Kết quả thực hiện đề tài “rà soát, xây dựng bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật
trồng rừng"
Lại Thanh Hải, Phạm Đình Sâm, Nguyễn Tiến Linh
Trung tâmứng dụng KHKT Lâm nghiệp
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Định mức kinh tế kỹ thuật là nhân tố đánh giá chính xác nhất sự phát triển của quá
trình sản xuất, là đòn bẩy thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời thông qua định
mức KTKT người quản lý sản xuất có biện pháp quản lý hiệu quả hơn nhằm nâng
cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
Năm 1988 Bộ Lâm nghiệp (Nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) ban hành tập định
mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng 532/VKT. Năm 1991 trên cơ sở tập định mức 532
sửa đổi Bộ Lâm nghiệp ban hành tập mức kinh tế kỹ thuật xây dựng rừng phòng
hộ đầu nguồn áp dụng thống nhất trong toàn quốc. Hai tập định mức kinh tế kỹ
thuật này đã phát huy được tác dụng rõ rệt, đóng góp vai trò to lớn trong sản xuất
lâm nghiệp. Tuy nhiên, thời gian qua đã có nhiều thay đổi về cơ chế chính sách
như tiền lương, ngày công lao động, khoa học kỹ thuật…v.v.. nhưng hai tập định
mức này vẫn là hai văn bản tạm thời, là văn bản pháp lý duy nhất áp dụng trong
ngành lâm nghiệp, nên phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của
công tác xây dựng và phát triển rừng.
Để khắc phục tồn tại trên năm 2003 Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt đề tài:
"Điều tra, đánh giá và xây dựng bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng,
khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh và bảo vệ rừng". Đề tài do Trung tâm ứng dụng
KHKT Lâm nghiệp chủ trì với sự tham gia của Phòng Lâm sinh Cục Lâm nghiệp,
Phòng nghiên cứu Kinh tế và Phòng Cơ giới hoá Lâm nghiệp thuộc Viện KHLN
Việt Nam cùng với nhiều địa phương trong cả nước.
1. Các nghiên cứu về định mức phục vụ công tác trồng rừng trong và ngoài
ngành lâm nghiệp từ trước tới nay
1.1 Tình hình nghiên cứu ĐMKTKT của ngành Lâm nghiệp:
Trong thời gian qua ngoài hai tập định mức 532/VKT và 426/KLND là hai tập
ĐMKTKT của ngành đã ban hành tại các tỉnh thành có diện tích trồng rừng hàng
năm lớn trong cả nước (45 tỉnh), tại một số ngành, tổ chức có trồng rừng như
Quân đội, Trung ương đoàn và một số dự án đầu tư nước ngoài như KFW, WB,
JIBIC … thì hầu hết các địa phương, các dự án và đơn vị vẫn sử dụng đồng thời cả
hai tập định mức 532/VKT, 426/KLND. Ngoài ra có một số nơi sử dụng cả định
mức 25/UBKH của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, đặc biệt có tỉnh vẫn sử dụng định
mức 26/KLQĐ ngày 13/01/1981(Bình Định).Đây là cơ sở để các địa phương lập
và thẩm định các dự án, dự toán trồng và chăm sóc rừng, là cơ sở để tiến hành
thanh quyết toán hàng năm.
Như vậy hiện nay các tập định mức này vẫn phát huy được tác dụng và có 40/45
tỉnh điều tra đang sử dụng phục vụ cho công tác lập kế hoạch và thanh quyết toán.
3.1.2 Tình hình bổ sung, ban hành các ĐM KTKT của các địa phương
Thời gian qua, hai tập định mức kinh tế kỹ thuật đã đóng góp vai trò quan trọng
giúp các địa phương xây dựng kế hoạch, lập các dự án đầu tư và là căn cứ pháp lý
quan trọng để thanh quyết toán cho công tác trồng rừng. Tuy nhiên, các tập định
mức này đã ban hành quá lâu mà chưa có bổ sung sửa đổi, có những bảng mức, ô
mức không còn phù hợp và nhiều bảng mức chưa có ... do vậy một số địa phương
đã chủ động bổ sung, sửa đổi hoặc đã ban hành định mức mới áp dụng trong tỉnh,
trong phạm vi dự án. Chúng tôi có một số nhận xét như sau:
· Có 15 tỉnh điều tra ban hành định mức riêng áp dụng trong phạm vi tỉnh như: :
Thanh Hoá, Lai Châu, Tây Ninh, Khánh Hoà, Thái Nguyên, Bình Phước, Nghệ
An, Hà Giang, Tuyên Quang, Kon Tum, Gia Lai …
Việc ban hành định mức của các địa phương có những tồn tại như sau:
- Định mức của các địa phương, các dự án ban hành là không thống nhất, chưa
bám sát theo các văn bản của Nhà nước: 15 tỉnh điều tra có ban hành những định
mức riêng tuy nhiên những định mức này mỗi tỉnh một khác (không được xây
dựng theo qui trình kỹ thuật nào) chủ yếu phục vụ cho công tác thanh quyết toán
hàng năm, có thể xem biểu tổng hợp sau:
1.050
2,1 kg
1.050
Phân Vô cơ
kg
4,96
45
4,96
Phân hữu cơ
kg
40
30
40
Đất mùn
M3
Công
2
9,8
13,6
1,1
tra…)
Biểu 1 cho thấy việc áp dụng định mức và qui trình kỹ thuật của các địa phương là
không thống nhất cho cùng một loài cây. Ví dụ để sản xuất 1.000 cây muồng đen
thì Thanh hoá qui định 12 công, Vũng tàu 9,8 công đặc biệt Lai châu 14,7 công
(có 1,1 công kiểm tra). Các đơn vị tính mức cũng khác nhau ví dụ thuốc bảo vệ
thực vật (thuốc FASTAC) Vũng tàu tính 1,5 kg, Lai châu và Thanh hoá tính 20 ml
· Ngay trong một địa phương thì ĐMKTKT cũng có tồn tại. Định mức ban hành
quá chung chung không đề cập đến các điều kiện tự nhiên như cự ly đi làm, cấp
đất, cấp thực bì … Ví dụ định mức 701 QĐ-NN ngày 20/7/1998 của Thái Nguyên
áp dụng tạm thời cho một số cây trồng thì có định mức khác nhau giữa trồng rừng
sản xuất và trồng rừng phòng hộ (chênh lệch 39,5 công) trong khi các điều kiện
thiết kế kỹ thuật tương đối giống nhau,v.v
· Cả 45 tỉnh điều tra đều có ban hành đơn giá sản xuất cây con hàng năm nhưng
những đơn giá này chỉ có tác dụng cho việc thanh quyết toán chứ không có tác
dụng trong việc tổ chức điều hành sản xuất.
· Đơn giá trồng rừng, đơn giá nhân công trồng rừng, đơn giá các bước công việc
II Nhân công
III Chi khác
600.200
545.000
1.177.640
1.870.000
22.160
85.000
1 Hợp đồng giao khoán
2 Kiểm tra nghiệm thu
10.000
20.000
3 Thiết kế dự toán
4 Thẩm định, phê duyệt
10.000
5 Nghiệm thu
13.000
5.000
· Ngay việc tính toán chi phí thiết kế Trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và
bảo vệ rừng tại mỗi nơi mỗi khác. Hầu hết các địa phương dựa theo qui định của
ngành về thiết kế rừng trồng 661 là 60.000 đồng/ha nhưng một số tỉnh lại qui định
là 78.000 đồng/ha (như Thái Nguyên) hoặc hơn 200.000 đồng/ha (như Thanh
Hoá); đặc biệt Bắc Giang và Hà Tây lại chỉ có 40.000 đồng/ha
Theo chúng tôi những bất cập trên đây có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là
chưa có một ĐMKTKT phù hợp trên diện rộng và kèm theo đó là những hướng
dẫn thực hiện chi tiết. Ví dụ Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho trồng rừng phòng hộ thì
tiền hỗ trợ này lại gọi là suất đầu tư trồng rừng hay tại hướng dẫn 279/BNN PTLN thì hướng dẫn suất đầu tư trồng rừng phòng hộ là 4 triệu và trồng rừng sản
xuất là không quá 10 triệu đồng/ha. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng, hiệu quả trồng rừng, gây khó khăn trong việc quản lý chỉ đạo chung của
ngành.
3.2Kết quả xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật.
3.2.1. Sắp xếp lại kết cấu tập ĐMKTKT.
Hai tập định mức 532/VKT và 426/KLND không sắp xếp theo tuần tự các bước
công việc của quá trình sản xuất, ví dụ: trong trồng rừng thì khâu vườn ươm rồi
mới đến trồng rừng, chăm sóc rừng và bảo vệ, đặc biệt trong tập định mức
532/VKT còn không có phần hướng dẫn sử dụng vì thế việc tra và tính mức gặp
nhiều khó khăn đồng thời việc kiểm tra tính toán khi phê duyệt dự toán của các cơ
quan quản lý cấp trên cũng khó. Để khắc phục nhược điểm này và tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho những người sử dụng tập định mức lần này về kết cấu chúng tôi
công việc, đề tài đã tiến hành soát xét, sửa đổi ĐMKTKT chi tiết đối với từng
hạng mục công trình lâm sinh, đây là các bảng mức đã có trong các tập định mức
532/VKT, 426/KLND. Tuy nhiên, do những điều kiện nhất định mà hiện tại các
bảng mức này đã lạc hậu, hoặc một vài ô mức trong bảng mức còn thiếu không
phù hợp, cần phải bổ sung thêm hoặc là nhập lại với nhau cho phù hợp với yêu cầu
quản lý sản xuất lâm nghiệp hiện nay.
Đồng thời với việc tiến hành rà soát, sửa đổi các bảng mức đã có, đề tài tiến hành
xây dựng bổ sung một số ĐMKTKT (xây dựng mới) cho phù hợp với tình hình
sản xuất Lâm nghiệp hiện nay. Đây là các bảng mức trong các tập định mức hiện
nay chưa có hoặc đã có nhưng tất các các ô mức trong bảng mức không còn phù
hợp với các điều kiện thực tế hiện nay của công tác quản lý sản xuất trước những
thay đổi của khoa học công nghệ như bảng mức lên líp, bảng mức điều tra thiết kế
cho các công việc trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảng mức trồng dặm,
bảng mức bón phân.
Kết quả đã xây dựng được tập định mức kinh tế kỹ thuật mới năm 2004 gồm 36
bảng mức, cụ thể là bảng mức lao động quản lý; Bảng mức lương cấp bậc công
việc; Bảng mức thu hái và chế biến hạt giống; Bảng mức khai thác và vận chuyển
vật liệu đóng bầu; Bảng mức đập sàng phân và trộn hỗn hợp ruột bầu; Bảng mức
đóng bầu và xếp luống; Bảng mức gieo hạt; Bảng mức cấy cây; Bảng mức khai
thác vật liệu và làm giàn che; Bảng mức tưới nước; Bảng mức tưới thúc; Bảng
mức phun thuốc phòng trừ sâu bệnh; Bảng mức chăm sóc cây con trong vườn;
Bảng mức lao động cắt hom và xử lý thuốc; Bảng mức chăm sóc vườn cây đầu
dòng; Bảng mức phát dọn thực bì; Bảng mức đào hố trồng rừng; Bảng mức lên líp
trồng rừng; Bảng mức làm đất bằng cơ giới; Bảng mức xử lý thực bì bằng cơ giới;
Bảng mức làm bậc thang trồng rừng; Bảng mức lấp hố trồng rừng; Bảng mức vận
chuyển cây con và trồng; Bảng mức phát chăm sóc rừng trồng; Bảng mức vận
chuyển và bón phân; Bảng mức xới vun gốc; Bảng mức trồng dặm; Bảng mức làm
đường ranh cản lửa; Bảng mức bảo vệ rừng; Bảng mức lao động làm biển báo;
+ Định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng 532/VKT ngày 15/7/1988 của Bộ Lâm
nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT)
+ Định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng phòng hộ 426/KLND ngày 16/11/1991
của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT)
+ Định mức kinh tế kỹ thuật công tác điều tra thiết kế qui hoạch lâm nghiệp
2366/NN-TCCB/QĐ ngày 16/9/1997 của Bộ Nông nghiệp và PTNT
+ Định mức suất vốn đầu tư cho chương trình trồng mới 1 ha rừng và phục hồi
rừng, nuôi dưỡng làm giàu rừng25/UBKH ngày 14/3/1994
+ Quyết định 1260/1998/QĐ-BXD ngày 28/11/1998của Bộ Xây dựng về việc ban
hành Bảng giá dự toán ca máy và thiết bị xây dựng.
+ Nghị định số 26/CP ngày 23/5/1993của Chính phủ qui định thang lương bảng
lương và cấp bậc công việc
+ Tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh tập 1,2,3 NXB Nông nghiệp 2001, 2002
+ Văn bản pháp qui Lâm nghiệp NXB Nông nghiệp 2000
+ Hướng dẫn lập dự toán và quản lý chi phí xây dựng công trình NXB Xây dựng
2001
Summary
There exist now in the forestry branch many different documents on set standards
but the basic ones are the 532/VKT set standards,, 1988 and the 426/KLND set
standards 1990. These are temporary set standards promulgated rather long ago
and many standards are backward as compared with the progress of production. In
2002, The Ministry of Agriculture and Rural Development allowed the carrying
out of the project: “Survey, evaluation and supplementation of economic and
technical standards in forest planting, forest regrowth maintenance, forest
regeneration promotion and forest protection” in 46 provinces having large forest
plantation areas and the forest planting projects with foreign investment capital…
By statistical and time study methods, unnecessary standards have been removed
and supplementary standards have been added.