Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước trong ngành điện Việt Nam - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Vào những năm gần đây, ngành điện trong nước, cụ thể là tổng côn ty điện
lực Việt Nam EVN đang ngày càng bộc lộ ra những vấn đề bê bối trong sản xuất
kinh doan, phân phối cũng như điều hành. Cụ thể là vụ kiện về điện kế điện tử
vào năm 2004-2005 gây ra nhiều tổn thất lớn cho người tiêu dùng, vụ tăng giá
điện đầu tháng 1/2007 gây ra tình trạng cắt điện liên tục trên diện rộng, việc thất
thoát 600 tỷ đồng khi Kiểm toán Nhà nước kiểm tra,…Đó chỉ là môt trong số rất
nhỏ những thiếu sót mà ta có thể thấy từ ngành điện Việt Nam.
Ngành điện là một trong các ngành công nghiệp trọng điểm quốc giá hiện
nay. Vì thế việc tập trung phát triển sản xuất, quản lý, phân phối điệ sao cho hợp
lý, đáp ứng được nhu cầu của tiêu dùng, phát triển của đất nước là tối cần thiết.
Tuy nhiên do vốn đầu tư ban đầu rất lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng có
thể dễ dàng xây dựng công việc kinh doanh trong địa bàn này. Chính những rào
cản đó mà ngành điện nước tan gay từ đầu đã được Nhà nước đầu tư cơ sở vật
chất, giao trách nhiệm cho một doanh nghiệp duy nhất quản lý.
Từ khi thành lập tới nay, nước ta chỉ có một và chỉ một doanh nghiệp độc
quyền quản lý các lĩnh vực sản xuất, xây dựng mạng lưới, truyền tải, phân phối
điện năng,…đế người tiêu dùng. Mặc dù ở các nước khác trên thế giới từ lâu đã
phá bỏ thế độc quyền của ngành thế điện nhưng đến nay nước ta vẫn giữ nguyên
cơ chế độc quyền ngành điện. Chính vì thế xảy ra rất nhiều vấn đề nhức nhối
trong ngành điện vẫn không thể giải quyết được.
Do đó, để tìm hiểu về ngành độc quyền điện ở nước ta, em đã chọn đề tài:
“Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước trong ngành điện Việt Nam”. Do
thời gian và vốn hiểu biết có hạn, em xin giới hạn tìm hiểu đề tài từ năm 2007nay. Rất mong được sự góp ý của cô giáo để em có thể hoàn thành tốt đề tài này.
1


NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.



Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ
chức độc quyền tư nhân với sức mạnh nhà nước tư sản thành một thiết chế và
thể chế thống nhất, trong đó nhà nước tư sản bị phụ thuộc vào các tổ chức độc
quyền và can thiệp vào quá trình kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc
quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ
nghĩa tư bản độc quyền ( chủ nghĩa đế quốc ). Nó là sự thống nhất của ba quá
trình gắn bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh của các tổ chức độc quyền, tăng
vai trò của nhà nước với nền kinh tế, kết hợp sức mạnh kinh tế độc quyền tư
nhân với sức mạnh chính trị của nhà nước.
Trong cơ cấu của chũ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhà nước đã trở
thành một tập thể tư bản khổng lồ. Ngoài chức năng của một nhà tư bản thông
thường, nó còn có chức năng chính trị và các công cụ trấn áp xã hội như quân
đội, cảnh sát, nhà tù,…


Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh tế,

chính trị, xã hội chứ không phải là một chính sách trong giai đoạn độc
quyền của chủ nghĩa tư bản. Bất cứ nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế
nhất định đối với xã hội mà nó thống trị, song ở mỗi chế độ xã hội, vai trò
kinh tê của nhà nước có sự biến đổi thích hợp đối với xã hôi.

3


3.

Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc

- Mở rộng xí nghiệp nhà nước băng vốn tích lũy
 Chức năng sở hữu nhà nước
- Mở rộng sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo địa bàn rộng lớn sự phát triển
chủ nghĩa tư bản.
- Giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi để đưa vào
ngành kinh doanh có hiệu quả hơn.
- Làm chỗ dựa về kinh tế cho nhà nước để nhà nước điều tiết 1 số quá trình
kinh tế phục vụ lợi ích của tầng lớp tư bản độc quyền.
 Sư điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
Hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản là một tổng thể những thiết
chế và thể chế kinh tế của nhà nước. Bao gồm bộ máy quản lý gắn với hệ thống
chính sách, công cụ có khả năng điều tiết sự vận động của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội theo hướng có lợi cho tầng lớp tư
bản độc quyền.
Công cụ chủ yếu của nhà nước tư sản dùng để điều tiết kinh tế và thực hiện
các chính sách kinh tế là: ngân sách, thuế, hệ thống tiền tệ-tín dụng, doanh
nghiệp nhà nước, kế hoạch hóa hay chương trình hóa kinh tế và các công cụ
hành chính-pháp lý.1

1

Giáo trình nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác Lenin, NXB Chính trị Quốc gia, 2009, trang 331.

5


II. THỰC TRẠNG ĐỘC QUYỀN ĐIỆN Ở VIỆT NAM
1.

Tình hình độc quyền điện Việt Nam từ 2005-2011

5,4
2120

8
7,0
2140

6
7,0
1385

2
9,0
1538

8
9,0
2819

11,0
3227

Nhà nước

Từ bảng trên ta có thể thấy cơ cấu ngành điện về cơ bản không có gì thay
đổi kể từ năm 2005-2011. Nhà nước vẫn gần như chiếm vị thế độc quyền tuyệt
đối trong việc phân phối điện năng ( chiếm trên 93 % sản lượng điển phát ra ).
Tất cả lượng điện này đều được do công ty EVN ( tập đoàn điện lực Việt Nam )
sản xuất và cung cấp. Theo báo cáo UNDP 2007, EVN là doanh nghiệp lớn thứ
3 tại Việt Nam sau Agribank và VNPT. Lĩnh vực kinh doanh chính là sản xuất,

a. Độc quyền trong khâu mua bán và phân phối điện năng

Tình trạng cắt điện dường như đã trở thành căn bệnh kinh niên của ngành
điện. Trong những năm gần đây, điện sinh hoạt vẫn bị cắt trên diện rộng từ
thành thị tới nông thôn, dặc biệt vào giờ cao điểm, hệ thống điện thiếu khoảng
800-1800 MW. Trước đây tình trạng cắt điện này thường chỉ xảy ra vào đợt cao
điểm nắng nóng. Ván đề này đã ảnh hướng lớn tới đời sống sinh hoạt của người
dẫn lẫn việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Biểu hiện độc quyền ở khâu mua bán và phân phân phối điện năng:
Về phương diện là người cung cấp điện cho nhân dân, độc quyền được thể
hiện ở chỗ REVN đã nhiều lần cắt điện đột ngột mà không báo trước như vào
ngày 7/8/2008 phòng Thương mại và Công nghiệp Cần Thơ đã tổ chức một buổi
tọa đàm với các doanh nghiệp. Một con số được nêu ra: trong năn 2008 khu
công nghiệp Trà Nóc chịu 275 lần cất điện đột xuất. Độc quyền làm cho khách
hàng không có lựa chọn nào khác vẫn phải tiếp tục chịu đựng gây ảnh hưởng tới
cuộc sống của người dân, công việc sản xuất của doanh nghiệp bị trì trệ.
EVN còn bất công trong khây phân phối điện cho người dân không công
bằng: doanh nghiệp ở Đồng Nai đã nợ tiền điện lên tới 85 tỷ đồng nhưng không

8


hề bị cắt điện, trong khi đó nếu một hộ gia đình bình thường gửi tiền điện quá
hạn 10 ngày sẽ bị cắt điện. Hộ gia đình muốn sử dụng lại phải nộp tiền phạt.
b. Độc quyền ở khâu thu mua điện:
Đôc quyền không chỉ trong vai trò nàh cung cấp điện mà EVN còn thể hiện
căn bệnh ấy từ vị trí là người đi mua điện từ các nhà máy điện. Hiện nay trên thị
trường có duy nhất công ty EVN là nhà thu mua và cung cấp điện cho người sử
dụng. Bên cạnh đó lại có nhiều nhà cung cấp điện đầu vào nên việc lựa chọn
công ty đối tác đều hoàn toàn phụ thuộc vào EVN. Do đó mà độc quyền ở khâu

nay, lạnh hoặc nóng người tiêu dùng mua điều hòa lắp vào. Gia đình dùng bóng
đền không đáng bao nhiêu điện, nhưng nếu lắp bình nóng lạnh, điều hòa,…
lượng điện tiêu thụ rất lớn, công suất tăng gấp đôi. Việt Nam có khoảng 18 triệu
hộ gia đình như vậy. Lượng điện tiêu thụ tăng lên 36 nghìn lần.” ( theo
Vietnamnet ). Ngành điện đưa ra giải pháp là “ tiết kiệm điện trong giờ cao
điểm”.
Khuyến khích người dân tiết kiệm điện là việc làm đúng đắn và cần thiết
nhưng đặt trường hợp EVN là doanh nghiệp nhà nước giao độc quyền điện cả
nước thì lí lẽ này thật khó chấp nhận. Thay vì tự kiểm chứng năng lực bản than
thì ngành điện laijd odor lỗi cho người tiêu dùng-khách hàng mua sản phẩm của
mình. Nhu cầu của khách hàng tăng cao, ngành điện lại than phiền. Yếu kém
của EVN chính là đã không thể dự đoán được nhu cầu của người dân, EVN cũng
chối bỏ trách nhiệm của mình trong những thiêt hại sinh hoạt, sản xuất kinh
doanh của người tiêu dùng điện do phải chịu cắt điện thường xuyên.
Một nguyên nhân khác dẫn tới thiếu điện là do dự án điện hoàn thành chậm
so với cam kết. EVN giải thích rằng do khó khăn trong huy động vốn, giải
phóng mặt bằng,…mặc dù Nhà nước đã hết sức tọa điều kiện cho các dự án điện
bằng việc ra quyết định 797 ( cho phép chỉ định tổng thầu xây lắp ) và QĐ 1195
( cho hưởng cơ chế đặc thù về thủ tục chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà thầu, nguồn
vốn,..). Báo cáo mới nhất của EVN cho thấy năm 2008 EVN có nguy cơ thiếu
9.046,55 tỷ đồng vốn vay và trái phiếu. Câu hỏi đặt ra là EVN có đang thực sự
thiếu vốn hay thiếu chuyên nghiệp trong công tác quản lý và huy động vốn?
Chính vì thế mà EVN gấp rút đưa đề án xin tăng giá điện cho Chính phủ.

10


d. Dự án xin tăng giá điện của EVN
Dư luận đã phản ứng mạnh mữ trước đề xuất tăng giá điện lên trung bình
20-30% trong 2 năm 2010-2011 của ngành điện:

Nguồn: www.tuoitreonline.com.vn
Tuy nhiên nhóm nghiên cứu không đưa ra kết luận nên tăng hay không tăng
giá điện. Trong phần trả lời chất vấn của Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng cho biết, với lợi nhuận 5%, mức thấp nhất với EVN, với giá thành và giá
bán hiện nay trong khi ngân sáh không bù lỗ mà bù chéo, bán cao bù cho bán
thấp, ngành điện đang gặp nhiều khó khăn, khả năng tăng giá điện là khó tránh
khỏi.4
Tăng giá điện là cần thiết vì thế giá điện thấp có thể khiến người dân sử
dụng lãng phí và các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam sản xuất để xuất
khẩu.
Hiện nay giá điện của nước ta thấp hơn một số nước trong khu vực. Theo
báo Lao động: “giá lẻ ở Việt Nam khoảng 5 cent/KWh, ở Trung Quốc là 11-12
cent/KWh”. Vấn đề đặt ra là mức tăng theo đề xuất của ngành điện đã hợp lý
chưa?
Trao đổi với báo Tuổi trẻ, ông Trần Viết Ngãi-chủ tịch Hiệp họi Năng lượng
Việt Nam cho biết: “giá điện chỉ nên tăng 10-15% là phù hợp với điều kiện kinh
tế nước ta hiện nay. Hơn nưa nên tăng làm nhiều đợt, nếu tăng cùng một lúc 2030% rất khó khiến người dân chấp nhận”. Tuy nhiên, trong dài hạn, khi nguồn
thủy điện không còn dồi dào như ban đầu thì tăng giá là tất yếu. Người tiêu dùng
4

www.tuoitreonline.com , ngày truy cập 20/5/2012

13


sẵn sang trả giá cao hơn cho chất lượng tốt hơn nhưng sẽ không chấp nhận tăng
giá khi vẫn chịu cảnh cắt điện với lý do “tiết kiệm chi phí”.
4.

Đề xuất một số giải pháp giải quyết thiếu điện do độc

quản lý, cung ứng điện.
Cần tách các nhà máy sản xuất điện, bộ phận truyền tải điện quốc gia và
mạng lưới bán lẻ điện thành những bộ phận độc lập. Đặc biệt cần xây dựng hệ
thống truyền tải điện quốc gia độc lập với bộ phận sản xuất, được đầu tư và phát
triển từ nguồn thu phí, nhờ đó có khả năng duy tu, nâng cấp, hạn chế thất thoát,
đồng thời giám sát và thúc đẩy việc sản xuất điện. Các công ty bán lẻ điện sẽ
được tổ chức theo địa bàn phù hợp chứ không tập trung về một vài đầu mối, dễ
dẫn đến độc quyền. Phương án này từng được nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất
nhưng không hiểu sao cho đến giờ vẫn chưa được thực hiện dù Bộ Công
Thương đã có đề án khá cụ thể.
Ông Mai Đình Trung, Phó giám đốc Quản lý dự án điện nông thôn và năng
lượng tái tạo, khẳng định: “Mặc dù hiện là nước xuất khẩu năng lượng, đến năm
2015, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng”. Tình hình này đòi hỏi phải cấp
thiết cải tổ ngành điện, phá thế độc quyền của EVN mới mong tạo ra một diện
mạo năng động của ngành điện, đáp ứng nhu cầu bức xúc trước mắt cũng như
yêu cầu phát triển năng lượng trong tương lai.5

5

Vũ Thành, Thời báo kinh tế sài gòn, NXB Văn hóa Thông tin, 2010, trang 24

15


KẾT LUẬN
Độc quyền điện ở Việt Nam vẫn đang là vấn đề nhức nhối đối với Chính
phủ. Rất khó để giải quyết triệt để những khúc mắc xảy ra nếu không có một
chính sách và hành động mang tính bắt buộc từ phía Nhà nước. Để bảo vệ quyền
lợi cho người tiêu dùng cũng như doanh nghiệp sản xuất EVN, Nhà nước cần
phải quy định rõ giới hạn của EVN trong việc liên tục tăng giá điện nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status