Đề cương ôn tập môn
Khoa học quản lý
Câu 1: Anh/ chị hãy nêu nội dung cơ bản của thuyết Đức Trị và Pháp Trị.
Hai thuyết này giống và khác nhau ở điểm nào ? Các ưu điểm và hạn chế của
hai thuyết này là gì ? Theo anh/chị, hai thuyết này có ý nghĩa trong công tác
quản lý trong thời đại hiện nay không ?
Trả lời :
1. Nội dung (tư tưởng chính)
Nội dung thuyết đức trị của Khổng Tử chủ yếu bàn về quan niệm con người là thiện, có
lòng nhân, đức là công cụ quản lý cùng với phương pháp quản lý cơ bản là nêu gương và giáo
hoá.
Tư tưởng chính của ông bao gồm hai nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ nhất là “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”
Nguyên tắc thứ hai là “mình muốn đứng vững thì làm cho người ta đứng vững, mình muốn
công việc của mình được thành đạt thì cũng làm cho công việc của người khác thành đạt”
Ông phân chia các giá trị xã hội thành ngũ thường: Nhân - Lễ - Nghĩa - Dũng - Tín ; chia ra các
mối quan hệ xã hội thành tam cương: bao gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, thày - trò.
Theo đó:
- Nhân: là “yêu thương con người” như yêu thương chính bản thân mình và những người
thân thích của mình, giúp đỡ người khác thành công: “muốn mình thành công thì cũng giúp người
khác thành công”; “người quân tử học đạo thì yêu người, tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến”.
Nhân không có nghĩa là nhu nhược, dung túng tội lỗi của dân mà phải kiên quyết trừng trị những
người vi phạm trật tự an ninh chung.
- Lễ là hình thức của nhân, “khắc kỷ phục Lễ vi Nhân tức là ép mình theo là Lễ và Nhân.
Người “Nhân” ra cửa phải như tiếp khách quý, trị dân phải như làm lễ lớn, điều gì mình không
muốn ai làm cho mình thì không nên làm cho ai”. Thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức, giả dối,
“người không có đức nhân thì lễ mà làm gì”.
- Nghĩa: là thấy việc gì đáng làm thì ta phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình.
“Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải làm như vậy mới được, không nhất thiết
như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”. Nghĩa gắn liền với Nhân.
- Dũng: là quả cảm, kiên cường, dám hy sinh thân mình vì nghĩa lớn, dám vượt qua mọi
Công cụ quản lý của Hàn Phi Tử là pháp luật trong đó Pháp là quan trọng nhất. Ông ví Pháp
như cái khuôn cái thước, cái trật tự, cái tiêu chuẩn để đo lường hành vi con người. Không có nước
nào luôn mạnh hay luôn yếu. Nước nào thi hành pháp luật cương cường thì nước đó mạnh, ngược
lại thì nước sẽ yếu. Vua là người có quyền ban hành luật pháp. Nhưng việc ban hành luật pháp cần
phải được quan tâm đến nguyên tắc và phải tuân theo nguyên tắc.
Phương pháp quản lý chủ yếu là thưởng phạt và cưỡng chế.
Pháp luật phải đảm bảo:
- Pháp luật phải kịp thời thay đổi cho phù hợp với thời thế: “Thời đã thay mà pháp luật
không đổi thì nước biến, Đời đã thay mà cấm lệnh không đổi thì đất nước bị chia cắt, cho nên
thánh nhân trị dân thì pháp luật phải theo thời mà biến”
- Pháp luật phải viết một cách dễ hiểu để dân dễ biết và dễ thi hành: “Cái gì chỉ những kẻ sĩ
có đầu óc tinh tế mới hiểu được thì không nên ban hành vì không phải ai cũng đều có đầu óc tinh tế
cả. Điều gì chỉ những bậc thánh hiền mới làm được thì không nên ban hành làm phép tắc”.
- Pháp luật phải được áp dụng một cách phổ biến mang tính phổ cập, công bằng với mọi đối
tượng, mọi người : định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc: “để cứu hoạ cho dân, trừ hoạ cho
thiên hạ, để cho đám đông không hiếp đáp số ít, kẻ mạnh không lấn át người yếu, người già được
hưởng hết tuổi trời, trẻ em mồ côi được nuôi lớn”
Pháp luật là quan trọng, song không thể thiếu Thuật (phương pháp quản lý) và Thế (Quyền
lực): Pháp - Thế - thuật.
- Thế: Là sự tôn trọng quyền lực tối cao, quyền của người cai trị, là quyền uy do địa vị đem
lại, người có quyền mà không có thế thì khó mà sai được người khác : ‘Không có nước nào luôn
mạnh, không có nước nào luôn yếu. Người thi hành pháp luật mà cương cường thì nước mạnh,
người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu’. Để có thế, Vua phải được mọi người tôn
trọng và tuân theo triệt để. Vua cần phải nắm hết các quyền thưởng phạt. Việc thưởng phạt phải
tuân theo nguyên tắc. Thưởng thì phải tín, phạt thì phải tất (cương quyết). Thưởng hậu phạt nặng.
Trừng phạt không chừa quan lại, thưởng không bỏ sót dân thường.
- Thuật:
+ Hàn Phi Tử nhận định rằng bản chất con người là ác “thày lang khéo mút vết thương,
ngậm máu bệnh nhân đâu phải vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi. Thợ đóng xe mong nhiều người giầu
sang, còn thợ đóng quan tài thì mong nhiều người chết yểu. Không phải vì thợ đóng xe có lòng
- Đưa ra phương thức quản lý hữu hiệu là thưởng - phạt.
+ Nhược điểm:
- Tôn sùng chế độ chuyên quyền độc đoán, hạn chế đáng kể quyền tự do của nhân dân,
không coi trọng nhân dân, chỉ coi họ là công cụ của Vua và phục tùng tuyệt đối kẻ thống trị (Vua
không được gần dân).
- Thực hiện pháp luật phải công minh, song lại thừa nhận bẩn chất con người là hành động
vì tư lợi (mâu thuẫn).
- Chính sách chuyên chế, lấy pháp luật mà trị dân chúng, chứ không cần đến nhân nghĩa và
tài trí, “bỏ đạo đường, chuộng kẻ hiền thì loạn; bỏ phép, dùng kẻ trị thì nguy. Cho nên nói: chuộng
phép mà không chuộng”.
- Ông quan niệm hơi thái quá về con người: sinh ra đã là ác. Ông chỉ nhìn thấy mặt sinh học
của con người là bản chất và mọi hành vi đều vì lợi mà không thấy hết những mặt khác trong
thuộc tính con người.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử lộ rõ niềm say mê quyền lực đến mức cô độc, lạnh lùng và
tàn nhẫn. Nhưng nhìn lại cuốc đời của ông, ta thấy đó là con người có trí tuệ rất uyên thâm, là con
người dám hy sinh vì sự nghiệp. Thuyết pháp trị của ông đã trở thành định ý cai trị chủ yếu cho các
triều đại phong kiến tập quyền Trung Quốc và ở phương Đông nói chung.
3. So sánh sự giống và khác nhau giữa thuyết Đức Trị và Pháp trị
3.1. Giống nhau
Đó là hai trường phái triết học này khi giải thích các vấn đề thuộc bản thể luận đều thống
nhất và sử dụng phạm trù "Đạo". Phạm trù này mang tích khách quan, là nguồn gốc và bao trùm
vạn vật. Nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó.
3.2. Sự khác nhau:
- Khi giải thích các vấn đề thuộc về bản thể luận thì ngoài phạm trù "Đạo", tư tưởng Pháp
trị còn sử dụng thêm phạm trù "lý" để làm sáng tỏ sự phát triển, biến đổi của sự vật hiện tượng.
- Tư tưởng cốt lõi của Đức trị là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện chứng, cùng
với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội.
4. Theo anh/chị, hai thuyết này có ý nghĩa trong công tác quản lý trong thời đại hiện nay
không?
Câu 2: Phân tích nội dung và các nguyên tắc của thuyết quản lý theo khoa học của
một cách thức tối ưu để phân chia công việc thành những công đoạn, những khâu hợp lý; định ra
chuẩn mục để đánh giá kết quả lao động.
Việc xây dựng các định mức lao động chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thực
nghiệm: Chọn công nhân khoẻ, hướng dẫn họ những thao tác chuẩn xác, bấm giờ thực hiện động
tác ấy; lấy đó làm mức khoán chung. Đó là mức cao đòi hỏi làm việc cật lực song được bù đắp
bừng thu nhập từ tăng năng suất.
3. Chuyên môn hoá lao động:
- Lao động theo nghĩa khoa học đòi hỏi sự chuyên môn hoá trong phân công nhằm đạt yêu
cầu tốt nhất (do thành thực trong thao tác) và rẻ nhất (do không có động tác thừa và do chi phí đào
tạo thấp). Taylor nhấn mạnh là phải tìm những người thợ giỏi nhất theo hướng chuyên sâu, dựa
vào năng suất lao động cá biệt đó để xây dựng định mức lao động.
- Việc chuyên môn hoá lao động kéo theo yêu cầu cải tiến công cụ lao động cũng theo
hướng chuyên môn hoá để dễ sử dụng nhất, tốn ít sức nhất và đạt năng suất lao động cao nhất.
Môi trường lao động cũng là một yếu tố quan trọng, đó là việc bố trí nơi làm việc phải thuận lợi,
duy trì bầu không khí hợp tác gắn bó thoải mái giữa người điều hành và người thợ.
4. Xây dựng và thực hiện chế độ trả lương theo số lượng sản phẩm
Người làm ra nhiều sản phẩm sẽ được hưởng lương nhiều và người làm ra ít sản phẩm sẽ
được hưởng lương ít.
* Ưu, nhược điểm:
+ Ưu điểm:
- Là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về Quản lý phản ánh đầy đủ, chính xác hoạt động Quản
lý.
- Xác định rõ vai trò người chủ của nhà Quản lý trong tổ chức với nhiều trách nhiệm khác
nhau.
- Mang lại nhiều thành tựu khoa học quan trọng đối với hoạt động Quản lý
- Thúc đẩy sự phát triển như vũ bão của nền đại công nghiệp các nước tư bản chủ nghĩa.
- Làm dấy lên phong trào Quản lý theo khoa học, phong trào Taylor.
- Đưa hoạt động Quản lý từ trạng thái hỗn độn theo kinh nghiệm trở thành khoa học.
+ Nhược điểm:
- Quan niệm phiến diện về con người, chỉ nhìn thấy mặt sinh học chứ chưa nhìn thấy mặt Xã
kiến thức về Quản lý thì hoạt động của tổ chức sẽ giảm dần và sẽ đi tới 0.
* Ông chỉ ra 5 chức năng cho hoạt động Quản lý.
- Chức năng dự đoán - Lập kế hoạch:
Là chức năng cơ bản đầu tiên của Quản lý, chức năng này giúp nhà quản lý lường trước được
rủi ro, khó khăn, tránh do dự khi đã được lập kế hoạch, tạo ra cơ sở để thực hiện công việc.
Kế hoạch luôn phải mang tính tương đối, linh hoạt và có thể thay đổi cho phù hợp với những
thay đổi trong tương lai.
Henrry Fayol yêu cầu phân loại kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch chung, kế
hoạch riêng…
Để thực hiện chức năng này, nhà Quản lý cần phải có phẩm chất đặc biệt, phải là người có kiến
thức, có kinh nghiệm, dám làm và dám chịu trách nhiệm, biết dùng người, biết phân công lao động.
- Chức năng Tổ chức: Tổ chức là quá trình cung cấp nhân lực, vật lực để hoàn thành kế
hoạch. Chức năng này gồm 2 khía cạnh: tổ chức vật chất và tổ chức con người.
+ Tổ chức vật chất là cung cấp những thứ cần thiết cho sản xuất như: nguyên vật liệu, vốn,
lao động …
+ Tổ chức con người là việc phân công lao động, phân cấp Quản lý. Ông phân Quản lý ra
làm 3 cấp: Cấp cao (Giám đốc: chỉ đạo mọi hoạt động), cấp Trung gian: lập kế hoạch, tuyển nhân
viên, chỉ đạo các bộ phận, tổ chức thực hiện mục tiêu và Nhà quản lý cấp Cơ sở.
- Chức năng điều khiển:
+ Điều khiển là việc khởi động tổ chức đưa tổ chức đạt đến cái đích đã đặt ra, đạt mục tiêu
dự kiến trong kế hoạch.
+ Nhà quản lý phải gương mẫu và phải tạo ra môi trường để thúc đẩy sự sáng tạo, thúc đẩy
sự thống nhất, thúc đẩy lòng trung thành của nhân viên.
- Chức năng phối hợp:
Là sự kết hợp nhịp nhàng các hoạt động tạo ra sự cân bằng hợp lý các khía cạnh vật chất, xã
hội và chức năng; xác định các mối tương quan giữa các chức năng; duy trì cán cân tài chính; áp
dụng mọi biện pháp thích đáng để mọt hoạt động hướng vào mục đích chung thông qua họp hàng
tuần của lãnh đạo, các bộ phận.
- Chức năng Kiểm soát (kiểm tra):
Đây là chức năng cuối cùng của Quản lý, là việc giám sát việc thực hiện kế hoạch, cung cấp
nhất định và anh ta phải làm tròn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó.
10. Nguyên tắc hợp tình, hợp lý: Những người lao động cần được đối xử một cách công
bằng và hợp tình hợp lý.
11. Nguyên tắc sự ổn định trong hưởng dụng: Hạn chế việc thuyên chuyển, đổi việc; tạo
điều kiện học tập và tích luỹ kinh nghiệm.
12. Nguyên tắc kiểm tra tất cả mọi công việc.
13. Nguyên tắc tính sáng tạo: trao đủ quyền chủ động cho cấp dưới, thúc đẩy óc sáng tạo
và sự hứng thú trong công việc; nhân viên cần phải luôn được cổ vũ, động viên để quá trình hoạt
động có hiệu quả hơn.
14. Nguyên tắc tinh thần trong đồng đội: tăng cường ý thức tập thể, sự thống nhất, đoàn
kết hỗ trợ giữa những người lao động trong một tổ chức.
* Ưu, nhược điểm:
+ Ưu diểm:
- Ông đã chỉ ra cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng
tương đối độc lập.
- Tạo kỷ cương trong tổ chức.
- Quan tâm nghiên cứu con người, đối xử tốt với người lao động thì lợi ích của họ được tăng
lên.
- Thuyết chủ trương năng suất lao động sẽ cao trong một tổ chức được sắp đặt hợp lý.
- Đóng góp rất nhiều trong lý luận và thực hành quản lý. Nhiều nguyên tắc quản lý vẫn còn
được áp dụng.
- Các hình thức tổ chức, nguyên tắc tổ chức, quyền lực và sự uỷ quyền… đang ứng dụng phổ
biến hiện nay.
+ Nhược diểm:
- Về việc tạo lập môi trường trong xã hội cho lao động về mối quan hệ giữa cung và cầu, về
cạnh tranh bình đẳng.
- Chưa chú trọng đầy đủ đến các mặt tâm lý và môi trường của người lao động.
- Chưa đề cập đến mối quan hệ giữa công ty với môi trường bên ngoài.
- Các tư tưởng thiết lập trong một tổ chức ổn định, ít thay đổi, quan điểm quản lý cứng rắn,
ít chú ý tới con người và xã hội nên dễ dẫn đến xa rời thực tế.
người như là sự thể hiện của tâm lý trong đó có Douglas Mc. Gregor (1906 – 1964).
- Ông là nhà khoa học Mỹ nổi tiếng.
- Ông đưa ra thuyết hành vi của con người: Thuyết X và thuyết Y
Thuyết X Thuyết Y
- Thuyết X là lý luận về hành vi chung của
người lao động, cho rằng: “con người kinh tế”
có mối ác cảm với công việc và sẽ lẩn tránh nó
nếu có thể được; từ đó thích bị điều khiển (ép
buộc, trừng phạt), muốn né tránh trách nhiệm
và chỉ muốn an phận, ít hoài bão và đó là bản
chất máy móc vô tổ chức của con người.
- Thuyết Y là một bước tiến rất quan trọng
trong tư tưởng quản lý của ông theo hướng “con
người xã hội”: nhận rõ và tin tưởng vào bản
chất tốt đẹp và khả năng sáng tạo của con
người, thể hiện tính nhân văn trong quản lý, dựa
trên quan niệm nhân bản và lạc quan hơn về
hành vi chung của người lao động, quan tâm
đến khả năng của con người tự tạo ra động cơ
làm việc (liên quan đến nhu cầu); kết hợp lý trí
và tình cảm; phát huy nhiệt tình, năng lực và trí
sáng tạo; khả năng tự định hướng và tự chủ để
đạt được mục tiêu của tổ chức khi nó thống nhất
với mục tiêu cá nhân.
- Thuyết X chủ trương trong quản lý là phải sử
dụng quyền lực tuyệt đối với cấp dưới, điều
khiển và giám sát chặt chẽ để đối phó với
- Thuyết Y chủ trương sử dụng “biện pháp dân
chủ” tạo ra những điều kiện phù hợp để các
thành viên trong tổ chức có thể đạt tới mục tiêu
Ý nghĩa của nó với công tác quản lý? Lấy ví dụ thực tiễn minh hoạ.
Câu 6: Nêu tóm tắt nội dung của trường phái tâm lý – xã hội trong quản lý. Ưu nhược
điểm của trường phái này so với trường phái cổ điển là gì? Tư tưởng của trường phái này có
ý nghĩa gì trong quản lý thời đại hiện nay hay không? Lấy ví dụ thực tiễn?
Trả lời:
Nội dung
Trường phái tâm lý xã hội gồm hai nhóm thuyết lớn:
1. Lý thuyết về mối quan hệ con người: quan tâm thoả đáng tới các yếu tố tâm lý con
người, tâm lý tập thể và bầu không khí trong xí nghiệp (Hugo Munsterberg, Elton Mayo,
Mary Parker Follet).
a. Hugo Munsterberg
- Ông cho rằng năng suất lao động tăng nếu công việc phù hợp với tâm lý người lao động
và đề ra nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích các đặc điểm tâm lý của họ.
- Ông tiến hành thiết kế công việc, phân công công việc phù hợp với khả năng, nguyện
vọng của người lao động.
- Ông tiến hành các thí nghiệm về tâm lý để cải tiến phương pháp, nội dung tuyển chọn
nhân lực.
- Ông nghiên cứu tác phong con người lao động để tìm ra những hình thức động viên người
lao động.
b. Mary Parker Follet (1863 - 1933).
- Bà rất chú ý đến tâm lý và xã hội trong hoạt động quản lý: bà cho rằng đơn vị sản xuất
kinh doanh là một hệ thống những quan hệ xã hội, và hoạt động quản lý là một tiến trình mang
tính chất quan hệ xã hội, bà phản đối việc thi hành quyền lực một cách thẳng thừng vì công nhân
sẽ phản đối và do đó không thể là cơ sở hợp tác thích hợp.
- Bà nhấn mạnh đến hai khía cạnh:
+ Quan tâm đến người lao động trong quá trình qiải quyết vấn đề: kinh tế, tinh thần, tình
cảm: trong quan hệ tình cảm đề cao sự hợp tác, thống nhất giữa người quản lý và người lao động,
giữa các nhà lãnh đạo và quản lý với nhau nhằm phát triển các quan hệ con người tốt đẹp như là
một nguồn lực để tăng năng suất và hiệu quả lao động.
+ Nhà quản lý phải năng động, không quá nguyên tắc cứng nhắc.
trên quan niệm nhân bản và lạc quan hơn về
hành vi chung của người lao động, quan tâm
đến khả năng của con người tự tạo ra động cơ
làm việc (liên quan đến nhu cầu); kết hợp lý trí
và tình cảm; phát huy nhiệt tình, năng lực và trí
sáng tạo; khả năng tự định hướng và tự chủ để
đạt được mục tiêu của tổ chức khi nó thống nhất
với mục tiêu cá nhân.
- Thuyết X chủ trương trong quản lý là phải sử
dụng quyền lực tuyệt đối với cấp dưới, điều
khiển và giám sát chặt chẽ để đối phó với
những người không tin cậy và vô trách nhiệm;
phải sử dụng lợi ích vật chất và hình phạt để
thúc đẩy người lao động làm việc.
- Thuyết Y chủ trương sử dụng “biện pháp dân
chủ” tạo ra những điều kiện phù hợp để các
thành viên trong tổ chức có thể đạt tới mục tiêu
chính mình một cách tốt nhất bằng cách cố gắng
hết sức mình vì thành công của xí nghiệp.
- Thuyết X thể hiện sự tập trung chuyên quyền. - Nhu cầu ở mức cao nhất là tự hoàn thiện, tổng
hợp khả năng và kết quả mà mỗi người đạt được
trong cuộc sống. Đó là điều kiện để sử dụng hết
khả năng của con người qua nhận thức, trực
cảm, học hỏi, rèn luyện kỹ năng lĩnh hội tri
thức, sáng tạo; thể hiện hết thiên hướng cá nhân
của con người. Quản lý phải cố gắng đáp ứng
những nhu cầu cơ bản của người lao động, đồng
thời tập trung vào những nhu cầu cao. Tóm lại
thuyết Y cho rằng chỉ khi quan tâm đến mặt
nhân văn của xí nghiệp mọi người mới cố gắng
các cấp cao xem xét, đánh giá trong việc thực hiện mục tiêu có đạt được không?, công việc có đáp
ứng yêu cầu về chất lượng không? Việc kiểm tra có ảnh hưởng đến việc ra quyết định, giúp cho
cấp trên nhận biết khả năng ra quyết định và việc thực hiện quyết định của cáp dưới, giúp điều
chỉnh các quyết định đã đề ra, đồng thời giúp cho tổ chức tuân thủ các luật lệ của mình để hoàn
thành kế hoạch đặt ra.
- Ông cũng có những đóng góp mới khi xem xét vai trò của thông tin trong quản lý: thông
tin và tri thức là đầu vào cần thiết trong quá trình ra quyết định và nó phải chuyển từ các điểm
khác nhau của tổ chức hoặc từ các nguồn của tổ chức tới các trung tâm quyết định. Thông tin bao
gồm: Thông tin chính thức và thông tin không chính thức, trong quá trình chuyển thông tin, nó có
thể bị xuyên tạc, không chính xác hoặc không thích hợp. Khi cấp trên giấu thông tin với cấp dưới,
thậm chí sử dụng nó để duy trì quyền hành của mình, đó là dấu hiệu về sự thiếu năng lực và tình
trạng không an toàn của cấp trên.
3. Đánh giá ưu nhược điểm của trường phái này so với trường phái cổ điển.
* Ưu điểm:
- Quan tâm đến yếu tố tâm lý và những bản tính tốt đẹp có thể phát huy của người lao động.
- Quan tâm đến vấn đề xây dựng, mối quan hệ tốt đẹp, bình đẳng, tông trọng giữa nhà quản
lý và người lao động.
- Quan tâm đến đặc điểm tâm lý trong việc ra quyết định và điều hành không lạm dụng
quyền lực.
- Đề cao tinh thần năng động, linh hoạt của nhà quản lý.
* Nhược điểm
- Chưa có cái nhìn toàn diện về người lao động – quá chú ý đến vấn đề tâm lý.
- Là một bước tiến về chất trong quản lý nhưng nó chưa thay thế hẳn tiền đề “con người
thuần tuý kinh tế” con người vẫn bị khép kín, hướng nội trong hệ thống mà chưa quan tâm đến
yếu tố ngoại lai, do đó chưa lý giải được đầy đủ những hiện tượng này trong thực tiễn quản lý.
4. Tư tưởng của trường phái này có ý nghĩa gì trong quản lý thời đại hiện nay không?
Lấy ví dụ thực tiễn.
Câu 7: Nêu định nghĩa quản lý và vai trò của quản lý? Trong tổ chức anh chị, quản lý
phát huy vai trò gì và như thế nào?
Trả lời:
lao động tập thể còn tạo ra bầu không khí thi đua và từ đó kích thích tinh lực của người lao động.
- Đánh giá cao vai trò của “ý chí điều khiển” trong hoạt động chung và đồng thời coi tác
nhân quản lý có vai trò như là “nhạc trưởng” của dàn nhạc.
- V.I.Lênin luôn đề cao sức mạnh to lớn của công tác tổ chức trong tiến trình cách mạng của
giai cấp vô sản: “Hãy cho tôi một tổ chức những người cộng sản, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga”.
- Lênin luôn kêu gọi và yêu cầu các nhà máy, công xưởng của Chính quyền Xô Viết muốn
đạt năng suất cao thì phải học tập và áp dụng mô hình quản lý của Taylor.
- Các chuyên gia Nhật Bản đưa ra học thuyết về “nhân tố thứ tư” để khẳng định vai trò đặc
biệt quan trọng của quản lý. Quản lý được coi là nhân tố thứ tư như là nhân tố nối kết 3 nhân tố
trong các xã hội truyền thống (Tư bản, ruộng đất và lao động).
2.2. Tiếp cận tổng thể về vai trò của quản lý
2.2.1. Vai trò định hướng
- Hướng các hoạt động của các thành viên theo một vectơ chung.
- Biểu hiện chủ yếu thông qua chức năng lập kế hoạch.
- Việc xác định mục tiêu đúng đắn, phù hợp sẽ giúp cho tổ chức vận hành, phát triển đúng
hướng và đồng thời ứng phó với sự bất định của môi trường.
2.2.2. Vai trò thiết kế
- Nhằm thực hiện kế hoạch.
- Thông qua chức năng tổ chức: Xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công
công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác.
2.2.3. Vai trò duy trì và thúc đẩy
- Vai trò duy trì và thúc đẩy được thể hiện qua chức năng lãnh đạo của quy trình quản lý.
- Nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý (nội quy, quy chế) mới có thể bắt buộc chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý hoạt động trong giới hạn quyền lực và thẩm quyền của họ, do đó tạo nên
kỷ luật, kỷ cương tính ổn định, bền vững của một tổ chức.
- Tạo ra động cơ thúc đẩy từ đó phát huy cao nhất năng lực của người lao động và tạo điều
kiện cho họ khả năng sáng tạo cao nhất.
2.2.4. Vai trò điều chỉnh
- Thông qua chức năng kiểm tra.
- Đưa ra các giải pháp nhằm điều chỉnh những sai lệch, sửa chữa những sai lầm, từ đó đảm
1. Mục tiêu của tổ chức:
Mục tiêu của tổ chức là trạng thái tương lai, là đích phải đạt tới, nó định hướng và chi phối
sự vận động của toàn bộ tổ chức. Mỗi cá nhân cũng như các tổ chức thường thành công hơn khi
các hoạt động của họ luôn trong tình trạng cố gắng vượt qua sự thử thách do các mục tiêu đã đặt
ra mang lại.
Các mục tiêu cá nhân được thực hiện trong phạm vi nỗ lực cá nhân, còn các mục tiêu của tổ
chức đòi hỏi phải có những nỗ lực chung, những hoạt động tập thể và sự phối hợp hành động giữa
các cá nhân trong tổ chức khi thực hiện chúng. Đồng thời sự phối hợp này chỉ phát huy tác dụng
khi nó có sự quản lý một cách có hệ thống. Như vậy các mục tiêu của tổ chức tạo ra sự hỗ trợ và
định hướng đối với tiến trình quản lý và chúng cũng là cơ sở để đo lường mức độ hoàn thành công
việc. Nếu một tổ chức không có mục tiêu hoạt động thì tiến trình quản lý của nó sẽ giống như một
chuyến đi không có nơi đến, không có mục đích cụ thể và hoàn toàn vô nghĩa.
2. Đòi hỏi của quy luật kháh quan liên quan đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức:
Hệ thống quy luật là cơ sở lý luận trực tiếp hình thành các nguyên tắc quản lý:
- Điều kiện tự nhiên là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, đồng
thời nhân loại cũng đã từng phải trả giá và chịu sự trừng phạt của tự nhiên do hành động trái với
quy luật vốn có của nó. Vì thế phải tiết kiệm trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đi liền với
bảo vệ, tái tạo tài nguyên môi trường, coi đó là nguyên tắc quan trọng chi phối các hoạt động quản
lý.
- Về thực chất, quản lý là quá trình xử lý mối quan hệ giữa người với người trong hoạt động
quản lý. Nói cách khác chủ thể quản lý phải tác động vào tâm lý người lao động qua đó khơi dậy
lòng nhiệt tình hăng say và sự sáng tạo của họ. Muốn vậy phải nắm bắt quy luật tâm lý con người
để đề ra nguyên tắc quản lý. Tuy nhiên các cá nhân bao giờ cũng hoạt động trong một cộng đồng
nhất định, cho nên ngoài việc nghiên cứu tính chất nhu cầu, sở trường của từng người còn phải
nhận thức và vận dụng quy luật tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng.
- Tổ chức là một khoa học. Công việc tổ chức về thực chất là xác định cấu trúc của các bộ
phận và mối liên hệ giữa các bộ phận đó. Trong hoạt động quản lý đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ
các quy luật và tính quy luật về tổ chức, đó là mối quan hệ giữa cấp quản lý và khâu quản lý, giữa
tập trung và phân cấp, giữa quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân và tập thể… trong mỗi tổ chức,
trên cơ sở đó vận dụng chúng vào việc đề ra các nguyên tắc quản lý.
1. Tuân thủ pháp luật và thông lệ xã hội
Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm
quy định những điều mà các thành viên trong xã hội không được làm và làm cơ sở để chế tài
những hành động vi phạm các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Pháp lulật đã tạo ra khung
pháp lý cho tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra môi trường cho phát triển kinh tế,
củng cố và bảo vệ các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, quy định về kế hoạch, giá cả, thuế,
tài chính, tín dụng và tạo ra một cơ chế quản lý có hiệu quả. Qua đó có thể thấy rằng giữa các lĩnh
vực chính trị - pháp luật – hoạt động quản lý, kinh doanh có mối liên hệ hữu cơ, trong đó thể chế
chính trị giữ vai trò định hướng chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội – trong đó có hoạt
động kinh doanh. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, hoạt động của các tổ chức ngày càng gắn
bó chặt chẽ với nhau và trở thành một mắt xích trong hệ thống chính trị - xã hội. Sự ổn định chính
trị - pháp luật sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh, hấp dẫn các nhà đầu tư
trogn và ngoài nước, cho phép tận dụng được những lợi thế so sánh của nền kinh tế, thu hút vốn,
công nghệ, kỹ năng quản lý của bên ngoài và thâm nhập và thị trường thế giới. Chính vì vậy trong
nền kinh tế, vai trò của nhà nước cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với tiền đồ kinh tế
của một đất nước. Việc lựa chọn đúng đắn định hướng phát triển, đề ra các chính sách kinh tế
thích hợp sẽ mở ra triển vọng, cơ hội cho các tổ chức, doanh nghiệp có thể tham gia vào sự phát
triển của đất nước.
Trong cơ chế thị trường, nhà nước không can thiệp vào các hoạt động mang tính chất tác
nghiệp hàng ngày của tổ chức. Việc sản xuất cái gì, bao nhiêu, bằng công nghệ nào, giá cả bao
nhiêu, bán ở đâu… là công việc của từng đơn vị cơ sở và do đòi hỏi của thị trường. Với chức năng
quản lý vĩ mô của mình, Nhà nước đóng vai trò là người tạo môi trường và định hướng cho các
thành phần kinh tế tự do hoạt động. Mặt khác mỗi tổ chức kinh doanh đều hoạt động trong một
môi trường xã hội nhất định, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau. Xã hội
cung cấp những nguồn lực mà tổ chức cần và tiêu thụ những hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra.
Các giá trị chung, thông lệ của xã hội, các tập tục truyền thống, lối sống của dân cư, các hệ tư
tưởng tôn giáo và cơ cấu dân số, thu nhập của dân chúng đều có những tác động nhiều mặt trực
tiếp đến hoạt động của các tổ chức kinh doanh. Do vậy trong quá trình hoạt động đòi hỏi các nhà
quản lý phải có sự sáng tạo trong mỗi quyết định, xử lý linh hoạt các yếu tố của quá trình sản xuất
– kinh doanh, bảo đảm cho tổ chức tồn tại và phát triển vững chắc.
- Biểu hiện của dân chủ:
+ Xác định rõ vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của các cấp trong hệ thống quản lý.
+ Thực hiện đầy đủ chế độ hoạch toán kinh doanh.
+ Xây dựng hệ thống kinh tế nhiều thành phần.
+ Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương.
3. Kết hợp hài hoà các loại lợi ích
Động lực của quản lý là lợi ích, do đó nguyên tắc quan trọng của quản lý là phải chú ý đến
lợi ích của con người, đảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích, trong đó lợi ích của người lao động
là động lực trực tiếp, đồng thời chú ý đến lợi ích của tổ chức và của xã hội.
Adam Smith viết: “không phải từ thiện cảm của anh hàng thịt, của người bán rượu, của
người bán bánh mà chúng ta chờ đợi bữa ăn tối của mình mà từ lợi ích cá nhân của họ. Chúng ta
không kêu gọi lòng nhân ái của họ, mà hướng tới lòng tự ái của họ và chúng ta không báo giờ nói
với họ về sự cần thiết mà bao giờ cũng nói với họ về những mối lợi của họ”.
Về lý thuyết cũng như thực tiễn: lợi ích là mục tiêu, là động lực khiến con người hành
động, vì thế sẽ có sự nhất trí về mục đích và hành động nếu không có sự thống nhất về lợi ích và
nhu cầu:
+ Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào
đó của bản thân.
+ Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực chủ động của con người.
+ Lợi ích còn là phương tiện của quản lý cho nên phải dùng nó để động viên con người.
Nội dung: phải kết hợp hài hoà các lợi ích có liên quan đến tổ chức trên cơ sở những đòi hỏi
của quy luật khách quan.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều lợi ích cần được thoả mãn. Do vậy việc kết
hợp hài hoà các lợi ích phải được xem xét và đề ra ngay từ khi xây dựng các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch kinh tế - xã hội, quá trình hoạt động quản lý đến khâu phân phối và tiêu dùng.
Các kế hoạch và mục tiêu của tổ chức phải phản ánh được lợi ích cơ bản lâu dài của mọi thành
viên, phải quy tụ được quyền lợi của cả hệ thống và phải có tính hiện thực cao. Sự đúng đắn hay
lệch lạc trong vấn đề lợi ích kinh tế không chỉ thuộc phạm vi công cụ, động lực mà trước hết là sự
đúng đắn hay lệch lạc về mục tiêu sản xuất – kinh doanh. Quan điểm lợi ích kinh tế là quan điểm
về mục tiêu, là quan điểm định hướng cơ bản, quan điểm xuất phát từ việc xây dựng cơ chế quản
cách có hiệu năng và hiệu quả. Để có được những phẩm chất và năng lực này đỏi hỏi các nhà quản
lý cần phải nỗ lực không ngừng. Những kiến thức lý thuyết giúp cho việc tư duy có hệ thống, còn
những kinh nghiệm thực tế có thể tự tích luỹ bằng kinh nghiệm của bản thân, đây là cơ sở của việc
nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức. Bởi vậy một mặt những người hoạt động trong
guồng máy hệ thống phải nắm vững chuyên môn nghề nghiệp ở vị trí công tác của mình, mặt khác
họ phải ý thức được mối quan hệ của họ với những người khác và bộ phận khác thuộc guồng máy
chung của cả tổ chức. Mối quan hệ phụ thuộc của mỗi bộ phận và nhân viên thừa hành nhất thiết
phải được xác định rõ ràng, cần phải phân cấp và phân bổ hợp lý các chức năng quản lý, bảo đảm
sự cân xứng giữa các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lợi ích của các bộ phận quản lý. Điều đó
cho phép cán bộ quản lý có thể độc lập giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng của mình.
5. Biết mạo hiểm
Mạo hiểm không phải là liều lĩnh mà là sự “phiêu lưu có tính toán”. Nguyên tắc này đòi hỏi
các nhà lãnh đạo tổ chức phải biết tìm ra các giải pháp độc đáo (nhất là các giải pháp công nghệ)
để tăng sức cạnh tranh cho tổ chức. Giá trị của tính mạo hiểm là ở chỗ, nó đưa tới sự ra đời của
một sản phẩm mới, một cải tiến mới trong công nghệ, đưa ra một phát minh mới về tổ chức quản
lý, nhằm tăng năng suất lao động hoặc phát hiện ra một thị trường mới cho doanh nghiệp.
Một nữ tiến sỹ kinh tế người Mỹ đã điều tra 1.000 người thành đạt trong sự nghiệp kinh
doanh trên thế giới và phát hiện ra ở họ có 12 điểm chung, trong đó tính mạo hiểm “phạm sai lầm
vẫn không nao núng” được coi là một trong những điểm quan trọng nhất.
Dám mạo hiểm phải đi đối với dám chịu trách nhiệm về hậu quả do đó nó đòi hỏi nhà quản
lý phải tự tin trên cơ sở tỉnh táo xem xét cân nhắc. Lòng tự tin giúp nhà lãnh đạo có được các
quyết định táo bạo, gây ra một số “đảo lộn hợp lý, có hiệu quả” nhằm biến đổi tình thế.
Chủ hãng Mitshushia – nơi sản xuất các mặt hàng điện tử mang nhãn hiệu JVC đã rút ra
điều này “Nếu ta tin vào những nguyên tắc vững chắc đến mức ta sẵn sàng biến chúng thành một
bộ phận của con người ta thì không có khó khăn nào mà ta không thể đương đầu và vượt qua. Cứ
nghĩ tới thành công rồi ta sẽ mặc nhiên tạo ra những hoàn cảnh và những cuộc vận động dẫn tới
thành công”.
Một tờ báo Pháp viết “mạo hiểm và tự tin là mẹ đẻ ra tất cả của cải vật chất trên đời ngồn
ngộn sinh sôi nảy nở không ngừng”.
6. Hoàn thiện không ngừng
Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề mang tính quy luật của các tổ chức kinh tế - xã hội.
Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế tiêu dùng. Vấn đề là tiêu dùng hợp lý trên khả
năng và điều kiện cho phép. Trong nhiều trường hợp cần phải kích thích tiêu dùng để kích thích
tiêu dùng để khắc phục tình trạng thiểu phát, thúc đẩy sản xuất phát triển. Tiết kiệm cũng không
phải là chi ít tiền mà là chi tiêu và sử dụng đồng tiền sao cho có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm
hàng hoá có chất lượng cao, giá thành hạ, thoả mãn nhu cầu của thị trường. Khi cần thiết phải tăng
chi phí bằng cách đầu tư nhằm tạo việc làm và tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ cho xã hội.
Hiệu quả được xác định bằng cách đầu tư nhằm tạo việc làm và tăng khối lượng hàng hoá dịch vụ
cho xã hội. Hiệu quả được xác định bằng kết quả so với chi phí. Từ đó muốn tăng hiệu quả phải
bằng cách tăng kết quả và giảm chi phí. Tăng kết quả bằng cách tăng năng suất lao động. Giảm
chi phí bằng cách tiết kiệm các yếu tố đầu vào và tiết kiệm thời gian. Cũng có thể tăng hiệu quả
bằng cách tăng chi phí sản xuất để tăng kết quả với tốc độ nhanh hơn và quy mô lớn hơn. Như vậy
giữa tiết kiệm và hiệu quả có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Hiệu quả chính là tiết kiệm theo nghĩa
rộng và đầy đủ nhất.
Hoạt động quản lý chỉ cần thiết và có ý nghĩa khi chủ thể quản lý biết lấy vấn đề tiết kiệm
và hiệu quả làm nguyên tắc hoạt động
Câu 11: Trình bày khái niệm và đặc điểm và yêu cầu của quyết định quản lý?
1. Khái niệm
Quyết định quản lý là việc ấn định hay tuyên bố lựa chọn của chủ thể quản lý về một hoặc
một số phương án để thực hiện những công việc cụ thể trong điều kiện hoàn cảnh nhất định nhằm
hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
Mỗi quyết định quản lý nhằm trả lời một hoặc một số những câu hỏi sau: Tổ chức cần làm
gì? Khi nào làm cái đó? Làm trong bao lâu? Ai làm? Và làm như thế nào?
Trả lời các câu hỏi: Tổ chức cần làm gì? Khi nào làm cái đó? Làm trong bao lâu? Thường là
những quyết định kế hoạch. Tổ chức trong năm tới cần đạt được những mục tiêu nào? Mức độ
mỗi mục tiêu đó ra sao? Để đạt được những mục tiêu đó tổ chức cần thực hiện những nhiệm vụ
nào?
Trả lời câu hỏi: Ai làm? Thường là những quyết định tổ chức. Để hoàn thành nhiệm vụ kế
hoạch, hệ thống quản lý và hệ thống sản xuất của tổ chức cần được sắp xếp ra sao?
Trả lời câu hỏi: Làm như thế nào? Thường là những quyết định kế hoạch và lãnh đạo. Đây
hay một tổ chức.
3. Yêu cầu của quyết định quản lý:
2. Yêu cầu đối với quyết định quản lý:
Quyết định quản lý chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
2.1. Tính hợp pháp:
Trong một Nhà nước pháp quyền mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo
pháp luật. Quyết định quản lý là hành vi của tập thể hoặc cá nhân các nhà quản lý nên nó phải
tuân theo pháp luật. Tính hợp pháp của quyết định quản lý được thực hiện trên các khía cạnh:
- Quyết định được đưa ra trong phạm vi thẩm quyền của tổ chức hoặc cá nhân.
- Quyết định không trái với nội dung mà pháp luật quy định.
- Quyết định được ban hành đúng thủ tục và thể thức.
Mọi quyết định quản lý không đảm bảo tính pháp lý đều bị đình chỉ hoặc huỷ bỏ. Người
hoặc tổ chức đưa ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2.2. Tính khoa học:
Tính pháp lý chưa đủ đảm bảo cho quyết định có hiệu quả. Muốn có hiệu quả các quyết
định phải có tính khoa học. Một cách chung nhất, các quyết định có tính khoa học là các quyết
định phù hợp với lý luận và thực tiễn khách quan. Nó không chỉ dựa trên cơ sở lý thuyết mà còn
dựa trên cơ sở phân tích chính xác thực tiễn khách quan. Yêu cầu về tính khoa học của quyết định
quản lý được thể hiện trên các khía cạnh:
- Quyết định phù hợp với định hướng và mục tiêu của tổ chức.
- Quyết định phù hợp với quy luật, các xu thế khách quan, các nguyên tắc và nguyên lý
khoa học.
- Quyết định đưa ra trên cơ sở vận dụng các phương pháp khoa học.
- Quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể, với tình huống cần đưa ra quyết định, kể cả thế
và lực cũng như môi trường tổ chức.
5.3. Tính hệ thống (thống nhất):
Tính hệ thống của quyết định quản lý được thực hiện trên các khía cạnh:
- Không gian: các quyết định được ban hành bởi các cấp và bộ phận chức năng phải thống
nhất theo cùng một hướng. Hướng đó do mục tiêu chung xác định.
- Thời gian: Các quyết định được ban hành tại các thời điểm khác nhau không được mâu
- Quyết định ngắn hạn: là các quyết định quản lý có hiệu lực trong khoảng thời gian dưới 1
năm.
3. Theo quy mô nguồn lực: sử dụng để thực hiện quyết định (H – N – F – P – S):
- Quyết định lớn: là quyết định sử dụng một khối lượng lớn các nguồn lực của tổ chức.
Chẳng hạn: vốn lớn, lao động nhiều.
- Quyết định vừa: là quyết định sử dụng ít các nguồn lực hơn so với quyết định lớn.
- Quyết định nhỏ: là quyết định sử dụng ít nguồn lực cho việc thực hiện, triển khai thực
hiện.
Các quyết định lớn, vừa, nhỏ chỉ là cách phân chia tương đối, tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố.
Một quyết định ở tổ chức này thì xem là quyết định lớn, song ở một tổ chức khác lại xem là quyết
định vừa thậm chí là nhỏ. Cùng một tổ chức, ở giai đoạn này quyết định được xem là lớn, xong ở
giai đoạn khác lại được xem là vừa…
4. Theo phạm vi của quyết định:
- Quyết định chiến lược: mang tính định hướng phát triển trong thời gian tương đối dài và
có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau.
- Quyết định chiến thuật: mang tính định lượng, liên quan tới nội dung và cách thức thực
hiện những nhiệm vụ và công việc cụ thể.
- Quyết định tác nghiệp: nhằm xử lý các tình huống cụ thể hàng ngày của tổ chức (căn cứ
vào quyết định chiến lược.
Theo phạm vi của quyết định có thể chia quyết định làm hai loại khác:
- Quyết định toàn cục: là quyết định mà phạm vi điều chỉnh đối với mọt bộ phận và cá nhân
trong tổ chức.
- Quyết định bộ phận: là quyết định chỉ điều chỉnh một số bộ phận, một cá nhân nhất định
trong tổ chức.
5. Theo mức độ ổn định hay không ổn định của quyết định:
- Quyết định chương trình hoá: vè một vấn đề thường xuyên nảy sinh, quy trình thực hiện
rõ ràng, có tính ổn định và lặp lại, do đó dễ ban hành và thường tốn ít thời gian.
- Quyết định phi chương trình hoá: về những vấn đề chưa có tiền lệ, hay là một vấn đề
phức tạp và quan trọng, do đó nội dung của loại quyết định này thường là mới và không có cấu
trúc.
- Quyết định chuẩn mực (chung): là những quyết định nhằm đưa ra những căn cứ có tính
nguyên tắc cho việc xử lý các tình huống cụ thể hàng ngày. Ví vụ: các quyết định quy phạm pháp
luật.
- Quyết định riêng biệt: là những quyết định nhằm xử lý một tình huống cụ thể với đối
tượng cụ thể. Ví dụ: quyết định khen thưởng hay kỷ luật một thành viên của tổ chức.
Loại quyết định chung và riêng biệt này có những dấu hiệu tương đồng với quyết định
chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp.
Câu 13: Trình bày các cơ sở và nguyên tắc cơ bản trong quá trình ra quyết định?
Trả lời:
1. Các cơ sở để ra quyết định trong quản lý:
Cơ sở để ra quyết định trong quản lý bao gồm có kinh nghiệm, trực giác, thực nghiệm,
nghiên cứu và phân tích (vận trù học, cây quyết định, lý thuyết trò chơi) và phương pháp chuyên
gia.
Trước hết cần hiểu trực giác là gì:
1.1. Căn cứ để xây dựng quyết định quản lý:
- Căn cứ vào mục tiêu: đặc điểm, tính chất và quy mô của mục tiêu (nhiệm vụ) để lựa chọn
hình thức, phương thức ra quyết định.
- Căn cứ thực trạng nguồn lực của tổ chức nhằm xem tính khả thi của phương án.
Trực
giác
Các QĐ dựa trên giá trị
đạo đức hoặc văn hoá
Các QĐ dựa trên
kinh nghiệm
Các QĐ dựa trên cảm xúc
và cảm giác
Các QĐ dựa trên kỹ năng,
kiến thức hoặc tập huấn
Các QĐ dựa trên các dữ
liệu tiềm thức
+ Thông tin mơ hồ: Thông tin có thể diễn đạt theo nhiều cách và mâu thuẫn nhau.
- Nhiều người quản lý có xu hướng lựa chọn thông tin vi nó sẵn có hơn là chất lượng của
nó. Những thông tin quan trọng thường ít trọng lượng hơn những thông tin dễ kiếm.
- Có thể có được những thông tin có chất lượng cao nhưng lại tốn thời gian và tiền bạc. Tổ
chức đưa ra những giới hạn về thời gian và chi phí cho người ra quyết định, điều này cũng có
nghĩa là giới hạn luôn có khả năng tìm kiếm phương án của họ. Kết quả là các phương án thường
được tìm kiếm ở xung quanh những phương án cũ đã có trước đây.
- Có những giới hạn về khả năng xử lý thông tin của từng cá nhân: Phần lớn mọi người chỉ
có khả năng nhớ được khoảng 7 mẫu in trong mỗi thời gian ngắn. Đứng trước các quyết định phức
tạp, con người thường lập ra những mô hình đơn giản cho phép họ tinh giản vấn đề theo những
thông số có thể hiểu được.
b. Người ta quyết định có xu hướng nhầm lẫn vấn đề với giải pháp.
Không chắc
chắn
và rủi ro
Thông tin
không
đẩy đủ
Thông tin
mơ hồ
Hạn chế thời gian
và chi phí thông tin