ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN: PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN - Pdf 33

Lớp K1-TN1 Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
BỘ MÔN: PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN
-------------------------Câu 1: Hãy giải thích tại sao Phương thức quản lý nhà nước về công tác thanh
niên là một khoa học? (Tự nghiên cứu)
Câu 2: Trình bày đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của môn Phương thức quản lý
nhà nước về công tác thanh niên? (Tự nghiên cứu)
Câu 3: Hãy phân tích những nội dung cơ bản của Công tác quản lý nhà nước về công
tác thanh niên?
1.1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính
sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên


Định nghĩa:


Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều tiết những
vấn đề thực tiễn. Xã hội ngày càng phát triển đa dạng, đa chiều
với những mối quan hệ phức tạp, nhiều vấn đề liên quan trực
tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đang đặt ra cho
Nhà nước những vấn đề thực tiễn cần phải giải quyết trong quá
trình quản lý, điều hành.



Mục đích ban hành và tổ chức thực hiện


Văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa và bảo đảm thực

những hình thức pháp lý và không mang tính pháp lý:
* Hình thức pháp lý:
- Ban hành văn bản quản lý hành chính nhà nước
+ Là hình thức pháp lý quan trọng nhất nhằm thực hiện chức năng của mình.
+ Thông qua văn bản để nhà nước quy định các nguyên tắc ứng xử, quyền hạn, nghĩa vụ.
- Ban hành văn bản áp dụng pháp luật
+ Hoạt động chủ yếu của các cơ quan NN
+ Nội dung gồm một hay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể
- Đặc điểm của hình thức pháp lý
+ Thứ nhất: Hoạt động này do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành
+ Thứ hai: Hoạt động không có tác động pháp lý trực tiếp nhưng gián tiếp phát sinh
những hậu quả pháp lý
+ Thứ ba: Hình thức này chỉ tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được
quy định trong pháp luật
Ví dụ: Quốc hội ban hành Luật Thanh niên ngày 29 tháng 11 năm 2005.
* Hình thức không mang tính pháp lý:
- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp là hình thức hoạt động không mang tính
pháp lý do chủ thể quản lý hành chính nhà nước tiến hành nhằm mục đích tạo điều kiện
thuận lợi để ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý.
- Tiến hành các hoạt động tổ chức trực tiếp gồm các hoạt động nghiên cứu, tổng kết và
phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng các biện pháp cụ thể nhằm ứng dụng những
thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quản lý, tổ chức kiểm tra, điều phối hoạt động, tổ chức
hội thảo, tổ chức phong trào thi đua, v.v..
Ví dụ: 2 phong trào "5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "4
đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp" của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 2007.


Câu 5: Hãy trình bày khái niệm phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực
công tác thanh niên, những đặc trưng cơ bản và yêu cầu của phương pháp quản lý nhà
nước về công tác thanh niên?



Là làm cho người khác thấy đúng, thấy hay mà tin theo, làm theo






Thuyết phục trong quản lý nhà nước về CTTN


Là một dạng hoạt động



Tiến hành qua thông tin, tuyên truyền, giáo dục…



Nhằm tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật

Phương pháp thuyết phục do chủ thể QL NN về CTTN nhằm thực hiện chức
năng của mình



Bản chất PP thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý thấy rõ sự cần thiết và
tự giác thực hiện


2.2. Khái niệm phương pháp cưỡng chế nhà nước


Là cách thức bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp
pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực
hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài
sản hoặc tự do thân thể



ĐẶc Điểm: Chủ thể phải là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền



Đối tượng áp dụng là cá nhân, tổ chức nằm trong quy định của pháp luật




Các biện pháp cưỡng chế chỉ thực hiện khi đối tượng không tự giác chấp hành các
quyết định của chủ thể quản lý



Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc đối tượng chấp hành các quyết định
đơn phương của chủ thể





Áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi vi phạm kỷ luật nhà
nước



Cường chế hành chính:


Áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính

Câu 7: Hãy nêu nội dung và yêu cầu của phương pháp “Hành chính”, phương
pháp “Kinh tế” trong quản lý nhà nước về công tác thanh niên?
* Khái niệm: Phương pháp quản lý nhà nước là những phương thức, cách thức, biện
pháp mà chủ thể quản lý áp dụng để tác động lên khách thể quản lý (hành vi của đối tượng
quản lý) nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
* Phương pháp hành chính:


- Khái niệm: Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức
thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh
dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng
- Đặc điểm của phương pháp hành chính:
+ Sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng cách đơn
phương quy định nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý
Chủ thể quản lý có quyền đưa ra nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng
quản lý, có quyền kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh của mình và có quyền áp dụng các
hình thức kỷ luật nếu mệnh lệnh của mình không được chấp hành
+ Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật, các quyết định
hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể quản lý do

nước trước các vấn đề phát triển của thực tiễn
- Vận dụng các quy luật phát triển tự nhiên, xã hội và quy luật tâm lý - xã hội của
thanh niên để phác thảo ra những định hướng phát triển với các mục tiêu cụ thể, hệ giải pháp
tương ứng
- Nhằm quản lý và phát triển thanh niên có hiệu quả cao
* Hệ thống quy hoạch phát triển ở thanh niên Việt Nam:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2008 )
- Nghị quyết chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Số: 45/NQ-CP
ngày 11 tháng 9 năm 2009)
- Chiến lược phát triển thanh niên 2011 – 2020 (Số: 2474/QĐ-TTg)
2. Công cụ pháp luật:
* Định nghĩa:
- Hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận
- Đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
- Là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
* Các thuộc tính của pháp luật:
- Tính bắt buộc
- Tính chính xác, đơn nghĩa, cụ thể
- Được nhà nước đảm bảo thực hiện
* Đặc điểm của pháp luật:
- Thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.
- Là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.
- Do Nhà nước đặt ra và bảo vệ.
* Mối quan hệ giữa luật pháp và thanh niên:
- Pháp luận nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của thanh niên

Câu 9: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công cụ/
phương pháp trong thực thi quyền quản lý nhà nước về công tác thanh niên? (Tự
nghiên cứu)
Thứ nhất, thể chế QLNN về công tác thanh niên từng bước được hoàn thiện.
Tuy nhiên, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về QLNN về thanh niên còn mang tính định
hướng, chưa đầy đủ, đồng bộ và chậm được hướng dẫn, triển khai. Luật Thanh niên có hiệu lực từ tháng
7/2006, nhưng đến nay Chính phủ mới ban hành được 03 nghị định hướng dẫn thi hành(1); nhiều bộ,
ngành vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, đầy đủ để các địa phương thực hiện. Nghị định số
120/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các bộ, cơ
quan ngang bộ về công tác thanh niên, nhưng chưa xác định rõ trách nhiệm phối hợp QLNN về công tác
thanh niên theo ngành, lĩnh vực được Chính phủ phân công.


Thứ hai, nhiều chính sách cho thanh niên đã được ban hành thể hiện sự quan tâm đặc biệt của
Nhà nước ta đối với việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục và phát huy thanh niên.
Tuy nhiên, QLNN về công tác thanh niên còn gặp nhiều thách thức, nhiều vấn đề về thanh niên còn
chậm được giải quyết như: chất lượng giáo dục - đào tạo cho thanh niên còn nhiều bất cập; công tác dạy
nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên chưa gắn với nhu cầu thực tế, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp,
thiếu việc làm còn cao; nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần, vui chơi giải trí cho thanh niên
chưa được đáp ứng đầy đủ; tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên còn diễn biến phức
tạp… Bên cạnh đó, một số chính sách còn thiếu tính cụ thể, chưa sát với nhu cầu chính đáng của thanh
niên và chưa được điều chỉnh kịp thời hoặc chưa được quan tâm thực hiện. Nhiều địa phương chưa có
hình thức phát huy thanh niên một cách hiệu quả; chưa gắn các hoạt động của thanh niên với chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ngân sách dành cho công tác thanh niên còn
hạn chế và thực hiện theo cơ chế lồng ghép, xã hội hóa nên còn bị động. Công tác kiểm tra, đôn đốc, tổng
kết, đánh giá việc thực hiện chính sách cho thanh niên ở một số nơi chưa được tiến hành thường xuyên,
nghiêm túc.
Thứ ba, tổ chức, bộ máy QLNN về công tác thanh niên ngày càng được hoàn thiện và phát huy hiệu quả.
Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong QLNN về công tác thanh niên ngày càng
được tăng cường.

chính sách, luật pháp, Nhà nước huy động mọi tổ chức, mọi nguồn lực xã hội tham gia thực hiện
các nhiệm vụ công tác thanh niên.
Trong nhiều năm qua, vấn đề QLNN về công tác thanh niên luôn được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm, chỉ đạo sát sao. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền,
sự phối hợp của các ngành, đoàn thể và toàn xã hội, QLNN về công tác thanh niên đã đạt được
thành tựu đáng khích lệ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc ban hành các cơ chế, chính sách
bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thanh niên, phát huy vai trò xung kích, sáng
tạo, tiềm năng to lớn của thanh niên trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; mở rộng
quan hệ hợp tác về thanh niên với các nước, các tổ chức trên thế giới; góp phần tăng cường giáo
dục, bồi dưỡng thanh niên, bảo vệ thanh niên trước tác động của những tiêu cực và tệ nạn xã hội,
sự tấn công của các thế lực thù địch; đề cao trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các ngành, gia
đình, xã hội đối với thanh niên và công tác thanh niên. Vì vậy, việc chăm lo, bồi dưỡng, phát huy
thanh niên ngày càng đạt hiệu quả, nhưng cũng còn nhiều thách thức.
Thứ nhất, thể chế QLNN về công tác thanh niên từng bước được hoàn thiện.
Trước năm 2005, các nội dung QLNN về công tác thanh niên chưa được đề cập trong các
văn bản pháp lý, công tác thanh niên chủ yếu được giao cho tổ chức Đoàn thanh niên thực hiện.
Luật Thanh niên được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đánh dấu một bước tiến quan
trọng trong QLNN về công tác thanh niên, trong đó, nội dung và trách nhiệm QLNN về công tác
thanh niên bước đầu đã được luật hóa. Luật Thanh niên ra đời và việc tổ chức triển khai vào cuộc
sống có ý nghĩa chính trị, pháp lý sâu sắc, tạo cơ sở cho việc thực hiện QLNN về công tác thanh
niên, xác lập hành lang pháp lý bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và phát huy
vai trò, trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước và xã hội. Nhiều quy định cụ thể về cơ chế,
chính sách của Nhà nước cả ở Trung ương và địa phương đảm bảo cho thanh niên thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển đã được ban hành và ngày
càng được hoàn thiện. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đã ban hành Chiến lược phát triển
thanh niên giai đoạn 2011-2020 của địa phương.
Tuy nhiên, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về QLNN về thanh niên còn mang tính
định hướng, chưa đầy đủ, đồng bộ và chậm được hướng dẫn, triển khai. Luật Thanh niên có hiệu
lực từ tháng 7/2006, nhưng đến nay Chính phủ mới ban hành được 03 nghị định hướng dẫn thi
hành(1); nhiều bộ, ngành vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, đầy đủ để các địa phương

thực hiện chính sách cho thanh niên ở một số nơi chưa được tiến hành thường xuyên, nghiêm
túc.
Thứ ba, tổ chức, bộ máy QLNN về công tác thanh niên ngày càng được hoàn thiện và phát huy
hiệu quả.
Trước đây, Chính phủ chưa giao cho một cơ quan nào thực hiện QLNN về công tác thanh
niên; chỉgiao cho Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam làm nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng
Chính phủ về công tác thanh niên; vì vậy, vấn đề QLNN về công tác thanh niên chưa được cụ thể
hóa và bị buông lỏng. Từ năm 2008, Chính phủ giao Bộ Nội vụ là cơ quan thực hiện chức
năng QLNN về công tác thanh niên; ngành Nội vụ đã tích cực triển khai kiện toàn bộ máy, tổ
chức. Đến nay hầu hết các tỉnh, thành phố đã thành lập phòng Công tác thanh niên thuộc Sở Nội
vụ; 700 quận, huyện đã bố trí cán bộ làm công tác thanh niên với tổng số biên chế gần 1.500
người. Bộ Nội vụ đang tích cực đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai Chương trình phát
triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Một số bộ, ngành trung ương đã phân công công
chức theo dõi QLNN về công tác thanh niên thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách.
Tuy nhiên, bộ máy QLNN về công tác thanh niên mới được thành lập, đang trong quá trình hoàn
thiện. Số lượng, chất lượng cán bộ đảm đương nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên ở các cấp
chưa đáp ứng yêu cầu. Có nơi bộ máy QLNN về công tác thanh niên chưa được đặt đúng vị trí,
chức năng hoặc giao hẳn cho tổ chức Đoàn thanh niên đảm nhiệm. Ở một số bộ, ngành QLNN về
công tác thanh niên được giao theo ngành, lĩnh vực lại chỉ quan tâm đến hoạt động trong phạm vi
cơ quan bộ, ngành, chưa có sự chỉ đạo theo ngành dọc để triển khai tới cơ sở. Đội ngũ cán bộ,
công chức làm QLNN về công tác thanh niên được tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau, do mới
tiếp cận công việc nên gặp nhiều khó khăn, hạn chế, lúng túng trong việc tham mưu đề xuất hoặc
không xác định được công việc cụ thể để triển khai thực hiện. Một trong những nguyên nhân của
tình trạng trên là do công tác nghiên cứu, lý luận và tuyên truyền, phổ biến các kiến thức QLNN về
công tác thanh niên còn nhiều bất cập; đến nay thuật ngữ “quản lý nhà nước về công tác thanh
niên” vẫn còn khá mới mẻ đối với nhiều cán bộ, công chức.
Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong QLNN về công tác thanh niên ngày
càng được tăng cường.



chuyên trách các cấp để nâng cao khả năng tham mưu, đề xuất tổ chức thực thi chính sách thanh
niên. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể về việc bố trí cán bộ làm nhiệm vụ này ở các bộ, ngành
để tránh tình trạng lúng túng như hiện nay. Các bộ, ngành Trung ương cần bố trí, phân công cán
bộ theo dõi, làm QLNN về công tác thanh niên của bộ, ngành mình để làm đầu mối phối hợp với
Bộ Nội vụ tổ chức triển khai thực hiện. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố giao trách nhiệm cho
các cơ quan liên quan và xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện QLNN về công tác tới các cấp
chính quyền; nghiên cứu trình Hội đồng nhân dân các dự án huy động thanh niên tham gia xây
dựng kinh tế - xã hội ở địa phương.
Ba là, phát huy tốt cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ, ngành trung ương và chính quyền
địa phương, đảm bảo tính thống nhất, khoa học, hiệu quả trong quá trình xây dựng, thực thi chính
sách đối với thanh niên.
Cần lồng ghép chính sách thanh niên trong các chính sách phát triển ngành, lĩnh vực, địa
phương; đưa các chỉ số của thanh niên và công tác thanh niên vào chỉ số thống kê quốc gia, trong
chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp; coi việc thực hiện các chỉ tiêu
phát triển thanh niên là một trong những chỉ số đánh giá sự tăng trưởng của từng địa phương,
đơn vị và cả nước. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã
hội trong chăm lo, giáo dục thanh niên, đặc biệt là trong định hướng về học tập, nghề nghiệp, lối


sống và phòng chống các tệ nạn nhằm xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho
sự phát triển của thanh niên. Triển khai thành lập Hội đồng công tác thanh niên ở các tỉnh, thành
phố để tăng cường công tác thông tin, phối hợp liên ngành trong QLNN về công tác thanh niên;
có cơ chế để Hội đồng này tham gia vào quá trình ra quyết định của chính quyền về các vấn đề
có liên quan đến thanh niên.
Bốn là, xây dựng cơ chế đảm bảo quyền của thanh niên trong việc tham gia xây dựng, thực
hiện và giám sát các chính sách liên quan đến thanh niên.
Các cơ quan, tổ chức trước khi quyết định những chủ trương, chính sách liên quan đến thanh
niênphải có trách nhiệm lấy ý kiến của thanh niên hoặc tổ chức thanh niên. Đồng thời, tăng cường
vai trò giám sát, phản biện xã hội và có biện pháp sử dụng các kênh thông tin của các tổ chức, cá
nhân (nhất là đối tượng thanh niên) trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status