Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Lời nói đầu
Hiện nay chúng ta đang sống trong kỉ nguyên của khoa học công nghệ, chúng ta
sử dụng những máy móc, công cụ để phục vụ cho cuộc sống của con người, và các máy
móc này phải tiêu thụ năng lượng để hoạt động được.Tuy nhiên, hiện nay nguồn năng
lượng mà chúng ta đang có không thể đáp ứng đủ được nhu cầu.Trong khi đó các nguồn
năng lượng quan trọng của chúng ta hiện nay là năng lượng hóa thạch lại đang bị cạn
kiện dần,trong khi chúng ta chưa tìm ra được loại năng lượng có thể thay thế chúng và
đáp ứng đủ nhu cầu.Do đó việc sử dụng hợp lý năng lượng, tránh lãng phí là rất cần
thiết trong thời điểm hiện nay.Do đó việc tiến hành kiểm toán năng lượng là rất cần
thiết.Nó giúp chúng ta nhận diện được các vị trí sử dụng năng lượng chưa hợp lý, bị
lãng phí. Từ đó tìm ra các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho các đơn vị.
Chúng ta sử dụng năng lượng và rất nhiều mục đích khác nhau phục vụ cho nhu
cầu như: lấy nhiệt, cơ năng, quang năng….Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này thì chúng
ta nghiên cứu về kiểm toán năng lượng trong hệ thống chiếu sáng.
Page 1
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Chương 1: Khái quát về kiểm toán năng lượng
1.1: Định nghĩa về kiểm toán năng lượng
Kiểm toán năng lượng là một kiểm tra, khảo sát và phân tích các dòng năng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
1 Nóng sáng Các chất rắn và chất lỏng phát ra bức xạ có thể nhìn thấy được khi chúng
được nung nóng đến nhiệt độ khoảng 1000K. Cường độ ánh sáng tăng lên và màu sắc bề
ngoài trở nên sáng hơn khi nhiệt độ tăng.
2 Phóng điện Khi một dòng điện chạy qua chất khí, các nguyên tử và phân tử phát ra bức
xạ với quang phổ mang đặc tính của các nguyên tố có mặt.
3 Phát quang điện: Ánh sáng được tạo ra khi dòng điện chạy qua những chất rắn nhất
định như chất bán dẫn hoặc photpho.
Phát sáng quang điện: Thông thường chất rắn hấp thụ bức xạ tại một bước
sóng và phát ra trở lại tại một bước sóng khác. Khi bức xạ được phát ra đó có thể
nhìn thấy được, hiện tượng được gọi là sự phát lân quang hay sự phát huỳnh quang
Các khái niệm và đơn vị đo quang học
Lumen: Đơn vị của quang thông; thông lượng được phát ra trong phạm vi một đơn vị
góc chất rắn bởi một nguồn điểm với cường độ sáng đều nhau là một Candela. Một lux là
một lumen trên mỗi mét vuông. Lumen (lm) là đương lượng trắc quang của Oát, được tăng
lên để phù hợp với phản ứng mắt của “người quan sát chuẩn” 1 W = 683 lumen tại bước
sóng 555 nm.
Hiệu suất tải lắp đặt Đây là độ chiếu sáng duy trì trung bình được cung cấp trên một
mặt phẳng làm việc ngang trên mỗi Oát công suất với độ chiếu sáng nội thất chung được thể
hiện bằng lux/W/m².
Nguồn phát sáng: Bộ đèn là một đơn vị phát sáng hoàn chỉnh, bao gồm một hoặc
nhiều đèn cùng với các bộ phận được thiết kế để phân phối ánh sáng, định vị và bảo vệ đèn,
và nối đèn với nguồn điện.
Độ chói: là cảm nhận về độ sáng mà người quan sát có được tại khu vực được chiếu
sáng hoặc ở nguồn sáng.
VD: ban đêm, ta nhìn đèn pha của ô tô, mắt ta có cảm giác khó chịu => đó là hiện
tượng chói. Hệ thống chiếu sáng cần có độ chói phù hợp để không gây cảm giác khó chịu
cho người làm việc.
Lux: Đây là đơn vị đo theo hệ mét cho độ chiếu sáng của một bề mặt. Độ chiếu sáng
sáng là 1000 lux. Cũng 1000 lumen chiếu sáng trên diện tích mười mét vuông sẽ tạo ra độ
chiếu sáng mờ hơn, chỉ có 100 lux.
Nhiệt độ màu
Nhiệt độ màu, được thể hiện theo thang tính Kelvin (K) là biểu hiện màu sắc của đèn
và ánh sáng mà nó phát ra. Tưởng tượng một tảng sắt được nung đều cho đến khi nó rực lên
ánh sáng da cam đầu tiên, và sau đó là vàng, và tiếp tục cho đến khi nó trở nên “nóng trắng”
Tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình nung, chúng ta có thể đo được nhiệt độ của kim
loại theo độ Kelvin ( độ C + 273) và gán giá trị đó với màu được tạo ra. Đây là nền tảng lý
thuyết về nhiệt độ màu. Đối với đèn nóng sáng, nhiệt độ màu là giá trị “thực”; đối với đèn
huỳnh quang và đèn có ống phóng điện cao áp (HID), giá trị này là tương đối và vì vậy
được gọi là nhiệt độ màu tương quan. Trong công nghiệp, "nhiệt độ màu “ và “nhiệt độ màu
tương quan” thường có thể được sử dụng hoán đổi cho nhau. Nhiệt độ màu của đèn làm cho
đèn trở thành các nguồn sáng “ấm”, “trung tính” hoặc “mát”. Nói chung, nhiệt độ càng thấp
thì nguồn càng ấm, và ngược lại.
Page 4
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Chương 2: Các bước tiến hành kiểm toán năng lượng
Quy trình kiểm toán năng lượng ta xem xét cho 2 quá trình là kiểm toán năng
lượng sơ bộ và kiểm toán năng lượng chi tiết.
Kiểm toán năng lượng sơ bộ bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho một cuộc kiểm toán
bằng cách thu thập các số liệu về tiêu thụ năng lượng của đơn vị.Để làm được việc này
thì chúng ta đưa ra các bản câu hỏi dựa trên các hóa đơn năng lượng cũ của họ mà cụ
thể trong hệ thống chiếu sáng thì chỉ có hóa đơn tiền điện. Để từ đó chúng ta có cái nhìn
vị.Chúng ta phải phỏng vấn họ để thấy được điều kiện cụ thể của hệ thống chiếu sáng ở
đây đồng thời hoàn thiện các số liệu cần thiết cho việc kiểm toán.
Ở bước này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hệ thống chiếu sáng của đơn vị hơn.
Do những người trực tiếp vận hành hệ thống sẽ hiểu hơn ai hết về mức độ chiếu sáng
của từng khu vực và các loại đèn và đặc trưng tiêu thụ năng lượng của các thiết bị.
Mẫu phiếu khảo sát
STT
Khu
vực
Thiết bị
chiếu sáng
Công suất
(W)
Hiệu suất
(Lumen/W)
Số giờ vận
hành/ngày
(giờ)
Thời
điểm
hoạt
động
trong
ngày
nào cần chú ý (Ví dụ: xác định điểm biểu diễn nhu cầu năng lượng hoặc chi trả cho
năng lượng của một tháng nào đó tăng hoặc giảm đột biến, tìm hiểu nguyên nhân và có
thể đề ra giải pháp).
Sau khi hoàn tất các thông tin cần thiết trong văn bản, kiểm toán viên cần có cái
nhìn thực tế về tình hình chiếu sáng trong doanh nghiệp. Để làm được điều đó, kiểm
toán viên cần có một cuộc khảo sát, tham quan toà nhà, doanh nghiệp đang kiểm toán
dưới sự hướng dẫn của người có trách nhiệm.
Trong quá trình khảo sát, kiểm toán viên có thể xác định được các vị trí có hoạt
động tiêu thụ năng lượng chưa hợp lý bằng mắt thường và đưa ra lời khuyên nhằm
mang lại tiết kiệm chi phí năng lượng cho đơn vị
2.1.2: Nhận diện những vị trí tiêu thụ năng lượng không hiệu quả và đề xuất
phương án tiết kiệm.
Sau khi thu thập được các số liệu về tình hình sử dụng năng lượng trong đơn
vị và các số liệu về các thiết bị tiêu thụ năng lượng trong từng khu vực cụ thể.Chúng
ta sẽ tiến hành phân tích những số liệu đã thu thập được hoặc thông qua quá trình
tham quan thực tế để tìm ra những điểm chưa hợp lý trong hệ thống chiếu sáng.
Một số đề xuất:
• Lắp thiết bị tiết kiệm năng lượng Fluoresave cho hệ thống chiếu sáng.
• Phân mảnh hệ thống công tắc điều khiển
• Thay đổi thói quen sử dụng điện của con người.
• Tắt các thiết bị dùng điện không cần thiết khi ra khỏi phòng và hết
giờ làm việc. Cắt hẳn nguồn điện nếu không sử dụng các thiết bị khi hết giờ
làm việc.
• Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt bớt đèn chiếu sáng khi số
người làm việc trong phòng giảm. Thiết kế, lắp đặt hệ thống chiếu sáng chung một
cách hợp lý, giảm ít nhất 50% số lượng đèn chiếu sáng chung ở hành lang, khu vực
sân, vườn, hàng rào.
Page 7
- So sánh giá trị lux kế đo được với tiêu chuẩn. Sử dụng những giá trị đó làm
tham chiếu và xác định vị trí của các khu vực được chiếu sáng ít và các khu vực được
chiếu sáng nhiều.
- Phân tích tỉ lệ hỏng hóc và tuổi thọ thực của đèn và chẩn lưu từ các dữ liệu
trước.
- Nhận diện những vị trí, thiết bị lãng phí và sử dụng không hiệu quả năng lượng.
- Ước lượng điện năng tiêu thụ:
+Tính toán tổng công suất: tổng công suất=W/bóng đèn × số lượng bóng
đèn/1000
Page 8
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
+Tính toán mật độ công suất: W/foot vuông=kW × 1000/foot vuông
+So sánh mật độ công suất thực tế với tiêu chuẩn
+Ước lượng thời gian sử dụng hàng năm
+Ước lượng chi phí điện năng hàng năm dùng cho chiếu sáng:
tổng công suất × T vận hành 1 năm × $/kWh = $/năm
- Dựa vào các đánh giá và ước lượng kỹ lưỡng, có thể đưa ra một số giải pháp cải
tiến sau:
+ Giải pháp sử dụng tối đa ánh sáng mặt trời qua các tấm lợp trong suốt, mái che
ánh sáng phía bắc…
+Thay thế đèn bằng đèn sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, phải chú ý đến các yếu
tố như nguồn phát sáng, chỉ số hoàn màu và mức lux mà còn so sánh tuổi thọ đèn.
+Thay thế các chấn lưu bằng các chấn lưu sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, phải
chú ý đến các yếu tố về tuổi thọ và công suất, ngoài ra còn phải chú ý đến thất thoát
điện năng.
- Độ rọi nhỏ nhất: Emin=277( Lux)
- Tỉ số: EAve/ EMin= 2,45
- Tỉ số: EMax/ EMin= 3,5
Theo kết quả tính toán ta thấy chất lượng chiếu sáng của trung tâm rất tốt so với yêu
cầu về độ rọi đối với phòng đọc là 300 Lux.
Do nguồn cung cấp cho hệ thống chiếu sáng không nằm tập trung riêng nên việc xác
định điện năng tiêu thụ của chúng không tiến hành được. Tuy nhiên có thể ước tính năng
lượng tiêu thụ trong tháng 3 của hệ thống này khoảng 2700kWh.
2.2.2: Phân tích các biện pháp tiết kiệm năng lượng.
Sau khi đã có số liệu đo đạc cụ thể của những điểm chưa hợp lý trong hệ thống
chiếu sáng thì chúng ta tiến hành đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho đơn vị.
Page
10
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Chúng ta tiến hành phân tích cả về mặt kĩ thuật và kinh tế với các giải pháp để
xác định tính khả thi về mặt kĩ thuật cũng như chi phí để thực hiện và tiềm năng tiết
kiệm.
Với những tiềm năng mà khả thi cả về mặt kĩ thuật và kinh tế thì chúng ta sẽ
sắp xếp chúng theo hiệu quả kinh tế.Ở đây chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề thời
gian hoàn vốn của giải pháp.Từ đó lựa chọn được phương án tối ưu nhất.
2.3: Báo cáo kiểm toán năng lượng.
Bước tiếp theo trong quy trình kiểm toán năng lượng là lập một báo cáo chi tiết
Mô tả đơn vị
Mô tả sản phẩm hoặc dịch vụ
Kích thước, cấu trúc của các thiết bị, vị trí cần kiểm toán
Danh mục thiết bị với đầy đủ các đặc điểm kỹ thuật
Phân tích hoá đơn năng lượng
Cấu trúc giá
Bảng và đồ thị biểu diễn năng lượng tiêu thụ và chi phí
Thảo luận về chi phí năng lượng
Cơ hội bảo tồn năng lượng
Phân tích về kỹ thuật
Phân tích về chi phí và tiết kiệm
Đánh giá kinh tế
Lập kế hoạch hoạt động
Giới thiệu cơ hội bảo tồn năng lượng tiềm năng và kế hoạch
Lựa chọn một giám đốc năng lượng và phát triển chương trình
Kết luận
Bình luận thêm
Page
12
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
(Đề cương này được lập dựa trên các hướng dẫn lập báo cáo kiểm toán năng
lượng của chương trình CEEP)
Thamkhảo
Phải tiến hành đánh giá sơ bộ về loại chiếu sáng cần thiết, thường thì quyết định
được đưa ra dựa trên tính kinh tế và tính thẩm mỹ. Đối với các công việc văn phòng
bình thường cần mức chiếu sáng 200 lux. Đối với không gian văn phòng sử dụng điều
hòa, chúng ta nên chọn đèn tuýp huỳnh quang 36W bộ đôi. Nguồn phát sáng được phủ
Page
14
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
men sứ, thích hợp cho loại đèn trên. Cần có bảng hệ số sử dụng cho bộ đèn này từ nhà
sản xuất để tính toán chi tiết hơn.
Thu thập số liệu phòng theo mẫu dưới đây:
Kích thước phòng
Chiều dài
L1
10
m
Chiều rộng
L2
10
0,5
p.u
Sàn nhà
L7
0,2
p.u
Chiều cao bề mặt làm việc tính từ sàn nhà
L8
0,9
m
Chiều cao bộ đèn tính từ sàn nhà
L9
2,9
m
Hệ số phản xạ bề mặt
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Chỉ số phòng = (dài × rộng) ÷ [cao × (dài + rộng)]
Tính hệ số sử dụng:
Hệ số sử dụng được định nghĩa như là tỷ lệ phần trăm của lumen đèn trần phát ra
nguồn sáng và truyền đến bề mặt làm việc. Hệ số này bao gồm cả ánh sáng trực tiếp
phát ra từ nguồn phát sáng cũng như ánh sáng phản chiếu ra ngoài bề mặt căn phòng.
Nhà sản xuất sẽ cấp cho mỗi bộ đèn một bảng CU riêng lấy từ báo cáo thử nghiệm trắc
quang. Sử dụng bảng có sẵn từ nhà sản xuất có thể quyết định hệ số sử dụng để lắp các
loại đèn khác nhau nếu biết hệ số phản xạ của tường và trần nhà, biết loại nguồn phát
sáng và xác định được chỉ số đo phòng. Đối với đèn tuýp đôi, hệ số sử dụng là 0,66
tương ứng với chỉ số đo phòng là 2,5
Tính số mối lắp cần thiết bằng cách áp dụng công thức sau:
Trong đó: N: là số mối lắp.
E: mức lux cần thiết lên bề mặt làm việc.
A: diện tích (L × W).
F: tổng lượng dòng (lumen) của tất cả các dòng trong một mối lắp.
UF: hệ số sử dụng lấy từ bảng đối với mối lắp.
LLF: hệ số thất thoát ánh sáng. Hệ số này tính độ hao mòn theo thời gian của lượng
ánh sáng phát ra từ đèn và lượng bụi tích tụ trên mối lắp và trên tường nhà.
LLF = Lumen đèn MF x Nguồn sáng MF x Bề mặt căn phòng MF
Không gian giữa các bộ đèn = 10/3 = 3,33 m
Chiều cao lắp đặt = 2,0 m
Tỷ lệ không gian so với chiều cao = 3,33/2,0 = 1,66
Con số này gần với dung sai và vì vậy được chấp nhận.
Tốt hơn nên chọn bộ đèn có SHR lớn. Làm vậy có thể giảm số mối lắp và tải trọng
chiếu sáng liên kết.
Tiêu chuẩn thiết kế
Chỉ số tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế trong hệ thống chiếu sáng:
Mức
Ví dụ về các khu vực hoạt động
chiếu sáng
(Lux)
Chiếu sáng chung
20
Chiếu sáng dịch vụ tối thiểu tại các
đối với các phòng và
khu vực đi lại bên ngoài, các cửa hàng ngoài
khu vực hoặc không
trời, các chuồng gia súc
được sử dụng thường
50
Lối đi bộ và bậc lên xuống.
Page
17
Kiểm toán năng lượng
xuyên
hoặc/và các công
Chiếu sáng dịch vụ tối thiểu
Gia công nguội vừa và gia công cơ khí,
quy trình chung trong ngành hóa chất và
thực phẩm, các hoạt động đọc sách và lập hồ
sơ thông thường.
Giá treo, kiểm tra, phòng thiết kế, gia
công nguội tinh và dây chuyền máy móc,
nhuộm màu, công việc thiết kế quan trọng
Gia công nguội rất tinh và gia công cơ
khí, công cụ và dây chuyền máy móc đòi hỏi
sự chính xác đến từng chi tiết nhỏ, các linh
kiện điện tử, đo và kiểm tra các bộ phận
phức tạp (có thể được chiếu sáng cục bộ)
Những công việc cần sự chính xác đến
từng chi tiết, ví dụ như các bộ phận rất nhỏ
của công cụ, chế tạo đồng hồ, chạm khắc
3.2: Các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong hệ thống chiếu sáng
Sử dụng chiếu sáng tự nhiên
Tiện ích của việc chiếu sáng tự nhiên thay thế chiếu sáng bằng điện vào ban ngày đã
được nhiều người biết đến nhưng càng ngày càng bị bỏ qua đặc biệt ở các văn phòng được
trang bị điều hoà không khí hiện đại và ở các khu thương mại như khách sạn, trung tâm mua
bán vv. Nhìn chung, các nhà máy công nghiệp sử dụng ánh sáng ban ngày theo một số mẫu,
nhưng hệ thống chiếu sáng ban ngày được thiết kế không đúng có thể dẫn đến những phàn
nàn từ nhân viên hoặc dẫn đến việc sử dụng thêm các đèn điện vào ban ngày. Lưu ý một
ứng dụng cần mức chiếu sáng là 500 lux. Để tính toán thất thoát do phản xạ và khuyếch tán
bên trong hệ thống cửa sổ trần nhà, giả định rằng 40% ánh sáng mặt trời xuyên qua cửa sổ
trần nhà lan tỏa trong không gian. Do vậy, vào ngày có nắng, khoảng 2% diện tích trần nhà
được sử dụng làm cửa sổ. Để bù cho các góc mặt trời thấp, điều kiện sương mù, cửa sổ trần
19
Kiểm toán năng lượng
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
Giảm số lượng đèn là một phương pháp hiệu quả để giảm tiêu thụ năng lượng chiếu
sáng. Trong một vài ngành công nghiệp, giảm chiều cao lắp đặt của đèn, cung cấp bộ đèn
hiệu quả và sau đó tháo đèn sẽ đảm bảo việc chiếu sáng hầu như không bị ảnh hưởng gì.
Giảm số lượng đèn ở những không gian trống nơi không có hoạt động làm việc cũng là một
khái niệm hữu ích. Có một vài vấn đề về giảm bớt đèn liên quan đến sự kết nối giữa đèn và
chấn lưu trong các giá đèn có nhiều đèn. Có chấn lưu nối tiếp và chấn lưu song song. Hầu
hết chấn lưu là được mắc nối tiếp. Tỷ lệ khoảng 50/50, chấn lưu nối tiếp chuyển thành song
song khi sử dụng chấn lưu điện tử. Với chấn lưu nối tiếp, khi tháo một đèn ra khỏi chấn lưu,
đèn còn lại sẽ không sáng đúng cách và sẽ hỏng nếu vẫn tiếp tục hoạt động. Những đèn
không được tháo có thể sẽ không sáng hoặc sẽ nhấp nháy hoặc sinh ra ánh sáng rất yếu. Do
vậy, với chấn lưu nối tiếp chúng ta cần tháo tất cả đèn ra khỏi chấn lưu. Chấn lưu sẽ tiếp tục
sử dụng năng lượng, từ 10W đến 12W với chấn lưu từ và từ 1W đến 2W với chấn lưu điện.
Chấn lưu song song có thể rút bớt mà không gây quá nhiều vấn đề và thường được tiêu thụ
bởi các nhà sản xuất để chạy ít hơn một đèn so với các nhãn hiệu danh nghĩa.
Chiếu sáng theo công việc
Chiếu sáng theo công việc nghĩa là cung cấp độ chiếu sáng tốt theo yêu cầu chỉ
tập trung vào diện tích thực, ở đó công việc được thực hiện trong khi việc chiếu sáng
chung cho xưởng hoặc văn phòng chỉ giữ ở mức thấp hơn; ví dụ đèn gắn vào các máy
móc hoặc đèn bàn. Có thể tiết kiệm được năng lượng bởi vì đèn có công suất thấp cũng
màu của HPSV là rất thấp. Do đó, nên lắp đèn HPSV cho các ứng dụng như chiếu sáng
đường, sân, vv.
+Lắp đèn LED thay thế đèn sợi đốt. Đèn LED được sử dụng rộng rãi trong các
ngành công nghiệp để giám sát, biểu thị hỏng hóc, báo hiệu, vv. Đèn dây tóc thông
thường được sử dụng cho các mục đích đó nhưng có những bất lợi sau:
-Tiêu thụ năng lượng cao (15W/đèn)
-Hỏng hóc đèn cao (tuổi thọ hoạt động ít hơn 10.000 tiếng)
-Rất nhạy cảm với những dao động về điện áp
Đèn LED có những ưu thế sau so với đèn dây tóc.
-Tiêu thụ điện ít hơn (ít hơn 1W/đèn)
-Chịu được dao động điện áp cao trong việc cung cấp điện.
-Tuổi thọ hoạt động lâu hơn (hơn 1.00.000 giờ)
Các loại đèn được sử dụng phụ thuộc vào chiều cao lắp đặt, độ hoàn màu cũng là
một yếu tố định hướng. Bảng bên dưới tóm tắt khả năng thay thế cùng với khả năng tiết
kiệm.
Bảng tiết kiệm bằng cách sử dụng đèn hiệu quả hơn
Đèn
đang
Thay thế bởi
dung
Đèn sợi đốt
đèn
vonfam
halogen
38 đến 75
45 đến 54
66
66 đến 73
31 đến 61
54 đến 61
48 đến 73
48 đến 84
37
34 đến 57
62
35
Kiểm toán năng lượng
loại
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
áp
Đèn hơi natri hạ
42
Đèn hơi natri hạ
42
áp
Nhóm 4: Đ4-QLNL
GV:Dương Trung Kiên
chặn thuỷ ngân bị hấp thu trong kính và photpho. Điều đó giảm đáng kể nhu cầu thuỷ
ngân từ khoảng 15 miligam xuống 3 miligam mỗi đèn Nó có lợi ở những nước có luật
chất thải nghiêm ngặt.
Tại châu Âu, đèn T5 được sử dụng khá lớn thay loại đèn T8 36W, 13,92cm. Độ
dài ngắn hơn cho phép tích hợp trong các mô hình toà nhà tiêu chuẩn. Với vi chấn lưu
mới, bộ đèn nhẹ và phẳng, tiết kiệm không gian cũng như nguyên liệu để sản xuất.
Bảo dưỡng chiếu sáng:
Bảo dưỡng rất quan trọng với hiệu suất ánh sáng. Mức sáng sẽ giảm theo thời
gian do sự lão hoá của đèn và bụi trong giá đèn, đèn và bề mặt phòng. Cùng một lúc các
yếu tố này có thể làm giảm tổng chiếu sáng khoảng 50% hoặc hơn,trong khi đèn vẫn
tiếp tục sử dụng đầy đủ điện. Sau đây là các cách bảo dưỡng cơ bản giúp nhăn chặn
điều này:
+Lau sạch bụi ở giá đèn, đèn và thấu kính từ 6 đến 24 tháng một lần.
+Thay thấu kính nếu chúng chuyển màu vàng.
+Lau sạch hoặc sơn lại phòng nhỏ mỗi năm một lần và phòng lớn 2 đến 3 năm
một lần. Lau sạch bụi ở bề mặt đèn vì bụi làm giảm lượng sáng.
+Nên chú ý tập hợp treo đèn lại. Những đèn thông dụng, đặc biệt là đèn nóng
sáng và đèn huỳnh quang thường thất thoát từ 20% đến 30% hiệu suất sáng qua thời
gian hoạt động. Nhiều chuyên gia về chiếu sáng đề xuất nên thay đồng thời tất cả đèn
trong hệ thống chiếu sáng Điều này giúp tiết kiệm nhân lực, giữ độ chiếu sáng cao và
tránh gây tác dụng ứng suất cho chấn lưu của các đèn sắp hỏng.
Page
23
Kiểm toán năng lượng
+
+
Nguồn nung sáng
Nguồn phóng điện
Nguồn phát quang điện
Nguồn Led
Tuy nhiên trên thực tế thì để phục vụ cho chiếu sáng thì người ta chỉ sử dụng các
loại nguồn sáng:
+ Nguồn nung sáng
+ Nguồn phóng điện
+ Nguồn Led
Và trong mỗi loại nguồn này lại được phân chia ra làm nhiều loại khác nữa.
4.2: Nguồn nung sáng.
4.2.1: Đèn sợi đốt
Page
25