Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành - Pdf 33

NHẢN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
—soCQca—


NHẢN XÉT CỦA HÔI ĐỒNG PHẢN BIÊN
•*•


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐÀU...................................................................................................................................1
CHƯƠNG

1:

KHẮT

QUÁT

CHUNG

VỀ

QUẢN





ĐỊNH



3.1 Thực tiễn và những bất cập của áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài
sản chung của vợ chồng...................................................................................................................28

3.1.1 Thực tiễn áp dụng việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng. 28
3.1.2 Những bất cập của áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài sản chung
của vợ chồng....................................................................................................................................29

3.2 Một sổ đề xuất nhằm đưa chế định về quản lý và định đoạt tài sản chung của


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp
phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội. Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên
sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có
thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình.
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không
thể quan tâm đến đời sống vật chất. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết
sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống
hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần cho gia đình.
Xuất phát từ bản chất quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản
gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang
giá. Chính sự ràng buộc làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau
mà quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng, là một vấn đề không thể thiếu
trong pháp luật hôn nhân nói riêng, pháp luật dân sự nói chung. Tuy nhiên, vấn đề này
cũng chưa được quy định rõ rang trong luật, nên áp dụng vào thực tế khó khăn. Bên
cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định cụ thể về các biện


Ngoài lời nói đầu, tài liệu tham khảo, kết luận, bố cục luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Chương 2: Những quy định về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo
pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ
chồng và một số kiến nghị

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

2

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG

1.1 Một sổ khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trước khi tìm hiểu khái niệm tài sản chung của vợ chồng thì phải hiểu nhu
thế nào là tài sản. Có nhiều cách để đưa ra khái niệm tài sản, nhưng nhìn chung có thể
hiểu theo hai cách:
Cách thứ nhất: Nếu hiểu theo cách thông dụng tài sản là của cải được con
người sử dụng, một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết bằng các giác quan hay
tiếp xúc.
Cách thứ hai: Theo từ điển pháp luật thì tài sản là tất cả những gì có thể sở
hữu được với khía cạnh thì tài sản được hiểu theo nghĩa rộng hom và đã có sự phân biệt

phiếu,tấm séc... quy định như thế đã góp phần làm cho định nghĩa tài sản trở nên
phong phú và chính xác hơn về đối tượng. Mặt khác nó cũng có ý nghĩa quan trọng
trong nền kinh tế thị trường và giai đoạn hội nhập nước ta hiện nay.

- Quyền tài sản: Ngoài những vật, giấy tờ có giá thì quyền tài sản cũng
được coi là tài sản. Điều 181 BLDS 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng
tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ
Qua cách phân tích khái niệm về tài sản ở trên ta có thể đưa ra khái niệm
về tài sản chưng của vợ chồng . “Tài sản chung của vợ chồng là tài sản của vợ chồng
cỏ trước hoặc sau kết hôn và đem nhập vào khối tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong
thời kỳ hôn nhân Đe hiểu rõ thêm về tài sản chưng của vợ chồng thì theo quy định tại
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chưng của vợ chồng bao gồm:
tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản
mà vợ chồng được thừa ké chưng hoặc được tặng cho chưng và những tài sản khác mà
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đó là những căn cứ tạo lập tài sản chưng của vợ
chồng.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

4

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng đã được xác định, căn cứ vào nguồn gốc
của tài sản. Nhằm cụ thể hóa quy định này, Nghị quyết số 02 của Hội Đồng Thẩm Phán
Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (HĐTP-TANDTC) ngày 23/12/2000 có hướng dẫn: những


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
gia đình năm 1986. Quy định này là rất cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế hiện
nay. Tuy vậy, trong cả hai đạo luật đều có sự thống nhất, đó là trong mọi tnrờng hợp,
tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể là sở hữu chung hợp nhất và chế độ sở hữu chung
này là chế độ sở hữu pháp định.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam xác định tài sản chung của vợ chồng
căn cứ vào nguồn gốc tài sản đuợc hình thành, nó bao gồm rất nhiều khoản thu nhập
hợp pháp khác nhau đuợc phát sinh trong thời kỳ hôn nhân mà không phụ thuộc vào
việc ai trục tiếp tạo ra nó, quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000. Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP-TANDTC đã không đánh đồng tài sản có
trước thời kỳ hôn nhân của vợ chồng đều thuộc tài sản chung. Điều 15 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 cũng không bó hẹp phạm vi tài sản chung của vợ chồng như
Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, mà nó đã mở rộng ra đối với cả những
tài sản do vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung và tài sản là giá trị quyền sử dụng đất.
Đây là điểm mới tiến bộ hơn nó bảo đảm quyền định đoạt đối với tài sản riêng của công
dân, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc ngăn chặn hôn nhân không lành mạnh,
coi trong tiền bạc mà xem thường bản chất vốn có mang tính tốt đẹp của hôn nhân.
Như vậy, Luật xác định rõ phạm vi khối tài sản chung của vợ chồng, bao
gồm tất cả các tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt
người nào tạo ra, ai có công nhiều hay ít trong việc hình thành khối tài sản chung. Việc
quy định phạm vi khối tài sản chung giúp vợ chồng hiểu và có trách nhiệm xây dựng,
duy trì và phát triển khối tài sản chung mà cùng nhau lao động vì lợi ích gia đình. Đồng
thời còn là cơ sở pháp lý giúp vợ chồng thực hiện quyền về mặt tài sản trong gia đình.
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
* Tài sản chung do hoạt động tạo thu nhập: Tài sản tạo ra do thu nhập có thể có
nhiều loại thu nhập khác nhau, những khoản thu nhập có tính chất cơ bản quan trọng,
ổn định và chính đáng là các khoản thu nhập do lao động và hoạt động sản xuất kinh
doanh, đây là loại thu nhập xuất phát từ quyền cơ bản của công dân được ghi nhận
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

1.1.2 Khái niệm quản lý tàỉ sản chung của vợ chồng
Vợ chồng là một khái niệm pháp lý gắn liền với nhân thân. Khi quan hệ hôn
nhân ra đời không chỉ hình thành nên quan hệ nhân thân mà còn hình thành nên quan
hệ tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở quan trọng cho
việc đảm bảo đời sống vật chất của gia đình đây cũng là một trong những cái gốc quan
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

7

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


1 Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Tiến Sỹ Nguyễn Ngọc Điện, Nhà xuất
bản Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hànhtrẻ, Năm
xuất
bản
trọng xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc. Muốn đảm bảo những nhu cầu thiết
yếu và cả những nhu cầu tinh thần của gia đình, để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp
đỡ, thuơng yêu lẫn tinh thần thì cần phải có tài sản chung của vợ chồng mà vấn đề quản
lý tài sản chung của vợ chồng là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong khung cảnh của
luật định chua có quy định cụ thể về việc quản lý tài sản chung của vợ chồng cũng nhu
chua làm rõ đuợc khái niệm quản lý tài sản chung của vợ chồng. Nhung theo quy định
tại Điều 182 của BLDS 2005 “quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” mà
“nắm giữ, quản lý” có thể bao hàm việc thực hiện quyền sử dụng (dùng và khai thác)
hoặc quyền không sử dụng (cất giữ)1. Trong chừng mực nào đó ta hiểu rằng quản lý tài
sản chung của vợ chồng là việc vợ chồng thực hiện quyền của mình để sử dụng, bảo
quản tài sản chung một cách hiệu quả không làm thiệt hại đến chúng. Mặt khác, quản lý
tức là quá trình tác động có ý thức và bằng quyền lực của chủ thể quản lý lên tài sản
quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của chủ thể đó mà chủ thể trong việc quản lý tài sản
chung là vợ chồng.

Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
đoạt tài sản chung. Nguyên tắc này được ghi nhận trong BLDS 2005 và được nhắc lại
trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 với nội dung được liệt kê dưới đây:
Tại Điều 217 của BLDS 2005 quy định:
“1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đỏ phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu chung không xác định đổi với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất cỏ thể phân chia và sở chung
hợp nhất không thể phân chia.

2. Các chủ sở chung hợp nhất cỏ quyền, nghĩa vụ ngang nhau đổi với tài sản thuộc
sở hữu chung
Tại Điều 219 BLDS 2005 đã quy định:
“1 .Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi
người; cỏ quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng cỏ thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định
của Tòa án”.
Tại Khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã quy định:
“vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung”.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

10


hiện sự thỏa thuận khác nhau.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

11

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Nếu vợ hoặc chồng cùng một hoạt động kinh tế chung trong khuôn khổ của hộ
gia đình thì tài sản khai thác đuợc là tài sản của hộ gia đình và đuợc quản lý chung.
Nhung nếu vợ hoặc chồng hoạt động kinh tế riêng thì luật không nói rằng tài sản chung
dung cho hoạt động kinh tế riêng sẽ đuợc quản lý riêng. Thực tế khi vợ hoặc chồng
khai thác tài sản chung với tu cách là nguời hoạt động nghề nghiệp độc lập thì nguời
còn lại không can thiệp vào việc khai thác tài sản đó ngay cả khi tài sản đó có giá trị
lớn, tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản đó đều do nguời khai thác tự mình xác
lập, thực hiện mà không cần sự đồng ý của nguời kia. Việc định đoạt tài sản, thực tế
cho thấy tùy theo tài sản liên quan đến động sản hay bất động sản mà có thể thực hiện
các giải pháp khác nhau. Định đoạt bất động sản luôn cần phải có sự đồng ý của vợ và
chồng, việc định đoạt tài sản chung có thể do nguời trục tiếp khai thác tài sản tụ mình
thực hiện, trừ trường hợp động sản thuộc loại phải đăng ký và người đăng ký lại là vợ
(chồng) của người khai thác tài sản. Nói tóm lại sự thỏa thuận của vợ chồng luôn là
điều kiện cần thiết cho nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
Ngoài ra, Luật cho phép vợ hoặc chồng tự mình xác lập, thực hiện các giao
dịch liên quan đến tài sản chung mà không cần phải có sự đồng ý của người còn lại như
việc vợ chồng có thể tự mình xác lập các giao dịch nhằm bảo quản, sửa chữa những hư
hỏng thông thường xảy ra đối với tài sản chung. Đối với việc tu bổ, nâng cấp, sửa chữa
lớn tài sản chung của vợ chồng sẽ thực hiện theo nguyên tắc vợ hoặc chồng có thể xác
lập, thực hiện các giao dịch một cách hữu hiệu mà không cần sự đồng ý rành mạch của

trọng. Có thể xem hợp đồng như là cơ sở để hình thành quan hệ hôn nhân. Pháp luật Tư
sản, pháp luật của nhà nước Phong kiến, pháp luật của nhà nước Xã hội chủ nghĩa đều
có quy định về vấn đề này vừa có tình lẫn có lý, vừa phù hợp với đạo đức xã hội và
nguyện vọng của nhân dân lao động xuất phát từ bản chất pháp luật luôn vì lợi ích của
nhân dân. Đối với pháp luật của nhà nước ta, việc quy định về quản lý và định đoạt tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có mục đích sau:
Mục đích quan trọng hàng đầu của chế định này là giúp cho vợ chồng quản lý và
định đoạt tài sản chung được tốt hơn, bên cạnh đó tạo điều kiện cho vợ chồng được tự
do kinh doanh, mặt khác nhằm khôi phục khối tài sản riêng của mỗi bên. Như ta đã biết
do không có lý thuyết về tài sản thay thế nên khối tài sản chung luôn có khuynh hướng
thu hút các khối tài sản riêng nhập vào nó. Do đó khi có quy định về quản lý và định
đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các
khối tài sản riêng được tồn tại. Quy định như vậy nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng về mặt
tài sản giữa vợ và chồng do pháp luật Phong kiến, Thực dân trước kia để lại và được
thay thế bằng những quy định mới. Trong đó, hệ thống pháp luật mới của ta đã quy
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

13

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
định một cách hợp tình hợp lý và bảo đảm được quyền bình đẳng giữa vợ và chồng.
Mục đích này đáp ứng được mong muốn của hàng triệu phụ nữ Việt Nam để có một vị
trí bình đẳng với người chồng trong gia đình. Điều này, trước kia đã bị pháp luật Phong
kiến phủ nhận. Do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và lối sống phương Tây.
Cho nên hiện nay, tình trạng mâu thuẫn trong việc quản lý và định đoạt tài sản của vợ
chồng ở nước ta xảy ra khá nhiều và trở thành vấn đề cần quan tâm của xã hội. Chính
vì vậy để hạn chế bớt các trường hợp việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng thực

đến đời sống của gia đình, mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế của nước
ta. Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng, xóa bỏ sự bất công mà xã hội
Phong Kiến đã tồn tại hàng ngàn năm và một khi muốn phát triển xã hội ta phải xóa bỏ
được định kiến bất công này.
Bên cạnh đó, việc có quy định trên còn tạo điều kiện để vợ chồng tự do tham gia
vào hoạt động sản xuất kinh doanh riêng, nhưng vẫn đảm bảo sự liên kết bền chặt giữa
vợ chồng bằng quan hệ hôn nhân, ổn định hạnh phúc gia đình. Gia đình tồn tại thì xã
hội mới phát triển được, một trong những chức năng chính của gia đình là chức năng
kinh tế. Theo triết học Mác-Lênin thì vật chất quyết định ý thức vì thế nếu kinh tế
không phát triển thì gia đình sẽ không hạnh phúc và xã hội không thể phồn thịnh được.
Vì vậy, khi mỗi công dân đều tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra thật
nhiều của cải, xây dựng gia đình hạnh phúc thì xã hội sẽ phồn thịnh và vững mạnh.
Quy định này cũng đã tạo điều kiện cho người phụ nữ có một chỗ đứng ngang bằng với
nam giới trong việc đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước .
Thực tế đã cho thấy phụ nữ có khả năng đóng góp rất nhiều trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Đồng thời quy định này còn góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia
đình, khi có mâu thuẫn phát sinh nhưng với những quy định rõ ràng về việc quản lý và
định đoạt tài sản chung của vợ chồng thì vấn đề tranh chấp tài sản giữa vợ chồng sẽ
được hạn chế bớt, tạo điều kiện cho kinh tế gia đình phát triển. Cho nên, chế định này
đã đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn xã hội hiện nay cho nên rất phù hợp với cơ chế
thị trường, phù hợp với Hiến Pháp, Bộ Luật Dân Sự, Luật Đất Đai và các văn bản khác
có liên quan. Tóm lại, việc quy định cụ thể căn cứ xác lập tài sản chung cũng như việc
quản lý và định đoạt chúng đã phần nào giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết các vụ việc trên một cách nhanh chóng, rõ ràng góp phần ổn định đời sống xã
hội.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

15


những vật đã cũ và hư hỏng thì có thể đem bán, ví dụ như trong nhà có một chiếc quạt
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

16

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


3 Bình luận khoa học luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, Tập 2-Cácquan hệ tài sản gữa vợ
Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hànhchồng, Tiến

Nguyễn
đã cũ thì người YỢ có quyền tự mình đem đi sửa và nếu nó không sử dụng được nữa thì
có thể đem bán đi mà không cần hỏi ý kiến của chồng, ngoài ra thì một trong hai vợ
chồng cũng được quyền tự mình tiến hành các vụ kiện liên quan đến tài sản chung như
kiện yêu cầu chấm dứt sự quấy nhiễu đối với việc chiếm hữu tài sản chung, kiện đòi tài
sản, đòi bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm hại hoặc tiến hành các vụ kiện yêu cầu
buộc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng liên quan đến tài sản chung3 . Có vẻ như
trong khung cảnh của luật thực định các quy tắc này được áp dụng đối với tất cả các
loại tài sản chung, kể cả những tài sản có giá trị lớn thì cả hai vợ chồng đều phải thực
hiện bảo quản tốt tất cả tài sản chung đó vì một mục đích chung là lợi ích của gia đình.
Khi tài sản chung là một chiếc xe chở khách do người chồng làm tài xế, nếu chiếc xe bị
hư thì người chồng có quyền tự mình đem xe đi sửa chữa lại. Nhìn chung thì việc bảo
quản, sử dụng tài sản chung gia đình có thể do vợ hoặc chồng tự mình quyết định thực
hiện.
Tu bổ, nâng cấp: Việc tu bổ, nâng cấp tài sản chung của vợ chồng là hết
sức cần thiết vì tu bổ có thể dẫn đến sự cải thiện chất lượng và công dụng của tài sản,
làm cho tài sản có hình thức bề ngoài đẹp hơn, cũng như có thể làm tang giá trị của tài
sản. Tuy nhiên, Luật không có quy định chi tiết về quyền của vợ, chồng trong việc xác
lập các giao dịch nhằm tu bổ tài sản chung. Hẳn, mọi chuyện tùy thuộc vào tầm quan

dù tài sản đó có giá trị nhỏ nhưng trong thời gian dài thì cũng đến sự đồng ý và thỏa
thuận của cả hai vợ chồng, hoặc là những tài sản mà gia đình sử dụng thường xuyên,
hằng ngày thì hai vợ chồng cũng cần phải ý kiến của nhau khi đưa ra quyết định cho
mượn. Mặc dù có nhiều tài sản cho mượn cần đến sự đồng ý và thỏa thuận của cả hai
vợ chồng nhưng như vậy không nhất thiết là cả hai cùng đứng ra xác lập giao dịch mà
với sự đồng ý của người vợ (chồng) thì người còn lại có thể tự mình xác lập giao dịch
cho mượn. Trong những tình trạng cấp thiết thì vợ hoặc chồng có thể cho mượn tài sản
trước sau đó sẽ thông báo lại sau cho người còn lại, ví dụ như một người có con bị
bệnh muốn chở con đi bệnh viện nhưng xe nhà bị hư nên phải qua mượn xe máy, đây là
tình trạng cấp thiết nên người vợ có thể cho mượn sau đó sẽ thông báo sau cho chồng
biết sau. Nói tóm lại, tài sản chung của vợ chồng khi cho mượn thì nhất thiết phải có sự
đồng ý và thỏa thuận của vợ chồng trừ trường hợp tình trạng cấp thiết.
Như đã nói thì vợ chồng phải có sự thỏa thuận với nhau trong việc cho
mượn tài sản chung và thể hiện nguyên tắc nhất trí trong xác lập giao dịch cho mượn
đối với người thứ ba. Nggoài ra thì vợ chồng bình đẳng, tự do trong hoạt động nghề
nghiệp, vì vậy vợ hoặc chồng không có quyền lấy tài sản dùng trong hoạt động nghề
nghiệp riêng giao dịch và ảnh hưởng đến nghề nghiệp của người còn lại để cho người
thứ ba mượn mà không cần có sự đồng ý của người đó. Tuy nhiên trong trường hợp mà
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

18

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
tài sản trong hoạt động nghề nghiệp riêng mà không sử dụng đến và cũng không liên
quan đến bí mật kinh doanh thì vợ hoặc chồng có thể cho người thứ ba mượn mà không
cần hỏi ý kiến của người có tài sản trong hoạt động nghề nghiệp riêng đó. Ví dụ người
vợ có một spa chăm sóc sắc đẹp nhưng hôm đó nghĩ làm một bữa, và có người hàng



4 Bình luận khoa học luật hôn nhân gia đình, Đinh Thị Mai Phương, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2004
Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý tài sản chung
Khi hôn nhân ra đời nó sẽ hình thành nên mối quan hệ nhân thân và quan hệ
tài sản. Khi hôn nhân đang tồn tại thì mối quan hệ tài sản của vợ chồng cũng tồn tại,
mối quan hệ về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là các vấn đề liên quan đến
tài sản chung, việc quản lý và định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, mặt khác nó còn là quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý tài sản
chung của vợ chồng.
Mọi tài sản đuợc gọi là tài sản chung của vợ chồng thì tài sản đó đuơng nhiên
phải có hai chủ sở hữu thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản đó trong việc quản
lý theo Khoản 1 Điều 219 BLDS 2005 “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung
hợp nhất”, do đó mỗi chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền đối với toàn bộ tài sản
chung, nhu vậy mỗi nguời có quyền sử dụng, định đoạt đối với toàn bộ tài sản chung,
quy định này cũng tỏ ra khá phù hợp với nguyên tắc vợ chồng đều bình đẳng ngang
nhau trong mọi mặt của đời sống xã hội. Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
cũng đã quy định tại Khoản 1 Điều 28 thì “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Nhu vậy, Quyền đối với tài
sản chung giữa vợ chồng đuợc xác định trên cơ sở bình đẳng, bao gồm các quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đối với khối tài sản chung, đồng thời vợ chồng
cũng bình đẳng về các nghĩa vụ như đóng góp chi phí duy trì, bảo quản, sửa chữa tài
sản chung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi tài sản chung gây thiệt hại cho người khác,
nghĩa vụ trả nợ vay, mượn để chi phí cho nhu cầu chung của gia đình.. .Ngoài ra, vấn
đề quản lý của vợ chồng đối với tài sản chung đã được cụ thể ở ba quyền năng: quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt phù hợp với BLDS 2005. Trong gia đình
vợ cũng như chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản chung thuộc sở hữu chung,
đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như quyền định đoạt
sản phẩm của tài sản đó và đồng thời có quyền chuyển giao hoặc từ bỏ quyền sở hữu4.

hoa lợi, lợi ích từ tài sản chung đó. Mà quyền sử dụng tài sản chung đó nằm trong việc
quản lý khối tài sản chung của vợ chồng.Tài sản chung của vợ chồng chỉ được sử dụng
với hai mục đích: chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện các nghĩa vụ
chung của vợ chồng. Cách thức sử dụng tài sản chung do vợ, chồng quyết định sao cho
công dụng của tài sản chung được khai thác tối ưu nhất để thực hiện tốt các nhu càu
của gia đình nhưng không được gây hại làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của cộng đồng. Quyền sử dụng tài sản chung của vợ, chồng là ngang nhau, họ có quyền
sử dụng tài sản theo ý mình nhưng phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của gia đình và
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Gang

21

SVTH: Nguyễn Đặng Toàn


Đề tài: Quản lý và định đoạt tài sản chung của vự chồng thep pháp luật hiện hành
tùy từng trường hợp mà vợ, chồng nên thống nhất ý chí với nhau khi sử dụng khối tài
sản chưng, khi việc khai thác, sử dụng có thể dẫn đến rủi ro làm mất mác, hư hỏng đối
với tài sản chung đó thì cần phải có sự đồng ý giữa hai vợ chồng.
Tài sản chưng được sử dụng để đảm bảo các nhu cầu gia đình, đó là nhu cầu
chính đáng của vợ, chồng, con cái và các thành viên khác trong gia đình, nhu cầu này
chỉ gắn liền với nhân thân của mỗi bên, nhưng có thể xem đó là nhu cầu chung của vợ
chồng. Pháp luật hôn nhân ghi nhận tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân từ hoạt
động sản xuất kinh doanh, lao động của mỗi bên là tài sản chung. Do đó, những nhu
cầu cần thiết để tạo lập nên khối tài sản chung phải được coi là nhu cầu chung của gia
đình. Sự chi dùng hợp lý ở đây còn căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế của gia
đình và phù hợp với quy định pháp luật.
Bên cạnh việc dùng tài sản chung để nhằm phục vụ nhu cầu chung của gia
đình, tài sản chung của vợ chồng còn được dùng để thực hiện các nghĩa vụ chung phát
sinh khi một hoặc cả hai bên vợ, chồng thực hiện hành vi vì lợi ích gia đình hoặc nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status