TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÝ
THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ VẬT LÝ 11 CƠ BẢN
SỬ DỤNG LECTUREMAKER 2.0
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ CÔNG NGHỆ
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Vương Tấn Sĩ
Nguyễn Thị Thủy Tiên
MSSV: 1117616
Lớp: Sư phạm Vật lý - Công nghệ
Khóa : 37
Cần Thơ, 2015
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu,
kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo
của luận văn
Cần Thơ, ngày 20 tháng 04 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thủy Tiên
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI............................................................................................1
3.
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................................2
1.3.3. Sử dụng một số phương pháp đặc thù của bộ môn Vật lí nhằm thúc
đẩy tính tích cực trong học tập của học sinh ....................................................7
2. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ .....9
2.1. Lí do sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học 9
2.2. Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học
Vật lí 10
2.2.1. Sử dụng MVT làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin. .......10
2.2.2. Sử dụng MVT để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí nghiệm. .....10
2.2.3 Sử dụng MVT để tự động hóa các thí nghiệm Vật lí ...........................10
2.2.4. Sử dụng MVT để tích hợp với các PTDH hiện đại. ............................11
2.2.5. Sử dụng MVT kết hợp với Multimedia................................................11
2.3. Giáo án điện tử
12
2.3.1 Khái niệm giáo án điện tử .......................................................................12
2.3.2. So sánh giáo án điện tử với giáo án truyền thống ................................12
2.3.3. Các tiêu chí đánh giá ...............................................................................13
2.3.4. Quy trình thiết kế giáo án điện tử .........................................................13
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM LECTUREMAKER ......................16
1. SƠ LƯỢC VỀ PHẦN MỀM LECTUREMAKER .........................................16
1.1. Giới thiệu 16
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
i
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
2.1. Mục tiêu, yêu cầu của bài giảng. 52
2.2. Thiết kế bài giảng. 53
3. Thiết kế giáo án điện tử Bài 34 KÍNH THIÊN VĂN .....................................58
3.1. Mục tiêu, yêu cầu của bài giảng. 58
3.2. Thiết kế bài giảng. 59
PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................... 63
I.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI ...............................................................63
II. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI .......................................63
III. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI ...............................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 64
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
ii
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng để hoàn thành cuộc cách mạng công
nghiệp hóa và hiện đại hóa. Để nhanh chóng phát triển kinh tế và hội nhập với thế giới,
chúng ta cần có đội ngũ những người lao động, những cán bộ khoa học kỹ thuật có trình
độ kỹ thuật cao, có năng lực tư duy sáng tạo và có khả năng độc lập giải quyết vấn đề.
tiếp thu được và những kiến thức thực sự có chất lượng, sâu sắc và vững chắc. Trước
những yêu cầu đó, việc áp dụng CNTT vào giảng dạy Vật lí là một giải pháp hiệu quả.
Và một trong những ứng dụng quan trọng đó là sử dụng các phần mềm giáo dục để soạn
các giáo án điện tử (GAĐT) hỗ trợ cho GV trong quá trình dạy học.
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
1
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
Một trong những phần mềm để thiết kế GAĐT đó là Lecturemaker 2.0 - đây là
phần mềm mới với những tính năng thích hợp và thuận lợi cho việc soạn GAĐT. Chẳng
hạn, người sử dụng có thể chèn những thông tin đa phương tiện như các bài giảng đã
được thiết kế trên các phần mềm khác như PowerPoint, Acrobat, những đoạn audio,
video, web tĩnh hoặc tạo ra những câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, câu trắc nghiệm trả lời
ngắn, ô chữ. Thậm chí trong quá trình lên lớp, GV và HS có thể tương tác trực tiếp trên
slide trình chiếu. Điều này, PowerPoint hoàn toàn không thực hiện được. Chính vì vậy,
sử dụng phần mềm Lecturemaker 2.0 trong dạy học làm cho bài giảng trực quan, sinh
động, góp phần làm tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu
quả dạy học.
Từ những lý do trên, cùng với sự định hướng của thầy Vương Tấn Sĩ nên em chọn
đề tài : “Thiết kế giáo án điện tử Vật lí 11 Cơ bản sử dụng LectureMaker 2.0” để
nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Tìm hiểu phần mềm LectureMaker 2.0 để thiết kế giáo án các bài trong chương
2
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
- Giai đoạn 3: lập đề cương nghiên cứu: chi tiết, khoa học, hoàn thiện.
- Giai đoạn 4: viết luận văn, chỉnh sửa luận văn.
- Giai đoạn 5: hoàn chỉnh đề tài, nộp cho GVHD, chuẩn bị báo cáo.
- Giai đoạn 6: bảo vệ luận văn tốt nghiêp.
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN (CNTT) VÀO DẠY HỌC
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN PHẦN MỀM LECTUREMAKER
CHƯƠNG 3. THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI VẬT LÍ
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
7. CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Giáo viên
Học sinh
Công nghệ thông tin
Phương pháp dạy học
Sách giáo khoa
Phương pháp
Giáo dục
Giáo dục và đào tạo
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN VÀO DẠY HỌC
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển GD chính phủ đã nhận định: Sự đổi mới và phát triển
GD đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội tốt để nền GD Việt Nam nhanh chóng tiếp
cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung
giảng dạy hiện đại và vận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển. Chỉ thị
số 58/CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) khẳng định: “Ứng dụng và phát triển công
nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương
tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước.
Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng
CNTT để phát triển” [5].
Với nhu cầu cấp thiết của thực tiễn GD&ĐT, những kết quả khả quan của việc ứng
dụng CNTT vào phát triển và hiện đại hóa các PTDH đã tác động đã tác động sâu sắc đến
sự phát triển của nền khoa học và GD hiện đại của mỗi quốc gia trong khu vực và trên
toàn thế giới. Các nhà giáo dục tìm cách nghiên cứu để phát huy một cách tốt nhất PTDH
hiện đại đồng thời mở ra những triển vọng mới trong việc ứng dụng nó để cải tiến PPDH,
nâng cao chất lượng GD&ĐT hiện nay. Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào QTDH
được triển khai mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Ở các nước phát triển như Mỹ, Đức,
Hàn Quốc,… các công ty sản xuất TBDH về ứng dụng CNTT đã sản xuất nhiều sách điện
tử, các PTDH hiện đại được điều khiển bởi MVT, hệ thống trường học được trang bị
phòng học đa chức năng với mạng máy tính, máy chiếu khuếch đại,… đã đánh dấu một
thiết bị trợ giảng bằng hệ thống DH đa phương tiện đã kết nối Internet và có trang Web
về trường.
Hiện nay, đối với một số trường tiểu học (TH), THCS, THPT việc thiết kế và sử
dụng GAĐT còn khá mới mẻ. Ở vùng núi, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng xa xôi,
hẻo lánh... có nhiều GV, cán bộ quản lý các trường TH, THCS, THPT vẫn còn không biết
GAĐT là gì. So với PTDH chỉ có bảng đen, phấn trắng và SGK,... thì việc thiết kế nội
dung bài giảng trên MVT với sự hỗ trợ của hệ thống DH đa phương tiện là một bước đột
phá lớn. GAĐT ngoài việc hỗ trợ cho GV, còn đem đến cho HS nhiều thông tin hơn, hấp
dẫn hơn qua các kênh thông tin đa dạng và phong phú: nội dung văn bản, âm thanh, hình
ảnh tĩnh, động, các đoạn video clip sống động,... Đặc biệt ở một số nội dung kiến thức
người ta còn có thể xây dựng các mô hình mô phỏng, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô
phỏng để minh họa hoặc chứng minh định luật, đã biến quá trình HS nhận thức các kiến
thức trừu tượng thành quá trình tự HS lĩnh hội kiến thức mới một cách hào hứng, tích
cực.
Công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV để có thể sẵn sàng tiếp cận với các
PTDH hiện đại trong DH nói chung và DHVL nói riêng đang được các trường đại học,
cao đẳng sư phạm dành một thời lượng đáng kể trong chương trình đào tạo.
Tuy nhiên việc khai thác sử dụng máy tính trong DH ở các trường phổ thông thì
rất khác nhau tùy theo điều kiện cơ sở vật chất và trình độ GV. Theo đánh giá ban đầu thì
hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong DH là khá khả quan, càng khẳng định vai trò
quan trọng của CNTT trong việc đổi mới PP dạy và học. Tuy nhiên, xét trên diện rộng,
tình hình ứng dụng CNTT trong DH ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như [2]:
- Nhận thức của GV và HS: nhiều GV, HS chưa quan tâm tới việc ứng dụng CNTT
vào quá trình GD do đã quen với các PPDH truyền thống.
- Cơ sở hạ tầng CNTT còn thấp: đây là vấn đề nan giải nhất. Ứng dụng CNTT
trong GD đi liền với đầu tư hệ thống máy tính, mạng máy tính nội bộ, mạng Internet phục
vụ cho GV và HS, các thiết bị ngoại vi như máy chiếu, hệ thống cung cấp điện, phòng
máy đạt tiêu chuẩn,… là khó khăn lớn không dễ giải quyết trên diện rộng.
- Trình độ tin học của GV và HS: còn có những bất cập với các ứng dụng cụ thể
của các phần mềm, các thí nghiệm với máy tính,…
+ Phát triển ở HS các kỹ năng, kỹ xảo và năng lực cần thiết.
+ Phong phú hơn về hình thức dạy học.
+ Tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học.
+ Tăng cường dạy lý thuyết gắn với thực tiễn, vận dụng kiến thức đã
học vào đời sống.
+ Cải thiện việc kiểm tra và đánh giá kiến thức.
1.2.2. Giải pháp đổi mới PPDH
- Hình thành tình huống có vấn đề.
- Giúp HS sử dụng SGK. (Ví dụ: cho HS tự đọc phần in nghiêng trong SGK, đọc
bài đọc thêm).
- Tăng cường hoạt động tìm tòi.
- Thay đổi hình thức tổ chức dạy học: dạy học trên lớp (học bài mới, ôn tập, luyện
tập, kiểm tra), trong phòng thí nghiệm, thảo luận, làm việc nhóm, tự học, phụ đạo, tham
quan,...
- Hệ thống kiến thức và sử dụng phiếu học tập trong giảng dạy.
- Tăng cường ứng dụng PTDH.
Đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống mà phải lien tục
phát huy, kế thừa những tinh hoa của nền GD và kết hợp với các PPDH hiện đại theo
quan điểm DH tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo,
rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức
vào những tình huống khác nhau trong HT và trong thực tiến cuộc sống.
Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách học, cách tìm ra kiến thức và
chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác). Như vậy, việc đổi mới
PPDH có thể xem như sự vận dụng sáng tạo các PPDH truyền thống với các phương
pháp, phương tiện, công nghệ phù hợp với đối tượng, nội dung chương trình nhằm làm
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
6
1.3.3. Sử dụng một số phương pháp đặc thù của bộ môn Vật lí nhằm thúc
đẩy tính tích cực trong học tập của học sinh
1.3.3.1. Sử dụng phương pháp học tập theo nhóm
Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là hình thức DH trong đó quá trình nhận thức
được tiến hành thông qua hoạt động của các HS trong nhóm theo một kế hoạch theo yêu
cầu của GV. Cách DH này có thể tiến hành trong hoặc ngoài lớp.
Ưu điểm của PP dạy học theo nhóm:
- Tạo không khí sôi nổi, hào hứng cho tiết học.
- Tạo yếu tố thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm.
- Tăng cường tính tích cực, chủ động của người học.
- Rèn luyện cho HS sự tự tin, mạnh dạn đưa ra ý kiến riêng của cá nhân. Điều
này đặc biệt có ích đối với các HS nhút nhát, ít phát biểu trong lớp.
- Tạo nhiều cơ hội cho GV nhận được nhiều thong tin phản hồi từ người học.
Nhược điểm của PP dạy học theo nhóm:
- Tốn nhiều thời gian.
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
7
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
- Có thể đi chệch hướng với kế hoạch ban đầu,.
- HS dễ mất tập trung, phát biểu linh tinh.
- Hiệu quả HT của nhóm phụ thuộc nhiều vào tinh thần tham gia của các thành
viên trong nhóm.
1.3.3.2. Sử dụng thí nghiệm Vật lí để dạy học
1.3.3.4. Sử dụng công nghệ thông tin
Đối với DH, CNTT góp phần đổi mới PPDH Vật lí. Sử dụng CNTT cụ thể
là sử dụng MVT với những thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh sinh động, kết
hợp giữa màu sắc, âm thanh,… sẽ góp phần nâng cao tính trực quan góp phần tác động
vào các giác quan tạo sự chú ý, hứng thú trong HT của HS. Đây là điều kiện cần thiết để
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
8
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
quá trình DH đạt kết quả cao. Tuy nhiên, đối với một số thí nghiệm GV có thể tiến hành
được thì nên tiến hành thật sẽ trực quan hơn.
2. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
2.1. Lí do sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học
Khi mục tiêu dạy học thay đổi thì nội dung và PPDH cũng sẽ thay đổi. Thay đổi
cách dạy truyền thụ một chiều, lấy thầy làm trung tâm chuyển sang cách dạy học lấy HS
làm trung tâm nhằm hướng tới mục tiêu tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tính
chủ động, tự lực sáng tạo của học sinh bằng các PPDH mới, PPDH tích cực.
Dựa trên cơ sở về tâm lí học, lí luận DH, cơ sở thực tiễn và những chức năng của
MVT, các nhà nghiên cứu GD đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể sử dụng MVT trong
quá trình DH với tư cách như một PTDH hiện đại.
Đới với môn Vật lí - đây là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức đều gắn
với thực tiễn, nên việc ứng dụng CNTT nói chung và MVT nói riêng vào QTDH là một
hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết. Khi sử dụng CNTT và MVT, GV có thể dễ
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
của QTDH, từ việc xây dựng tình huống HT, nghiên cứu giải quyết vấn đề, xây dựng
kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức,…
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, MVT không phải là một PTDH vạn năng có
thể thay thế toàn bộ các PPDH truyền thống khác. MVT dù hiện đại đến đâu, cũng không
thể thay thế toàn bộ cho người GV - là người có vai trò tổ chức, thiết kế QTDH, là người
quyết định lựa chọn phương tiện, lựa chọn thời điểm sử dụng, hình thức sử dụng và phạm
vi sử dụng MVT nhằm đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động DH.
2.2. Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học
Vật lí
2.2.1. Sử dụng MVT làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin.
Tính năng nổi bật của MVT là khả năng lưu trữ thông tin rất lớn. Các văn bản,
hình ảnh tĩnh động, các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị…được lưu trên các thiết bị nhớ của MVT
với một số lượng đáng kể. Cùng với những phần mềm được cài sẵn, kho dữ liệu của
MVT còn cho phép người sùng biểu diễn các mô hình, các hiện tượng, các quá trình Vật
lí,…GV và HS có thể truy cập nhanh tới kho dữ liệu này để lấy ra các dữ liệu cần thiết,
phục vụ cho việc dạy và học một cách nhanh chóng và chính xác.
Nhờ tính năng đồ họa phong phú và khả năng xử lý các kiểu dữ liệu khác nhau
của MVT, ta có thể xây dựng các đoạn phim, video dạy học nhằm làm tăng tính trực quan
các quá trình dạy học Vật lí. Với các chương trình mô phỏng, minh họa trên MVT, HS có
thể quan sát các sự kiện, quá trình từ đó có thể hiểu rõ bản chất Vật lí của các hiện
tượng…
Đặc biệt, khi MVT có kết nối với mạng Internet thì khả năng tìm kiếm, lưu trữ
thông tin càng phát huy mạnh mẽ, khả năng truyền dẫn thông tin, tương tác hai chiều của
MVT càng được vận dụng một cách linh hoạt. Đây chính là thế mạnh của MVT mà các
Vật lí. Ngoài ra, MVT còn được sử dụng như một dao động kí điện tử để ghi lại các hình
ảnh dao động.
Một chức năng nổi trội khác của MVT là khả năng đo đạc một cách chính xác
các đại lượng đồng thời lưu trữ các số liệu đo trên các thiết bị lưu trữ (USB, đĩa cứng, đĩa
CD, thẻ nhớ,…) và có thể biểu diễn các kết quả đo dưới dạng bảng biểu, đồ thị. Đặc biệt,
MVT có thể được sử dụng để viết các chương trình làm tròn số liệu, xử lý các sai số của
phép đo sao cho kết quả thí nghiệm phù hợp nhất.
Thông qua các thí nghiệm tự động hóa trên MVT, HS có thể từng bước làm
quen với các hệ thống điều khiển tự động đang được ứng dụng ngày càng mạnh mẽ, rộng
rãi trong đời sống và trong các ngành kỹ thuật.
2.2.4.Sử dụng MVT để tích hợp với các PTDH hiện đại.
Một tính năng rất quan trọng mà MVT có được là việc trao đổi thông tin
không chỉ được thực hiện thông qua các thiết bị đầu vào chuẩn như bàn phím, chuột,…
mà còn có thể kết nối thông qua các cổng giao tiếp khác. Việc sử dụng các cổng nối tiếp,
cổng song song, khe cắm chuẩn trên bo mạch chủ của MVT thông qua các mạch giao tiếp
(Interface Card) có thể kết nối MVT với các thiết bị ngoại vi.
Việc kết nối MVT với các thiết bị hiện đại khác sẽ nâng cao thế mạnh của mỗi
phương tiện riêng rẽ thành một hệ thống hoàn chỉnh, khắc phục tốt những hạn chế của
mỗi thiết bị (chẳng hạn, tổ hợp MVT với Camera và máy ghi âm thông qua bộ giao tiếp
Youcam, cho phép khai thác khả năng quay phim của Camera, kết hợp với khả năng lưu
trữ, xử lý hình ảnh, âm thanh của MVT để xây dựng các phim HT hoặc trao đổi các tệp
đồ họa).
Đặc biệt, trong hệ thống kết nối MVT với các phương tiện hiện đại khác, ta có
thể khai thác tối đa khả năng điều khiển, truy cập, chọn lọc, tìm kiếm thông tin một cách
nhanh chóng. Các hệ thống ghép nối thường đi kèm với một phần mềm điều khiển tương
ứng, các phần mềm này có thể chạy trên môi trường hệ điều hành MS – DOS hoặc hệ
điều hành Windows, chúng có thể được xây dựng kèm theo thiết bị ghép nối hoặc có thể
do các nhà lập trình tạo nên theo yêu cầu sư phạm.
2.2.5. Sử dụng MVT kết hợp với Multimedia.
Multimedia được gọi là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông, một
cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc bài học [8].
GAĐT là sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất
trước khi bài dạy được tiến hành. Nói cách khác, GAĐT chính là bản thiết kế của bài
giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng GAĐT hay thiết kế bài giảng điện tử là cách gọi
khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử trong quá trình DH tích
cực [8].
2.3.2. So sánh giáo án điện tử với giáo án truyền thống [2]
Giáo án điện tử
Giáo án truyền thống
- Học tập lấy người học làm trung tâm.
- Kích thích đa giác quan.
- Hướng phát triển đa chiều.
- Đa phương tiện, đa năng.
- Làm việc hợp tác, tương tác.
- Trao đổi thông tin.
- Học tập tích cực, tìm tòi khám phá.
- Học dựa trên tư duy phê phán, sáng
tạo.
- DH dựa trên những hoạt động có chủ
đích.
- Lấy người dạy làm trung tâm.
- Kích thích đơn giác quan.
- Hướng phát triển một chiều.
- Đơn phương tiện, đơn năng.
- Làm việc đơn lẻ, cá nhân.
- Truyền tải thông tin.
- Học tập thụ động.
- Học sự kiện, dựa trên những tri thức
có sẵn.
hiện đầy đủ các giai đoạn của QTDH, từ khâu củng cố trình độ, hình thành tri thức mới,
ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của HS. Có sự phối
hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và các PPDH [2].
Các tiêu chí về mặt sư phạm: GAĐT phải thể hiện được tính ưu việt về mặt tổ
chức DH so với GA truyền thống. Cần phải khai thác triệt để khả năng hỗ trợ, truyền tải
thông tin đa dạng, trực quan hóa các hiện tượng, quá trình Vật lí,…kích thích động cơ
HT, tính tích cực và khả năng sáng tạo của HS. Từ đó, giúp HS đào sâu nội dung HT,
khắc sâu kiến thức đã lĩnh hội, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mở
rộng nội dung kiến thức đã học và đi sâu vào bản chất vấn đề nghiên cứu [2].
Các tiêu chí về mặt kỹ thuật: Giao diện trên màn hình phải đơn giản, thân
thiện, cấu trúc slide rõ ràng, được sắp xếp một cách hợp lý phù hợp với tiến trình của một
giờ học. Việc sử dụng các hình ảnh, âm thanh, màu sắc,…phải khéo léo, không nên quá
lạm dụng sẽ làm phân tán sự tập trung chú ý của HS, làm ảnh hưởng tới chất lượng giờ
dạy [2].
2.3.4. Quy trình thiết kế giáo án điện tử
GAĐT có thể được xây dựng theo quy trình gồm các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài dạy, xác định mục tiêu bài học, xây dựng phiếu
học tập, soạn giáo án
- GV cần nghiên cứu kỹ bài qua SGK, SGV kết hợp với các tài liệu tham khảo
để tìm hiểu nội dung của bài và mục tiêu HS cần đạt khi học xong bài này. Trên cở sở đó,
xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm.
- Xây dựng phiếu học tập cho HS: giúp cho HS có cái nhìn tổng quát về bài học
giúp các em dễ dàng ghi chép, quan sát bài giảng cũng như tham gia vào quá trình xây
dựng và củng cố kiến thức. Tuy nhiên, phiếu học tập chỉ nên là một dàn ý hoặc tóm tắt
bài, HS vẫn phải chủ động trong việc ghi chép và tiếp nhận kiến thức.
- Soạn GA theo cấu trúc của GA DH tích cực.
Bước 2: Lên kịch bản sư phạm cho việc thiết kế giáo án trên máy vi tính
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
Sau khi có được tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp
lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý. Cây thư mục hợp lý sẽ tạo
điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến
các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang ổ đĩa khác, từ
máy này sang máy khác.
Bước 5: Lựa chọn các phần mềm trình diễn để xây dựng GAĐT.
Sử dụng một số phần mềm công cụ như: PowerPoint, Violet, LectureMaker,
Adobe Presenter,…) để thể hiện. Lưu ý: cần phải đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học,
tính sư phạm, tính thẩm mỹ,…
Bước 6: Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót
đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện. Chạy thử từng phần và toàn
bộ các Slide để điều chỉnh những sai sót.
GAĐT làm cho QTDH thêm phong phú, tác động tích cực vào các giác quan
của HS, nâng cao tính trực quan làm cho việc HT của HS thêm hứng thú và sình động.
Do đó kiến thức mà HS thu nhận trong quá trình HT bằng GAĐT thường sâu sắc và khó
quên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì GAĐT cũng có một số nhược điểm cần lưu
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
14
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
ý hạn chế. Vấn đề này sẽ được giải quyết một cách đơn giản nếu GV thường xuyên giảng
dạy bằng các GAĐT thì sẽ có nhiều kinh nghiệm để hoàn thiện bài GA của mình.
bằng LectureMaker. Bên cạnh đó, LectureMaker có một số điểm mạnh như chèn được
nhiều định dạng file PowerPoint, PDF, Flash, HTML, Audio, Video,... có thể thu âm trực
tiếp và video. Vì vậy, GV có thể tận dụng lại các bài giảng đã được soạn thảo từ những
phần mềm khác vào nội dung bài giảng của mình [1].
Tương tự Slide Master trong PowerPoint, việc xây dựng Slide Master trước khi
đưa nội dung vào sẽ giúp người dùng sắp xếp, tổ chức bài giảng nhất quán, hợp lý hơn.
LectureMaker có sẵn các bộ công cụ soạn thảo trực quan cần thiết để tạo bài giảng
điện tử như: soạn thảo công thức toán học, vẽ biểu đồ, vẽ đồ thị, tạo bảng, textbox, và các
ký tự đặc biệt; có thể chèn nhiều loại nội dung đa phương tiện vào bài giảng của mình
như: hình ảnh, video, âm thanh, flash,…Ngoài ra, phần mềm này còn cung cấp sẵn nhiều
mẫu trình bày, các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang được sử dụng trong soạn
thảo bài giảng nhằm định hướng nội dung bài học cũng như làm tăng khả năng tương tác
học tập [1].
Với việc sử dụng webcam (camera), microphone, chức năng bảng điện tử, khả
năng tự ghi lại giúp bài giảng có thể được soạn thảo một cách hiệu quả và sáng tạo bằng
cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng. Kết quả thu được là một bài giảng sinh động
với đầy đủ các hoạt động trên lớp mà qua đó người học hoàn toàn tự học được [1].
1.2. Cài đặt và cập nhật LectureMaker
1.2.1.Yêu cầu hệ thống
- CPU tối thiểu Pentium 500MHz.
- RAM tối thiểu 512Mb.
- HDD tối thiểu 50Mb.
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
16
Luận văn tốt nghiệp
17
Luận văn tốt nghiệp
GVHD : Thầy Vương Tấn Sĩ
- Chọn Install để bắt đầu cài đặt.
Hình 2.3. Hộp thoại bắt đầu cài đặt xuất hiện.
- Chờ cho quá trình cài đặt hoàn tất, chọn Finish.
- Khởi động LectureMaker từ màn hình nền Destop.
- Nhập mã sản phẩm Product Key , Submit
Hình 2.4. Nhập mã sản phẩm.
Chú ý:
- Nếu không có mã của sản phẩm (Product Key), chọn “Use as a Trial
Version” để dùng thử.
- Nếu máy tính kết nối Internet, chương trình sẽ tự động đăng nhập vào trang
chủ http://www.daulsoft.com và update phiên bản mới nhất.
1.2.3.Kiểm tra phiên bản
Để kiểm tra phiên bản của LectureMaker: menu Information, About
LectureMaker. Trong luận văn này, các hướng dẫn trên phiên bản LectureMaker
Vertion 2.0 (4.9.2009.10010).
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
18
2
4
3
Hình 2.8. Giao diện của Lecturemaker
Vùng 1: Chứa các Menu và các nút lệnh của chương trình.
Vùng 2: Chứa danh sách các Slide trong bài giảng, hiển thị nội dung của từng
trang trình diễn dưới dạng nhỏ. Có thể thêm, xóa một Slide hoặc di chuyển đến một Slide
bằng cách click chọn vào hình Slide đó. Có hai cửa sổ có thể chuyển qua lại bằng cách
click vào tên của nó:
Slide: hiển thị danh sách các Slide hiện có trong bài giảng đang mở.
Slide Master: Cho phép thiết kế Layout thống nhất cho bài giảng gồm có 2
slide:
Title Master: tương ứng với Slide đầu tiên của bài giảng, là Slide giới thiệu
thông tin về bài giảng.
Body Master: tương ứng với các Slide nội dung trong bài giảng.
Hình 2.9. Slide Master.
Sư phạm Vật lí – Công nghệ K37
SVTH : Nguyễn Thị Thủy Tiên
20