PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH TƯỜNG
TRƯỜNG THCS CHẤN HƯNG
............0O0............
CHUYÊN ĐỀ
CÁC DẠNG BÀI TẬP CƠ BẢN VỀ NỒNG ĐỘ
DUNG DỊCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH
HÓA HỌC THCS
Năm học 2015 – 2016
1
MỤC LỤC
Nội dung
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Khách thể nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở khoa học
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn.
2.Thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
3. Các giải pháp cụ thể.
Chương 2: Cơ sở và tổng quan
1. Dung dịch
1.1. Dung môi, chất tan, dung dịch
7
8
8
8
8
8
8
9
9
9
9
10
10
11
11
14
16
22
27
2
1. Những bài toán pha trộn dung dịch không xảy ra phản ứng hóa học có
thể giải nhanh bằng phương pháp đường chéo.
2. Dùng phương trình pha trộn.
3. Tóm tắt bài toán và hướng dẫn bằng phương pháp đi lên.
PHẦN III: BÀI DẠY MINH HỌA CHUYÊN ĐỀ
PHẦN IV: KẾT LUẬN
1. Hiệu quả của chuyên đề
2.Bài học kinh nghiệm.
khăn cho học sinh và nghiên cứu phương pháp giúp học sinh học tập và giải bài tập
hoá học đơn giản và hiệu quả nhất, giúp học sinh tránh cảm giác sợ học môn Hoá
học, tránh kiểu học đối phó là dựa vào sách giải.
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lí
luận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể hoạt
động nhận thức, học trong hoạt động. Học sinh bằng hoạt động tự lực, tích cực của
mình mà chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp
phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo. Tăng cường
tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập là một
yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự lực tham gia sáng tạo, trong quá
trình nhận thức. bộ môn hóa học ở phổ thông cơ sở có mục đích trang bị cho học
sinh hệ thống kiến thức cơ bản, bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, phân loại
chất và tính chất của chúng. Việc nắm vững các kiến thức cơ bản góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo ở bậc phổ thông,chuẩn bị cho học sinh tham gia các hoạt
động sản xuất và các hoạt động sau này.
Để đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lí thuyết thì hệ thống
bài tập nồng độ dung dịch giúp cho ngưới giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả học
tập của học sinh từng phần học, từ đó phân loại học sinh để có kế hoạch sát với đối
tượng. Qua đây bản thân tôi thấy rõ nhiệm vụ của mình trong giảng dạy cũng như
trong việc giáo dục học sinh.
4
Người giáo viên muốn nắm vững chương trình hóa học phổ thông, thì ngoài
việc nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy còn cần nắm vững
các dạng bài tập hóa học của từng chương trong đó có bài tập về nồng độ dung
dịch, hệ thống các bài tập cơ bản nhất và cách giải tổng quát nhất cho từng dạng bài
tập.
Những kiến thức về nồng độ dung dịch rất đa dạng và phong phú, với những
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Do công việc nên thời gian có hạn, tôi chỉ nghiên cứu một số dạng bài toán
toán cơ bản về nồng độ dung dịch trong chương trình hóa học THCS:
5
- Dạng toán pha loãng và cô đặc.
- Dạng toán pha trộn không xảy ra phản ứng hóa học.
- Dạng toán pha trộn có xảy ra phản ứng hóa học.
- Dạng toán về khối lượng chất kết tinh.
IV. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
HS đã và đang học lớp 8,9 trường THCS Chấn Hưng
V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
Phương pháp trao đổi kinh nghiệm: Tiến hành trao đổi kinh nghiệm, học hỏi
từ đồng nghiệp, các kiến thức có liên quan đến việc nghiên cứu và tích lũy qua các
tiết dự giờ của đồng nghiệp.
Phân tích lí thuyết, tổng hợp sách, và sử dụng một số phương pháp thống kê
toán học trong việc phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm….
Phương pháp tham khảo tài liệu: nghiên cứu một số tài liệu về phương pháp
giải các bài toán có liên quan đến phạm vi nghiên cứu, các định luật hóa học. Tham
khảo các tài liệu đã được biên soạn và phân tích hệ thống các dạng bài toán hóa học
theo nội dung đề ra. Trên cơ sở đó tôi đã trình bày cơ sở lí thuyết và các dạng bài
tập về nồng độ dung dịch đã sưu tầm và nghiên cứu để nâng cao khả năng trí tuệ
học sinh.
VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Phạm vi: Môn hóa lớp 8-9
- Thời gian nghiên cứu trong năm học 2012 – 2013 và thực hiện trong năm
học 2013 – 2014, năm học 2014 – 2015.
PHẦN II : NỘI DUNG
cách sinh động, phong phú và hấp dẫn. Thông qua bài tập, học sinh phải tích cực
suy nghĩ để tìm ra cách giải, từ đó hình thành được kỹ năng giải từng loại bài tập.
2. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, chất lượng học sinh có nhiều thay đổi, đặc biệt là
môn hóa học. Rất nhiều em không giải được những bài toán cơ bản, thậm chí
không viết được phương trình và cả tính số mol, điều này khiến cho những giáo
viên giảng dạy môn hóa rất đau lòng, một vài em cảm thấy rất sợ khi vào tiết học
môn hóa.
Để ngày càng nâng cao về chất lượng dạy học môn hóa, nhằm giúp học sinh
chủ động hơn trong việc tự học ở nhà nên việc kiểm tra đánh giá học sinh có sự
lồng ghép của bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan. Qua nhiều năm công tác
tôi nhận thấy được phần lớn học sinh còn lúng túng với việc giải bài tập hóa học
chủ yếu là bài toán về nồng độ dung dịch. Nguyên nhân là các em chưa hiểu được
cách giải và phương pháp giải hợp lí. Từ đó dẫn đến chất lượng bộ môn thấp so với
mặt bằng chung của toàn huyện:
Chất lượng bộ môn hóa: (năm học 2012 – 2013)
TSHS
85
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Số lượng
Tỉ lệ
Sở dĩ còn hạn chế như vậy là do học sinh chưa có một phương pháp giải bài
bài tập hóa học hợp lí, chưa có phương pháp giải cụ thể và không phân biệt được
những dạng bài tập hóa học, nhiều học sinh đang còn lúng túng, hay bị nhầm lẫn,
không xác định được hướng đi, chưa phân biệt giữa các khái niệm về độ tan với
7
nồng độ phần trăm, khi tính nồng độ cần phải tìm gì thậm chí cả những học sinh
khá giỏi cũng thấy khó khăn khi gặp phải, hay nhầm hoặc hiểu chưa đúng bản chất
của vấn đề. Vì vậy, việc học tập thực nghiệm của học sinh chưa đồng đều, khả năng
tổng hợp kiến thức của học sinh chưa cao.
Để giúp các em hiểu rõ hơn về phương pháp phương pháp giải bài tập hóa
học, đặc biệt là những dạng bài tập và phương pháp rất gần gũi với các em. Tôi đã
chọn đề tài “ Các dạng bài tập cơ bản về nồng độ dung dịch trong chương
trình hóa học THCS” để nghiên cứu và tìm biện pháp dạy phù hợp cho các em.
3. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
3.1. Đối với Giáo viên
Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm cho học sinh một cách khoa học.
Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải
thật sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối
tượng học sinh.
Tận dụng mọi thời gian để có thể hướng dẫn giải được lượng bài tập là nhiều
nhất, có hiệu quả nhất cho học sinh và học sinh dễ hiểu nhất.
Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực trung
bình, yếu. Không ngừng tạo tình huống có vấn đề đối với các em học sinh khá giỏi.
3.2. Đối với Học sinh
*Về kiến thức
Là phương tiện để ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất.
Rèn khả năng vận dụng kiến thức đã học, kiến thức tiếp thu được qua bài giảng
thành kiến thức của mình, kiến thức được nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên.
1. DUNG DỊCH
1.1. Dung môi - Chất tan – Dung dịch
Dung môi là chất có khả năng hòa tan chất khác tạo thành dung dịch .
Chất tan là chất bị hòa tan trong dung môi.
Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất giữa dung môi và chất tan.
Ví dụ: Hòa tan đường kết tinh saccarozo(r) vào nước ta được dung dịch nước
đường có vị ngọt.
Ta nói saccarozo là chất tan và nước là dung môi.
Lưu ý phân biệt chất tan và chất hòa tan.
Hòa tan SO3 vào nước ta có phản ứng hóa học xảy ra như sau:
SO3 + H2O
H2SO4
Như vậy trong dung dịch có chất tan là axit sunfuric H 2SO4. Vì vậy ta nói
SO3 là chất hòa tan. Ta cần phân biệt rõ để tránh nhầm lẫn trong tính toán nồng độ
dung dịch.
Muốn cho quá trình hòa tan chất rắn trong nước xảy ra nhanh hơn ta phải
nghiền nhỏ chất rắn , khuấy và đun nóng dung dịch.
1.2. Dung dịch chưa bão hòa – Dung dịch bão hòa
Ở nhiệt độ xác định:
- Dung dịch chưa bão hòa là dung dịch có thể hòa tan thêm chất tan.
- Dung dịch bão hòa là dung dịch không thể hòa tan thêm chất tan.
2. ĐỘ TAN CỦA MỘT CHẤT TRONG NƯỚC
2.1. Chất tan và chất không tan
Sự hiểu biết về tính tan của chất là kiến thức cần thiết. Từ thực tiễn khi làm
thực hành các em sẽ tích lũy được kiến thức đó và nếu cần thì tham khảo thêm tài
liệu.
9
Sau đây là một số các điều cơ bản có thể học thuộc được:
Nồng độ phần trăm (kí hiệu C%) của một dung dịch cho ta biết số gam chất
tan có trong 100 gam dung dịch.
Công thức tính:
mct
C%=
x 100%
mdd
Trong đó: mct là khối lượng chất tan (g)
mdd: là khối lượng dung dịch (g)
mdd= mdm + mct
10
3.2.Nồng độ mol của dung dịch (CM)
Nồng độ mol (kí hiệu CM ) của dung dịch cho biết số mol chất tan có
trong một lít dung dịch.
Công thức tính:
n
(mol/l)
CM=
v
Trong đó: n là số mol
V là thể tích dung dịch.
3.3. Mối quan hệ giữa nồng độ mol (CM)và nồng độ phần trăm (C%)của
dung dịch
- Công thức chuyển đổi từ nồng độ % sang CM
10D
CM= C% x
M
C =
S+100
100 - C
CHƯƠNG 3: NHỮNG DẠNG BÀI TẬP CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN
NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH
Nhìn chung toán về nồng độ có những dạng cơ bản sau:
Toán pha loãng hay cô đặc .
Toán pha trộn không xảy phản ứng hoá học .
Toán pha trộn có xảy phản ứng hoá học.
Toán về khối lượng chất kết tinh.
Mỗi dạng toán có cách giải riêng, để tránh sai sót trong giải toán ta cần nắm
vững lý thuyết và luyện tập kỹ.
1. ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠNG TOÁN PHA LOÃNG VÀ CÔ ĐẶC
1.1. Đặc điểm của dạng toán pha loãng
Pha loãng dung dịch là thêm nước vào dung dịch có sẵn.
• Đối với nồng độ C %
- Khối lượng chất tan không thay đổi
mdung dịch1. C1% = m dung dich2.C2%
- Khối lượng dung dích sau = khối lượng dung dịch đầu + khối lượng nước
thêm vào.
- Nồng độ C% dung dịch thu được có giá trị nhỏ hơn giá trị ban đầu .
• Đối với nồng độ CM
- Số mol chất tan không thay đổi :
Vdd1 . CM1 = Vdd 2 .CM2
- Thể tích dung dịch sau = thể tích dung dịch đầu + thể tích dung dịch nước
thêm vào.
- Nồng độ CM dung dịch thu được có giá trị nhỏ hơn giá trị ban đầu.
Vdd1 =200 ml
Vdd2 = V + 200 ml
Do khi pha loãng số mol chất tan không thay đổi nên :
Vdd 1.CM1 =Vdd 2.CM2
Vdd 2 =
0, 2.1
= 0, 66667(l ) = 666, 67(ml )
0,3
⇒
V + 200 = 666,67
⇒ V = 666,67 – 200 = 466,67 (ml)
BÀI TẬP LUYỆN THÊM
1.Tính thể nước cần thêm vào 250 ml dung dịch HCl 1,25 M để tạo thành
dung dịch HCl 0,5 M (giả sử sự hoà tan không làm thay đổi thể tích dung dịch thu
được).
Đáp số : Vnước = 0,375 l
(Sách 500 bài tập hoá học THCS )
2. Muốn thêm nước vào 2 lít dung dịch NaOH 1M để thu được dung dịch có
nồng độ 0,1M thì lượng nước phải thêm vào là bao nhiêu?
Đáp số : Vnước =18 lít
( Sách 400 bài tập hoá học 8)
1.2. Đặc điểm của dạng toán cô đặc
Cô đặc là đun nóng để nước ở trong dung dịch bay hơi, lúc đó lượng chất tan
giữ nguyên Nồng độ giảm .
Một số thuật ngữ:
+ Cô cạn: Bay hơi hết nước, sau khi cô cạn chỉ còn chất khan.
15.80
= 60( g )
20
⇒
80 –x = 60
⇒
x = 20 gam
Ví dụ 2: Có sẵn 300 ml dung dịch Ba(NO3)2 2M. Nếu làm bay hơi bởi 20 ml
nước thì dung dịch thu được có nồng độ M bằng bao nhiêu?
Giải
Dung dịch (1) Ba(NO3)2 + H2O dung dịch (2) Ba(NO3)2
CM1 = 2M
CM 2 = ? M
Vdd1 = 300 ml
Vdd2 = 300 – 20 = 280 ml
Do khi cô đặc số mol chất tan không thay đổi nên:
Vdd1. CM1 = Vdd2. CM 2
CM =
300.2
= 2,14 M
280
14
mdd : 50
150
50+150=200
mct : 10
22,5
10+22,5=32,5
C1%: 20
15
?
C% =
32,5
.100% = 16, 25%
200
Ví dụ 2: Cho thêm 9,8 gam H2SO4 vào 200ml dung dịch H2SO4 1,5M . Hỏi
nồng độ mọl/lít của dung dịch (X) thu được ?
15
Hướng dẫn giải:
Dung dịch (1) + chất tan dung dich (X)
Vdd :
200
200
nct :
0,3
0,1
0,3 + 0,1 = 0,4
- Lưu ý là khi trong một dung dịch đồng thời chứa nhiều chất tan thì mỗi
chất tan có một nồng độ riêng ( do lượng chất tan khác nhau).
- Sau đó áp dụng công thức tính nồng độ để được kết quả.
VD1: Trộn lẫn 200 ml dung dịch NaCl 1M với 300 ml dung dịch HCl 2M.
Tính nồng độ M của mỗi chất trong dung dịch sau khi trộn.
Giải:
Ta có: nNaCl = 0,2 . 1 = 0,2 mol.
nHCl = 0,3 . 2 = 0,6 mol.
Khi trộn hai dung dịch trên thì:
16
Vdd = 0,2 + 0,3 = 0,5 lít.
0,2
0,6
Vậy: CM NaCl= 0,5 = 0,4 M và CM HCl= 0,5 = 1,2M
BÀI TẬP LUYỆN THÊM
1. Trộn 10ml dung dịch H2SO4 với 10ml dung dịch HCl rồi chia dung dịch
thu được thành hai phần bằng nhau.
• Phần thứ nhất cho tác dụng với dung dịch BaCl2 được 6,99g kết tủa.
• Phần thứ hai cho tác dụng với Na2CO3 dư tạo ra 896ml khí ở đktc.
Xác định nồng độ M của mỗi axit trước khi trộn.
2. Có hai dung dịch H2SO4 80% và HNO3 chưa rõ nồng độ. Hỏi phải trộn hai
dung dịch này theo tỉ lệ khối lượng là bao nhiêu để được một dung dịch mới trong
đó H2SO4 có nồng độ là 60% và HNO 3 có nồng độ là 20%. Tính nồng độ phần
trăm của dung dịch HNO3 ban đầu.
3. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DẠNG TOÁN PHA TRỘN CÓ XẢY RA
PHẢN ỨNG HÓA HỌC
17
Hoặc: mdd sau phản ứn g = ∑ mcác chất tham gia – m kết tủa – m khí
Thể tích dung dịch sau = Tổng các thể tích dung dịch.
3.2.Chú ý: Trong hoá học người ta nói chất kết tủa hay khí thoát ra khỏi hệ
dung dịch nên làm cho khối lượng dung dịch tăng (hay giảm), nhưng thể tích dung
dịch coi như không thay đổi.
Trường hợp có hai chất tham gia phản ứng đều cho biết số mol (hoặc khối
lượng) của hai chất, thì lưu ý có thể có một chất dư. Khi đó tính số mol (hoặc khối
lượng) chất tạo thành phải tính theo lượng chất không dư.
Nếu đề bài yêu cầu tính nồng độ phần trăm các chất sau phản ứng, nên tính
khối lượng chất trong phản ứng theo số mol, sau đó trừ đi số mol quy ra khối lượng
để tính nồng độ phần trăm.
3.3.Ví dụ minh hoạ :
Ví dụ 1: Cho 8 gam SO3 vào 100 ml dung dịch H2SO4 1 M. Tính nồng độ CM
của dung dịch (A) thu được.
Giải:
nH 2SO4
8
= 80 = 0,1 mol
Phương trình phản ứng:
SO3 + H2O H2SO4
n
H 2SO4 = 0,1 mol
mH 2 = 0,05 . 2 = 0,1 gam
mdd (g):
mct (g):
C% :
dung dịch (1) + chất tan
200
20
4
10
dung dịch (Y)
200+ 2,3 -0,1 = 202,2
20 +4 = 24
?
24
C% (dd Y) = 202,2 = 10,1%
Ví dụ 3: Pha trộn 208 gam dung dịch BaCl2 10% với 142 gam dung dịch
Na2SO410%. Tính nồng độ % dung dịch thu được sau phản ứng?
Giải
BaCl2 + Na2SO4
BaSO4 + 2NaCl
nBaCl2 = 0,1 mol
nH 2SO4 = 0,05 mol
nNa2CO3 =0,01 mol
Phương trình phản ứng :
H2SO4 + Na2CO3 Na2SO4 + CO2 + H2O
mol 0,05
0,01
0,01
19
Từ phương trình phản ứng ta biết sau phản ứng:
H2SO4 dư
Sản phẩm tan là Na2SO4
Như vậy trong dung dịch sau phản ứng có hai chất tan là:
H2SO4 (0,05-0,01 = 0,04 mol) và Na2SO4 (0,01 mol).
Mặc dù có khí thoát ra nhưng thể tích dung dịch sau vẫn được coi như bằng
tổng thể tích hai dung dịch đầu:
V dung dịch sau = 500 + 100 = 600 ml = 0,6 (l)
Vậy:
0,04
CM(H2SO4) = 0,6 = 0,067 M
0,01
CM(Na2SO4) = 0,6 = 0,017 M
BÀI TẬP LUYỆN THÊM
Câu 1. Hòa tan hết 19,5 gam K vào 261ml nước. Tính nồng độ % của dung
dịch thu được (cho rằng nước bay hơi không đáng kể).
Số mol Kali :
Khi hòa tan ta có phản ứng :
2K + 2H2O
2 KOH + H2
Có 2 mol
2 mol
1 mol
Vậy 0,5 mol
0,5 mol 0,25 mol.
mt = mKOH = 0,5 .56 = 28 (g)
mdd = mKOH + mH 2O − mH 2
= 19,5 +261.1 – 0,25 . 2 = 280 (g)
C% =
28
.100 = 10 %
280
Câu 2 : Đáp số : 22,6 %.
Câu 3 :
Gọi x, y lần lượt là số mol của Na, Na2O có trong hỗn hợp đầu,
3,36
nH2 = 22,4 = 0,15 mol
a. Ta có PTHH : 2Na + 2H2O
2NaOH + H2 (1)
mZn = 22,75 gam
Câu 5.
21
a)
mHCl =5. 0,5. 36,5= 91,25 g HCl
Khối lượng dung dịch HCl 36% cần dùng là :
Vdd cần dùng:
253,47
1,19
91,25.100
= 253,47 (g)
36
= 213 (ml)
b)
(1) nHCl = 0,2 .1 = 0,2 mol
2 Al + 6HCl
2AlCl3+ 3H2
2 mol
6 mol
3 mol
0,2 mol
1
1
nHNO3 + nHCl
2
2
1
2
Hoặc: 0,15. 0,2 = ( 0,005 .x +0,1 .0,1)
Rút ra:
x = 1 mol/l
Ghi chú:
-Những bài toán pha trộn dung dịch có phản ứng liên quan đến C% tương
đối khó hơn với CM. Tuy nhiên về mặt nhận thức thì lại cần thiết giúp các em luyện
tập tư duy.
- Thông thường khi cho kim loại hoặc oxit kim loại kiềm tác dụng với nước
thì kim loại hoặc oxit kim loại thường hết, dư nước. Do đó trong một số trường hợp
không cần tính lượng nước tham gia mà công nhận nó dư. Điều này phù hợp vì khi
tạo thành dung dịch thì bắt buộc trong dung dịch phải có nước.
22
- Khi cho kim loại kiềm tác dụng với dung dịch axit thì kim loại phản ứng
với axit trước, nếu còn dư kim loại , kim loại sẽ phản ứng với nước trong dung
dịch. Do vậy khí H2 được tạo thành do cả 2 phản ứng.
4. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DẠNG TOÁN VỀ KHỐI LƯỢNG CHẤT
KẾT TINH
Khối lượng chất kết tinh chỉ tính khi độ tan đã vượt quá độ bão hòa của dung
a/ Cách làm:
Dùng định luật bảo toàn khối lượng để tính
mdd (tạo thành) = m tinh thể + m dd ( ban đầu)
m ct (mới) = mct ( trong tinh thể) + m ct (trong dung dịch ban đầu)
( Có thể sử dụng công thức đường chéo để tính. Với điều kiện coi tinh thể
ngậm nước như một dung dịch và ta luôn tính được nồng độ % của dung dịch này.)
b/ Ví dụ:
* Bài toán 1.
Kết tinh 500 ml dung dịch Fe(NO3)3 0,1 M thì thu được bao nhiêu gam tinh
thể Fe(NO3)3.6H2O
Giải:
23
Khi kết tinh dung dịch Fe(NO3)3 + 6H2O
Số mol Fe(NO3)3.6H2O bằng số mol Fe(NO3)3 bằng
Fe(NO3)3.6H2O
500.0,1
= 0, 05( mol )
1000
Khối lượng tinh thể Fe(NO3)3.6H2O thu được là: 0,05 . 350 = 17,5 (g)
* Bài toán 2.
Để điều chế 560 gam dung dịch CuSO 4 16% cần phải lấy bao nhiêu gam
dung dịch CuSO4 8% và bao nhiêu gam tinh thể CuSO4.5H2O
Giải:
Đặt khối lượng dd CuSO4 8% cần lấy là x gam, và khối lượng CuSO 4.5H2O
là y gam.
Khối lượng CuSO4 có trong dung dịch CuSO48% là:
Tính khối lượng mol của tinh thể ngậm nước, tính khối lượng chất tan (nước)
có trong 1 mol tinh thể ngậm nước
Dựa vào quy tắc tam suất tìm khối lượng chất tan (nước) trong m gam tinh
thể ngậm nước này.
b/ Ví dụ :
* Bài toán 1: Tính khối lượng CuSO4 có trong 1 kg CuSO4. 5H2O .
Giải
Trong 270 kg CuSO4. 5H2O có 160 kg CuSO4
24
Vậy 1kg CuSO4. 5H2O có x (kg) CuSO4
x=
160
= 0,59 (kg)
270
* Bài toán 2: Tính % khối lượng nước kết tinh trong xođa Na2CO3.10H2O
Giải
% H2O =
10.18
. 100% = 62,9 %
286
Vậy % khối lượng nước kết tinh trong xođa Na2CO3.10H2O là 62,9 %
BÀI TẬP LUYỆN THÊM
Câu 1. Cần lấy bao nhiêu gam CaCl2.6H2O để khi hòa tan vào nước thì thu
được 200 ml dung dịch CaCl2 30% (D = 1,28 g/ml).
= 151 (g) CaCl2 . 6 H2O.
111
Câu 2:
Ở 20oC , 100gam nước hòa tan 35,1 gam MgSO4 tạo ra 135,1 gam dung dịch
Vậy :
Trong 135,1 gam dung dịch có 35,1 gam MgSO4
25