Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 33

Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA
NHẶN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG
DẪNLUẬT
Bộ MÔN LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI
----------------------------

Ì9.

LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP
cử NHÂN LUẬT
NIÊN KHOÁ 2007 - 2011
CÁC PHƯƠNG THỨC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

Sinh viên thưc hiên
«•

Giảng viên hướng dẫn
ThS. DIỆP NGỌC DŨNG

HUỲNH THỊ THỦY TIÊN
MSSV: 5075228
Lớp: LK0764A3

Cần Thơ, 05/ 2010

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

21


1.1.2.

Giao kết họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế................................................8

1.1.3.

Nguồn luật điều chỉnh quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
9

1.1.3.1.

Điều ước quốc tế về thương mại.............................................................9

1.1.3.2.

Luật quốc gia..........................................................................................12

1.1.3.3.

Tập quán thương mại quốc tế.................................................................14

1.1.4.

Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quá trình giao kết họp đồng mua bán hàng

hóa quốc tế 16
1.1.4.1.

Tự do giao kết họp đồng nhưng không trái pháp luật,........đạo đức xã hội

1.1.4.4.............................................................................................................................................

Mục

đích



nội

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

dung
4

của

họp

đồng

phải

họp

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên

pháp



KÉT
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUÓC TẾ...................................................44
Những thuận lọi và khố khăn trong giao kết họp đồng mua bán
hàng hóa quốc
tế....................................................................................................................................44
2.1.

2.1.1.

Áp dụng các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
44

2.1.1.1.

về nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng...................................................44

2.1.1.2.

về nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực trong giao kết

hợp đồng..45
2.1.1.3.

về hình thức của hợp..........................................................................đồng
46

2.1.1.4.
2.1.2.

về mục đích và nội dung của hợp đồng..................................................47

Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
LỜI MỞ ĐÀU

Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình và trở thành công cụ pháp
lý chủ yếu để các nhà kinh doanh thực hiện các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong
khoa học pháp lý nhân loại và thời gian gần đây, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá
trình toàn càu hóa, chế định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các quốc gia đã
có nhiều nét tưomg đồng. Bên cạnh đó, với những truyền thống pháp luật khác nhau,
trình độ phát triển kinh tế, xã hội, tập quán kinh doanh không đồng nhất, chế định hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các nước còn phản ánh nhiều sự khác biệt, cả về
quan niệm, nguồn điều chỉnh quan hệ họp đồng cũng như một số nội dung cụ thể của
chế định này. Tại Việt Nam, các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở nên tấp nập,
cùng với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO), thể hiện rằng Việt Nam đang hòa nhập chung với nhịp độ phát triển của
nền kinh tế thế giới. Thì vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ngày càng trở
nên quan trọng. Vì vậy, việc chúng ta tiếp cận, đẩy mạnh nghiên cứu và vận dụng pháp
luật mua bán hàng hóa quốc tế nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thúc đẩy các
quan hệ thương mại quốc tế nói chung và mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng đã và
đang phát triển mạnh mẽ giữa các thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài,
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cũng như góp
phàn đưa hệ thống pháp luật Việt Nam tiến gần hơn các chuẩn mực pháp lý chung của
quốc tế. Chính vì những nguyên nhân đó mà người viết đã quyết định tiếp cận và
nghiên cứu vấn đề về “các phương thức giao kết họp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế”, là một trong những vấn đề quan trọng cần phải nắm vững khi giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế, là một chế định không thể thiếu trong pháp luật hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế.

Pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một chế định rất rộng trong đó

ngành và các trang web chính thống có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở đó
phân tích, tổng hợp, thẩm định, đánh giá và nêu ra quan điểm của cá nhân.

Đề tài này cơ cấu thành hai chương:

Chương 1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chương 2. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

8

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên


Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Do thời gian hoàn thành đề tài này có hạn nên không tránh khỏi những khiếm
khuyết, sai sót. Rất mong nhận được sự động viên và đóng góp ý kiến của Thày Cô và
các bạn.

Người thực hiện

Huỳnh Thị Thủy Tiên

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

9


nước điều chỉnh. Còn nếu là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì nó sẽ được điều
chỉnh bằng pháp luật thương mại quốc tế: có thể là pháp luật của các quốc gia khác
nhau, các điều ước quốc tế và trong nhiều trường hợp liên quan đến cả tập quán
thương mại quốc tế.

Việc áp dụng không chính xác nguồn luật áp dụng sẽ dẫn đến những hậu quả pháp
lý rất khác nhau, có thể dẫn đến nhiều thiệt hại và rủi ro cho các bên trong hợp đồng.
Vì lý do đó, hết sức cần thiết phải có một khái niệm chung về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế hay nói cách khác là phải có cách xác định tương đối thống nhất về tính
quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Mặc dù luật không có định nghĩa thế nào là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,

“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các
bên
tham
gia


quan,
tố
chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan
hệ
dân
sự
giữa
các
bên
tham
gia là công dân, tố chức Việt Nam nhmg căn cử đế xác lập, thay đối, chầm dứt quan


+ Trường hợp thứ nhất, dựa vào quốc tịch của chủ thể trong hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Với điều kiện là ít nhất một trong các bên chủ thể tham gia có quốc
tịch nước ngoài, không bắt buộc bên chủ thể nước ngoài đó phải cư trú ở Việt Nam
hay nước ngoài.

+ Trường hợp thứ hai, căn cứ vào nơi cư trú của chủ thể. Thì ít nhất một trong
các bên chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bất kể người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đó mang quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước ngoài.

+ Trường hợp thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác lập giữa các

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

11

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên


3

Đoàn Năng: Một số vẩn đề lý luận cơ bản về tư pháp quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 157.
Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

lô hàng đặt tại một phòng trưng bày ở Nhật. Hợp đồng này cũng là hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam.

Nói về phương diện pháp luật quốc tế, thì cách xác định tính quốc tế của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam không giống với các quan điểm khác trên thế
giới.

Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2007, tr. 8.
5
Điềũ 1.
Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

trong trường hợp này chúng ta khó có thể xác định luật áp dụng cho hợp đồng khi
không có sự thỏa thuận của các bên về luật áp dụng.4

Ngoài ra, việc xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ
căn cứ vào dấu hiệu quốc tịch thì liệu có bao quát hết các hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế hay không? Chẳng hạn, một hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một
bên có trụ sở tại nước X mang quốc tịch nước X với một bên có trụ sở tại nước Y
nhưng lại mang quốc tịch nước X. Neu theo quan điểm, hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các bên có quốc tịch khác nhau thì đây không
phải là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Vì cả hai bên tham gia hợp đồng đều
mang quốc tịch của một nước đó là quốc tịch nước X. Vậy nó là hợp đồng gì? Trong
thực tế nó là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Một quan điểm khác về cách xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là dựa trên dấu hiệu trụ sở kinh doanh của bên mua và bên bán phải ở các
nước khác nhau. Dấu hiệu quốc tịch không được xem là dấu hiệu để xác định tính
quốc tế của hợp đồng.5 Như vậy, tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
theo Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)
1980 thì chỉ dựa trên dấu hiệu duy nhất là trụ sở thương mại của các bên nằm trên
những nước khác nhau. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng khái niệm hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố lãnh thổ hay trụ sở giao dịch giống như CISG, sẽ
cho phép xác định tính chất quốc tế của hợp đồng đơn giản hơn nhiều so với việc dựa
trên dấu hiệu quốc tịch và các dấu hiệu khác. Tuy nhiên, theo tác giả dựa vào dấu hiệu
trụ sở của các bên để xác định tính quốc tế của hợp đồng nó vẫn không bao hàm đầy
đủ các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ví dụ như trường hợp sau: một hợp đồng



Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được xem là thời điểm mà có sự thống
nhất ý chí của các bên. Có nhiều cách để các bên thể hiện sự thống nhất ý chí của
mình. Trong nhiều trường hợp, hợp đồng được giao kết giữa các bên vắng mặt, trong
các trường hợp này các bên thể hiện sự thống nhất ý chí của mình thông qua trao đổi
thư từ, tài liệu mà trong khoa học pháp lý chúng được gọi là trao đổi đề nghị giao kết
hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, sự thống nhất ý chí đó là một bên
đưa ra đề nghị và bên kia chấp nhận đề nghị. Còn trong trường hợp các bên gặp nhau
để tiến hành đàm phán, sự thống nhất ý chí đó được thể hiện khi các bên ký trực tiếp
vào hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận và thống nhất điều khoản cuối cùng.
1.1.3. Nguồn luật điều chỉnh quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế

Do mua bán hàng hóa quốc tế là giao dịch thương mại trong lĩnh vực dân sự có
yếu tố nước ngoài, vì vậy những vấn đề chung nhất của pháp luật quy định về giao kết
hợp đồng dân sự được áp dụng cho giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Ngoài ra, quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có thể chịu sự
điều chỉnh của hệ thống pháp luật thương mại quốc tế - có thể là pháp luật của các
quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế và trong nhiều trường hợp liên quan đến các
tập quán thương mại quốc tế.

Theo nguyên tắc chung của Tư pháp quốc tế, trong giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn
luật điều chỉnh cho quan hệ hợp đồng của mình. Khi đó, luật được lựa chọn sẽ có hiệu
lực áp dụng đối với quan hệ hợp đồng đó. Và khi có tranh chấp phát sinh thì cơ quan
xét xử phải áp dụng pháp luật đã được các bên lựa chọn. Tuy nhiên, thỏa thuận chọn
luật áp dụng giữa các bên phải được tiến hành trên cơ sở các quy định pháp luật quốc

nhiệm cụ thể của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nó chỉ định ra
những nguyên tắc pháp lý có tính chất chỉ đạo. Ví dụ như các Hiệp ước thương mại
hàng hải trong đó các quốc gia ký kết đưa ra các nguyên tắc tối huệ quốc về thương
mại và hàng hải, nguyên tắc đãi ngộ quốc dân,... Tóm lại, loại điều ước này chỉ điều
chỉnh gián tiếp các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

- Loại điều ước quốc tế về thương mại thứ hai là những điều ước trực tiếp điều
chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Loại này đóng một vai trò quan trọng giúp các bên có
thể giải quyết các tranh chấp cụ thể phát sinh từ hợp đồng đã ký kết. Ví dụ: Công ước
của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) 1980,...

Thông thường pháp luật các nước đều quy định rõ giá trị pháp lý của điều ước

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

16

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên


8 Nguyễn Văn Thông: Pháp luật trong đàm phân, ký két, thực hiện hợp đồng kinh té, Nxb. Tổng họrp Đồng Nai,
tr. 232.
Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

các điều ước quốc tế cũng có những quy phạm có tính chất tùy nghi, các bên có thể
tuân theo hoặc không tuân theo mà hợp đồng vẫn có giá trị.

Khi giao kết hợp đồng các bên còn phải đặc biệt quan tâm giá trị pháp lý của
các điều ước quốc tế đó để khi lựa chọn áp dụng tránh những trường hợp điều ước

I.I.3.2. Luật quốc gia

Trên thế giới hiện nay có nhiều dòng luật khác nhau, vì vậy cách tiếp cận luật
pháp cũng khác nhau dẫn đến sản sinh ra những vụ kiện tụng khác nhau, cách tố tụng
khác nhau, quá trình giao kết và soạn thảo hợp đồng cũng rất khác nhau. Do đó, các
bên tham gia giao kết hợp đồng cần phải hết sức quan tâm đến luật áp dụng.

Các dòng luật đó có thể kể đến là: luật lục địa (Continental Law, Civil Law),
luật Anh-Mỹ (Anglo-American Law, Commom Law), luật Xã hội chủ nghĩa (Socialist
Law) và luật Hồi giáo (Islamic Law).

Đối với các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa (Civil Law) luật được thể hiện
dưới hình thức văn bản. Ở các nước này, chỉ có các quy phạm được ghi trong các văn
bản pháp luật (luật thành văn) mới có giá trị bắt buộc. Trong khi đó, ở các nước theo
hệ thống pháp luật chung Anh-Mỹ (Common Law) bên cạnh luật thành văn thì ở các
nước này còn có cả luật không thành văn được ghi nhận trong các án lệ. Ở hai hệ
thống pháp luật này có điểm chung là nhánh luật thương mại và luật hợp đồng phát
triển khá mạnh mẽ và khá hoàn hảo.

Trong khi đó, hai hệ thống luật Xã hội chủ nghĩa và luật Hồi giáo thì luật
thương mại và hợp đồng lại chưa có sự phát triển. Bởi lẽ, đặc điểm trong hệ thống
pháp lý của các nước này nghiêng về bảo vệ lợi ích công. Trong đó luật Xã hội chủ
nghĩa là phục vụ cho sở hữu nhà nước, các phương tiện sản xuất và phân phối, bao
gồm hầu hết các doanh nghiệp. Các luật lệ này hỗ trợ cho đặc trưng kế hoạch hóa kinh
tế của nhà nước Xã hội chủ nghĩa, cho phép chính phủ trung ương thiết lập các tiêu
chuẩn quốc gia, thống nhất như nhau cho các hoạt động doanh nghiệp. Đối với luật
Hồi giáo, đây là hệ thống pháp luật pha trộn giữa quy phạm tôn giáo, đạo đức và pháp
luật. Tư tưởng pháp luật Hồi giáo khác hẳn với tư tưởng pháp luật phương Tây. Trong
khi phần lớn các nước phương Tây coi pháp luật là sự thể hiện ý chí của nhân dân
thông qua cơ quan lập pháp của mình thì pháp luật Hồi giáo lại coi nó là ý chí của

thế nào, có trái với quy định của pháp luật nước mình hay không.

- Pháp luật của quốc gia sẽ áp dụng nếu có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến.
Điều này có nghĩa là nếu trong điều ước quốc tế mà quốc gia mình tham gia ký kết
hoặc công nhận có quy định điều khoản về luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán
quốc tế thì luật đó đương nhiên được áp dụng. Vậy, khi ký kết hợp đồng các bên cần
tìm hiểu kỹ trong điều ước quốc tế mà nước mình là thành viên có điều khoản về luật
áp dụng không? Điều khoản đó áp dụng cho vấn đề gì? Và quy phạm đó dẫn chiếu đến
luật của nước nào để giải quyết? Từ đó sẽ tìm hiểu nguồn luật của nước được dẫn

"... 2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp
luật
do
các
bên
lựa
chọn;
nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định
áp
dụng
pháp
luật

Hội
đong trọng tài cho là phù hợp nhất. ” (Luật Trọng tài thương mại 2010)
GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

19

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên

pháp luật được áp dụng phổ biến trong thực tiễn. Ví dụ: tòa án (hoặc trọng tài) của
nước nào đó thì có quyền áp dụng các quy tắc tố tụng của nước đó khi giải quyết
những vấn đề về thủ tục tố tụng trong các tranh chấp về hợp đồng mua bán quốc tế.

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

20

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên


11
Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế
12
Diệp Ngọc Dũng: Tập bài giảng thương mại quốc tế, Khoa luật Đại học cần Thơ, 2002, tr. 12.
13
Trần Thi Hòa
Bình, Trần Văn Nam: Giáo
trình luật thương mại Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quốc té, Nxb. Lao động - Xã
hội,
2005,
tr.
100.
Theo nguyên tắc, bản thân của tập quán thương mại quốc tế không có hiệu lực
pháp lý như một quy phạm pháp luật. Nó chỉ có hiệu lực và có giá trị ràng buộc các
bên khi:

- Tập quán được các bên thỏa thuận áp dụng ghi trong hợp đồng. Việc thỏa
thuận này theo quy định của pháp luật của hầu hết các nước là phải tuân theo một số
nguyên tắc nhất định. Ví dụ: theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các bên trong

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp Việt
Nam ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn.15
1.1.4. Các nguyên tắc Ctf bản điều chỉnh quá trình giao kết hơp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết theo các nguyên tắc quy định
cho hợp đồng dân sự nói chung. Theo quy định của BLDS 2005, việc giao kết hợp
đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau:
1.1.4.1, Tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam định ra nguyên tắc: “quyền tự do cam kết
thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu
cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cẩm của pháp luật, không trái đạo đức xã
hội” (Điều 4). Tiếp đó Bộ luật này quy định cụ thể hơn “tự do giao kết họp đồng

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

22

SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên


16
Đinh Trung Tụng (chủ biên): Bình luận những nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2005, Nxb. Tư pháp, Hà
Nội, 2005, tr. 175.
Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
hợp đồng Châu Âu quy định: “các bên được tự do giao kết hợp đồng và xác định nội
dung của hợp đồng phụ thuộc vào các yêu cầu về thiện chí và công bằng và các quy
tẳc bẳt buộc được thiết lập bởi các Nguyên tẳc này” (Điều 1.02).

Qua các quy định này, chúng ta có thể nhận thấy tự do trong giao kết hợp đồng


17
18

Phạm Duy Nghĩa: Chuyên khảo luật kinh té, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 401.
Phạm Duy Nghĩa: Chuyên khảo luật kỉnh té, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 401 - 402.
Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nguyên tắc tự do giao kết
hợp đồng được thể hiện đặc biệt rõ nét và ở mức độ cao hon tự do ý chí trong ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Neu như trong ký kết hợp đồng mua bán
hàng hóa trong nước, nguyên tắc tự do thể hiện quyền tự do lựa chọn đối tác ký kết
hợp đồng, tự do lựa chọn nội dung hợp đồng, tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng
như trên. Thì đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ngoài những quyền trên,
nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng còn thể hiện trong các vấn đề sau:

Thứ nhất, các bên được tự do trong việc lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh
quan hệ của họ phát sinh từ hợp đồng;

Thứ hai, các bên tự do trong việc thỏa thuận hình thức giải quyết tranh chấp khi
phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, tự do giao kết hợp đồng bị hạn
chế. Sự cần thiết hạn chế tự do hợp đồng có thể được xem xét bởi ba lý do sau: lý do
thứ nhất là nhu cầu cân đối giữa lợi ích của cá nhân thông qua ý muốn của họ với lợi
ích chung của cộng đồng (bởi một mặt, con người cần được tự do để phát triển đầy đủ
và toàn diện đúng với mục đích sống của mình; mặt khác, cộng đồng cần phải được
duy trì và phát triển để trở thành cái nôi nuôi dưỡng thực sự cho các ước vọng chung
của con người và của mỗi cá nhân); lý do thủ hai là nhu cầu bảo vệ những người yếu
thế trong xã hội hay trong một giao dịch cụ thể; lý do thủ ba là nhu cầu phát triển kinh

lừa dối, bị đe dọa buộc phải giao kết hợp đồng; hoặc trường hợp một bên trong hợp
đồng bị mất năng lực hành vi dân sự. Một khi có sự vi phạm vào những trường hợp
nêu hên thì hợp đồng được giao kết đó có thể bị coi là vô hiệu.

Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng cũng là một
nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong văn bản pháp luật cao nhất - Hiến pháp 1992
(sửa đổi bổ sung 2001)19. Các chủ thể đều bình đẳng với nhau, không có sự phân biệt
về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp.

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết hợp đồng là nguyên tắc
thiện chí và trung thực, về mặt pháp lý, hậu quả của sự thiếu thiện chí, trung thực có
thể làm cho hợp đồng bị coi là vô hiệu.20 về mặt kinh tế, sự thiếu thiện chí và trung

“Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy
đủ
các
nghĩa
vụ
đối
với
Nhà
nước, đểu bình đắng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo
hộ.
Doanh
nghiệp
thuộc
mọi
thành phần kinh té được liên doanh, liên kết với cá nhân, tố chức kinh té trong và
ngoài

Điều 761. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài
23
Điều 760. Căn cứ
áp dụng pháp luật đối với
người không quốc tịch,Các phương thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế người nước ngoài có hai hay
nhiều
quốc
tịch nước
ngoài
24
Điều
762.
Năng
lực
hành vi dân sự
của cá nhân
là người nước
tuân theo những yêu cầu về thiện chí và trung thực. Và các bên trong hợp đồng không
ngoài
được loại trừ hay hạn chế nghĩa vụ này.21

I.I.4.3. Chủ

thể

của

hợp

đồng

người đó có quốc tịch. ” (BLDS 2005)
Điều 762. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài
“1. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp
luật
của
nước

người
đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
quy
định
khác.

(BLDS
2005)
Điều 765. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài
“1. Trong trường hợp Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật của Cộng hòa xã
hội
chủ
nghĩa
Việt
Nam
dãn
chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì
pháp
luật
áp
dụng
đoi
với

thì
năng
lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội
GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Huỳnh Thị Thủy Tiên
26


Trích đoạn Điều 134 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy đinh về hình thức Hiệu lực của đề nghị giaokết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết họp đồng Giải pháp cho thương nhân trong giaokết hợp đồng mau bán hàng hóa quốc tế Giải pháp trong quá trình hoàn thiện pháp luật về giaokết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status