. Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1
tấn chất bột cần 1.000 tấn nước.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang
năng lượng (hải triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu,
thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói sự sống của
con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước.
Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km
3
, tập
trung trong thuỷ quyển 97,2% (1,35 tỷ km
3
), còn lại trong khí quyển và thạch
quyển. 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai
cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ. Lượng nước trong khí quyển
khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng
nước trên trái đất. Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát từ nước mưa
(lượng mưa trên trái đất 105.000km
3
/năm. Lượng nước con người sử dụng trong
một năm khoảng 35.000 km
3
, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và
63% cho hoạt động nông nghiệp).
Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú. Việt Nam là

II. NỘI DUNG
1. Tài nguyên nước ở Việt Nam
1.1. Tài nguyên nước mặt
Về nước mặt, trung bình hàng năm lãnh thổ Việt Nam nhận được 1.944mm
nước mưa, trong đó bốc hơi trở lại không trung 1.000mm, còn lại 941mm hình
thành một lượng nước mặt khoảng 310 tỷ m
3
. Tính bình quân, mỗi người dân Việt,
có thể hứng được một lượng nước bằng 3.870 m
3
mỗi năm; hoặc 10,6 m3 tức
10.600 lít nước mỗi ngày. Trong lúc tại các nước công nghiệp phát triển nhất, tổng
nhu cầu về nước trong một ngày bình quân theo đầu người, bao gồm cả nước sinh
hoạt, nước cung cấp cho nông nghiệp và công nghiệp cũng chỉ vào khoảng 7.400
lít/người.ngày; bao gồm 340 lít cho sinh hoạt, 2.540 lít cho nông nghiệp và 4.520
lít cho công nghiệp. Ở nước ta, tại các đô thị lớn, lượng nước sinh hoạt cấp cho mỗi
người/ngày hiện nay chỉ mới vào khoảng 100 - 150 lít. Mục tiêu của Chính phủ
Việt Nam là cung cấp cho nhân dân nông thôn khoảng 70 lít/người.ngày vào năm
2010 và 140 lít/người.ngày vào năm 2020. Ở một số vùng đặc biệt khan hiếm nước
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vào mùa khô, như vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng, mục tiêu phấn đấu hiện nay
là cung cấp cho mỗi người, mỗi ngày 15 lít nước. Chỉ riêng nguồn nước ngọt từ
mưa tiềm năng đã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước.
Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, Việt Nam
hiện còn có nguồn nước rất lớn do các con sông
xuyên biên giới đem từ lãnh thổ các nước ngoài
vào như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Mê
Công. Lượng nước này ước tính bằng 520 tỷ m
3

các sông Việt Nam thành ba nhóm: nhóm thượng nguồn ở nước ngoài, hạ nguồn ở
Việt Nam như sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Đồng Nai; nhóm thượng nguồn
ở Việt Nam, hạ nguồn ở ngoài nước như sông Kỳ Cùng, sông Bằng Giang; nhóm
có một số sông nhánh thượng nguồn ở Việt Nam, trung nguồn ở nước ngoài và hạ
nguồn sông chính ở Việt Nam như sông Mê Công.
Nước ta có nhiều hồ tự nhiên như hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, với diện tích khoảng
5km
2
; Hồ Tây ở Hà Nội, 4,5km
2
; Biển Hồ ở Gia Lai, 8km
2
; hồ Lắk ở Đắk Lắk,
10km
2
. Về hồ nhân tạo, có 750 hồ lớn và trung bình và hàng nghìn hồ nhỏ. Trong
đó có 7 hồ với dung tích trên 500 triệu m
3
: Hòa Bình, 5.680 triệu m
3
; Trị An, 2.547
triệu m
3
; Thác Bà, 2160 triệu m
3
; Thác Mơ, 1311 triệu m
3
; Dầu Tiếng, 1.111 triệu
m
3

2
; Trà Ổ (Bình
Định), 14,4km
2
; Đầm Nại (Ninh Thuận), 12,0km
2
.
1.2. Tài nguyên nước ngầm
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Về nước ngầm, tiềm năng của nước ta cũng tương đối lớn. Tổng trữ lượng có
tiềm năng khai thác được trên cả nước của các tầng trữ nước trên toàn lãnh thổ,
chưa kể phần hải đảo, ước tính gần 2000m
3
/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m
3
/năm. Trữ
lượng này thay đổi nhiều theo các vùng: dồi dào nhất ở Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ; khá nhiều ở Tây Nguyên và ít hơn tại
các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và duyên hải Bắc và Nam Trung Bộ.
Trữ lượng ở giai đoạn tìm kiếm và thăm dò sơ bộ mới đạt khoảng 8 tỷ
m
3
/năm, tức khoảng 13% tổng trữ lượng. Theo kết quả điều tra, khảo sát và nghiên
cứu đã có đến năm 1999 thì trữ lượng nước ngầm thuộc loại có thể khai thác ngay
với độ tin cậy cao (cấp A) vào khoảng 736.205m
3
/ngày; thuộc loại có thể khai thác
với độ tin cậy khá (cấp B) vào khoảng 939.625m
3

.
Trị số trung bình tương ứng của nước ta là 11.189m
3
, gấp 1,7 lần trung bình của thế
giới. Tuy nhiên với lượng nước này nước ta cũng chỉ thuộc vào loại tương đối
phong phú về tài nguyên nước ngọt trên đầu người. Các nước nhiều nước như Lào
có tới 68.318m
3
/người; Campuchia, 30.561m
3
/người; Mianma 21.358m
3
/người.
Các quốc gia ít nước như Trung Quốc chỉ có 2.185m
3
/người, Hàn Quốc,
1.471m
3
/người. Nhiều nước nghèo tài nguyên nước chỉ có khoảng 500m
3
, thậm chí
50m
3
/người.năm.
Cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới, ở nước ta tài nguyên nước không
chỉ có giá trị về cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn là nguồn năng
lượng sạch, nguồn vật liệu của rất nhiều ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, cơ sở
thiên nhiên của các ngành thủy sản, giao thông, du lịch, giải trí, điều dưỡng, là
nhân tố quan trọng của sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái, quyết định chất
lượng của cuộc sống vật chất và tinh thần của con người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status