Xây dựng chính sách công nghệ thúc đẩy việc ứng dụng nguồn năng lượng xanh trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc liêu - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN PHÚC HUY
XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ
THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG NĂNG LƢỢNG XANH
VÀO TRONG HỆ THỐNG CHIẾU SÁNG CÔNG CỘNG,
KHU DÂN CƢ VÙNG NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Hà Nội, tháng 01 năm 2014

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

nghệ thúc đẩy ứng dụng năng lượng xanh vào trong hệ thống chiếu sáng công cộng,
khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu", bên cạnh những nổ lực của
bản thân, vận dụng những kiến thức tiếp thu được từ việc giảng dạy của các thầy cô
cùng với sự tìm hiểu thêm về tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài, tác giả luôn
nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, những lời động viên
khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn theo suốt trong quá trình
thực hiện luận văn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Ban Đào tạo, Khoa Khoa
học Quản lý của trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, đặc biệt xin chân thành cảm
ơn Tiến sĩ Đào Thanh Trường, người đã hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin cảm ơn các bạn và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, thông tin để
tác giả có thêm kiến thức hữu ích cho luận văn của mình.
Nhưng do đề tài nghiên cứu với thời gian và khả năng còn hạn chế, không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân
thành của quý thầy cô, các bạn và các đồng nghiệp để kiến thức của tác giả trong
lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.

Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Người thực hiện

Nguyễn Phúc Huy

4
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 7
1. LÝ DO NGHIÊN CỨU 7
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 12

3.3. Tác động của việc ứng dụng NLX đối với đời sống KT – XH tỉnh Bạc Liêu 67
3.4 Xây dựng chính sách công nghệ theo hướng định chế tài chính nhằm thúc đẩy ứng dụng nguồn
năng lượng xanh trong hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn
tỉnh Bạc Liêu 71
3.5. Thực hiện biện pháp chế tài 92
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 94
KẾT LUẬN 96
KHUYẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 104 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSCC Chiếu sáng công cộng
DN Doanh nghiệp
KDC Khu dân cư
KH&CN Khoa học và công nghệ
KT-XH Kinh tế - xã hội
NLX Năng lượng xanh
TKNL Tiết kiệm năng lượng
UBND Ủy ban nhân dân 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU BẢNG:

Điều kiê
̣
n vị trí địa lý Viê
̣
t Nam rất thuâ
̣
n lợi và phù hợp cho sử dụng khai
thác nguồn năng lượng mặt trời . Với tỷ lê
̣
giờ nắng cao trung bình 6-8h/ ngày,
trung bình 9-12 tháng/ năm trên cả nước đặc biê
̣
t hiệu quả với khu vực miền Trung
và miền Nam gần đường xích đạo trái đất . Nhận thức được tầm quan trọng, lợi thế
và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo hay còn được gọi là NLX trước nhu cầu
tiêu thụ điện ngày càng tăng phục vụ phát triển kinh tế (với sự gia tăng tiêu thụ điện
hàng năm từ 10-15%), gần đây Chính phủ Việt Nam đã xem xét việc nghiên cứu,
khảo sát, khuyến khích và hỗ trợ các nhà đầu tư, cả trong và ngoài nước, đầu tư vào
các dự án năng lượng xanh.
Phát triển năng lượng mới và NLX đã được đưa vào trong chiến lược phát
triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050
(Quyết định 1855/2007/QĐ-TTg ngày 27/12/2007). Cụ thể, chiến lược đề ra mục
tiêu tăng thị phần của năng lượng xanh trong tổng năng lượng thương mại sơ cấp từ
3% năm 2010 lên 5% năm 2020 và 11% năm 2050.
Bạc Liêu là một tỉnh có tiềm năng trong việc khai thác nguồn NLX để phục
vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, với số giờ nắng trong năm từ 2.500 – 2.600

8
giờ, tốc độ gió trung bình 5 – 6m/s. Việc ứng dụng các nguồn NLX vào quá trình sử
dụng điện phục vụ cho CSCC, KDC vùng nông thôn là một vấn đề thiết yếu trong

thiết. Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn, hy vọng đề tài sẽ góp phần tạo nên tiền đề
cho sự phát triển năng lượng xanh nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đời sống
xã hội theo Nghị quyết của tỉnh Bạc Liêu về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội định
hướng đến năm 2015.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chính phủ đã ban hành các Luật và các Quyết định có liên quan đến vấn đề
lợi ích và hiệu quả của việc ứng dụng NLX nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ
môi trường và tiết kiệm năng lượng. Cụ thể như:
- Luật Chuyển giao công nghệ (Luật số: 80/2006/QH11).
- Luật sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm (Luật số: 50/2010/QH12).
- Quyết định số 130/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 8 năm 2007, Về một số cơ chế,
chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch.
- Quyết định số 1855/QĐ-TTg, ngày 27 tháng 12 năm 2007, Phê duyệt Chiến
lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2050.
- Quyết định số 37/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 6 năm 2011, về cơ chế hỗ trợ
phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam.
- Quyết định số 1244/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 7 năm 2011, Phê duyệt
Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011
– 2015.
- Quyết định số 1427/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 10 năm 2012, Phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai
đoạn 2012 – 2015.
Trong cuốn sách “Chính sách sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng ở
Việt Nam” do Élisabeth Bourguinat soạn thảo năm 2009 đã đề cập đếm vấn đề năng
lượng và chính sách công, chương trình năng lượng tại đô thị và nhà ở, tình hình
quản lý và giao thông đô thị, việc sử dụng năng lượng trong công nghiệp và dịch vụ,
hiệu quả năng lượng.

10


1
Theo />cua-Viet-Nam-5-999.aspx

11
Năm 2010, Trung tâm NLTT và CCPTS, Viện Năng lượng đã thực hiện đề
tài “Nghiên cứu đề xuất ứng dụng năng lượng tái tạo phục vụ nhu cầu sử dụng
năng lượng cho các đồn biên phòng vùng sâu, vùng xa”. Đây là một nghiên cứu
thiết thực, đáp ứng nhu cầu NL cấp bách cho một đối tượng đặc biệt, đó là tập thể
chiến sỹ biên phòng, sống ở vùng không được sử dụng điện từ lưới điện Quốc gia,
điều kiện sinh sống gian khổ, góp phần tiết kiệm NK bằng các dạng NLTT tại chỗ
và thân thiện với môi trường
Giai đoạn từ 2010 đến nay, tỉnh Bạc Liêu đã triển khai các dự án ứng dụng
năng lượng xanh nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội như:
- Công trình điện gió tại tỉnh Bạc Liêu khởi công vào tháng 9/2010 đến nay
đã hoàn tất khâu lắp đặt 10 tua-bin, công suất khoảng 16MW, hệ thống đường dây
truyền tải và trạm nâng áp 110kV đang trong giai đoạn hoàn thiện, dự kiến sẽ phát
điện hòa lưới trong năm 2013. Dự án trên được Chính phủ phê duyệt trong dự án
quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến 2025 (quy
hoạch điện VII) mang ý nghĩa vĩ mô về cung cấp điện của tỉnh Bạc Liêu nói riêng
và vùng đồng bằng sông Cưu Long nói chung.
- Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ năng lượng mặt trời vào
các xã đặc biệt khó khăn tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện từ năm 2011, kết thúc vào
năm 2013.
- Triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng cho hệ thống chiếu sáng công
cộng từ bóng đèn Compact, bóng đèn huỳnh quang thay thế bằng bóng đèn được
Trung tâm Dịch vụ Đô thị thành phố thực hiện từ đầu năm 2012 tại các tuyến đường
chính trong thành phố Bạc Liêu.
Tuy nhiên, lý thuyết về chính sách công nghệ thúc đẩy ứng dụng NLX trong
hệ thống CSCC, KDC vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu còn mới, chưa có

Tác giả tiến hành nghiên cứu những văn bản chính sách, đề án, chương trình,
quy hoạch liên quan đến tiết kiệm năng lượng, sử dụng NLX ở các cấp để tạo cơ sở
lý luận và cơ sở pháp lý cho việc nghiên cứu và thực thi đề tài.
Tác giả thu thập những số liệu về tình hình sử dụng điện năng, tình hình sử
dụng/ ứng dụng năng lượng xanh qua các năm, các vùng, các lĩnh vực trên địa bàn

13
tỉnh Bạc Liêu, kết hợp với số liệu điều tra thực tế để từ đó có sự so sánh, đối chiếu
và tạo cơ sở thực tiễn cho việc hình thành giải pháp cho nội dung luận văn nghiên
cứu.
Các tài liệu liên quan đến nội dung về chính sách công nghệ theo định hướng
định chế tài chính nhằm thúc đẩy ứng dụng nguồn năng lượng mặt trời trong chiếu
sáng công cộng và khu dân cư vùng nông thôn cũng được tác giả quan tâm và
nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra thực tiễn
Nhằm khảo sát thực tiễn địa phương về tiềm năng phát triển nguồn NLX;
khảo sát tình hình thực tế đã áp dụng nguồn NLX vào trong hệ thống CSCC, KDC
vùng nông thôn; Các mô hình thí điểm đã áp dụng trên địa bàn; Các chính sách liên
quan đến việc áp dụng nguồn NLX trên địa bàn….Và nghiên cứu hiện trạng các mô
hình thí điểm việc ứng dụng nguồn NLX đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Bạc
Liêu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài sử dụng 300 phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin về thực trạng tình
hình sử dụng năng lượng của các tổ chức công và nhu cầu của người dân, tâm lý và
phản ứng xã hội (ủng hộ/không ủng hộ/thờ ơ) đối với chính sách nhằm nâng cao
luận cứ về tính khả thi của chính sách và định hướng trong xây dựng chính sách,
cung phù hợp với cầu….
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia:
Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 15 chuyên gia KH&CN, chuyên gia trong
lĩnh vực phát triển NLX, chuyên gia môi trường, chuyên gia xã hội học, chuyên gia

PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG
DỤNG CÁC NGUỒN NĂNG LƢỢNG XANH
1.1. Một số vấn đề lý luận về năng lƣợng
1.1.1. Năng lượng
Tổ tiên chúng ta đã biết sử dụng lửa từ hàng nghìn năm trước. Khi con người
còn sinh hoạt trong hang động thì lửa được sử dụng để chiếu sáng, sưởi ấm và nấu
nướng. Nguồn năng lượng động lực trong thời kỳ đó là sức người và gia súc.
Sau đó, nhờ sử dụng lửa, tổ tiên chúng ta đã làm ra được đồ gốm và các công
cụ bằng kim loại. Với những công cụ đó, con người đã thực hiện được các hoạt
động sản xuất như canh tác, trồng trọt và chăn nuôi, qua đó các cộng đồng xã hội
được hình thành. Có thể nói rằng, lửa chính là xuất phát điểm của nền văn minh
nhân loại. Vào cuối thế kỷ 18, ở Anh đã phát minh ra máy hơi nước dùng nhiên liệu
than đá. Từ đó, cuộc cách mạng về động lực bùng nổ và dẫn đến cuộc cách mạng
công nghiệp.
Hơn nữa, với kỹ thuật của động cơ đốt trong và sử dụng điện ở thế kỷ 19,
nhiều phát minh có tính bước ngoặt đã ra đời, đẩy mạnh sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, tạo ra một xã hội thịnh vượng và tiện nghi như ngày nay. Hiện tại, ở các
nước phát triển tiên tiến, tiêu thụ năng lượng bình quân trên đầu người cao hơn 50
lần so với xã hội cổ đại và cao hơn 10 lần so với thời điểm trước cuộc cách mạng
công nghiệp.
Các nguồn mà con người có thể thu năng lượng:
- Gỗ
- Sức nước
- Sức gió
- Địa nhiệt
- Ánh sáng mặt trời
- Than đá, dầu, khí tự nhiên (nhiên liệu hóa thạch)
- Uranium (nhiên liệu hạt nhân).



17
những khu vực công nghiệp tập trung của Trung Quốc. Tác hại do ô nhiễm không
khí đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và lan ra một khu vực rộng lớn. Đối sách
phòng chống hiện tượng này là cần phải có sự hợp tác của cộng đồng quốc tế.
+ Sự nóng lên toàn cầu: Những loại khí như CO2,CH4, N2O thải ra trong
quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân lớn nhất cho vấn đề ấm lên của
Trái Đẩt.
 Thay đổi thời tiết có khả năng đưa tới bất ổn chính trị. Hạn hán và
hồng thủy liên tục xảy ra khiến cho dân chúng tại nhiều địa phương phải bỏ nơi
chôn rau cắt rốn di chuyển đi nơi khác. Băng đá tan, nước biển dâng lên cao, gây ra
lụt lội, lở đất dọc theo đại dương và giảm nước ngọt cần thiết cho mọi sinh vật.
Giông tố bão lụt tăng độ ẩm trên mặt đất. Hạn hán gây thiệt hại canh tác, chăn nuôi.
Nhiều sinh vật quý hiếm sẽ bị tiêu diệt dần dần vì chúng không tồn tại được trong
thời tiết quá nóng cũng như tăng độ acid trong nước biển.
Trong tương lai, sức nóng có thể tăng khí thải nhà kính bằng cách làm cho
các khí này thoát ra khỏi nơi tích tụ dưới biển.
 Ảnh hưởng của hâm nóng toàn cầu đối với sức khỏe con người là
điều rất rõ.
Theo WHO, các bệnh gây ra do thay đổi khí hậu sẽ tăng lên gấp đôi vào thập
niên 2030. Các sinh vật mang mầm bệnh như sốt rét, viêm não, sốt vàng da sẽ gia
tăng vì chúng hợp với khí hậu nóng Khí hậu nóng lên tạo điều kiện tốt cho muỗi và
vi khuẩn, những tác nhân gây bệnh sốt xuất huyết và viêm não ở người.
Thời gian lạnh sẽ thu ngắn nhưng thời gian nóng tăng, đưa tới nhiều tử vong
vì say nóng (heat stroke). Mùa hè năm 2003 tại Pháp với 14,842 tử vong vì nóng tới
40°C là một thí dụ. Những người đang có bệnh tim mạch mà gặp thời tiết nóng bức
thì bệnh tình gia tăng vì tim phải làm việc nhiều hơn để giữ cơ thể mát. Ung thư
ngoài da tăng vì tiếp cận quá nhiều với tia nắng mặt trời. Một số nhà khoa học cho
rằng, thời tiết nóng giúp cho sự tăng sinh của các loại tảo ở dưới nước, đặc biệt là
khi nước bị ô nhiễm. Từ đó một số bệnh truyền nhiễm như tiêu chảy sẽ xảy ra nhiều

lượng bền vững và các cách thức hiệu quả hơn trong việc chuyển đổi và sử dụng
năng lượng”
3
(“Dynamic harmony between equitable availability of energy-

2
Theo “Renewable Energy and Efficiency Partnership” (August 2004). "Glossary of terms in sustainable
energy regulation" (PDF). Retrieved 2008-04-19.
3
Sustainable energy by J. W. Tester, et al., from MIT Press

19
intensive goods and services to all people and the preservation of the earth for
future generations." And, "the solution will lie in finding sustainable energy sources
and more efficient means of converting and utilizing energy”).
Một tổ chức về công nghệ xanh phi lợi nhuận lại đưa ra định nghĩa: “Bất kỳ
sự ra đời, hiệu quả và việc bảo tồn năng lượng mà có khả năng mở rộng về quy mô
để trở thành một phần quan trọng của thế hệ năng lượng một cách lâu dài trong
vòng khoảng 100 năm…”
4
("Any energy generation, efficiency & conservation
source where: Resources are available to enable massive scaling to become a
significant portion of energy generation, long term, preferably 100 years ")
Trước hết chúng ta cần xem xét tại sao lại gọi là “năng lượng xanh”. Vậy
“xanh” nghĩa là gì? Có nhiều định nghĩa, nhưng chung quy “Xanh” là những sản
phẩm được sản xuất với phương cách, quy trình và công nghệ đạt được 3 điểm
chính sau:
1. Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
2. Giảm gây ô nhiễm môi trường.
3. An toàn cho người tiêu dùng.

lượng, chuyển đổi thành dòng điện một chiều và đưa vào sử dụng hoặc chuyển đổi
dòng điện một chiều thành dòng điện xoay chiều hòa vào lưới điện quốc gia đang sử
dụng các công nghệ ngày càng phát triển.
Bức xạ mặt trời, cùng với nguồn năng lượng thức cấp như năng lượng gió,
năng lượng sóng, thủy điện và hầu hết các năng lượng tái tạo có sẵn trên trái đất.
Chỉ một phần rất nhỏ của năng lượng mặt trời có sẵn được sử dụng theo khả năng
của con người.
Các ứng dụng năng lượng mặt trời bao gồm: Nước nóng năng lượng mặt trời,
chiếu sáng, nấu ăn, nước sạch thông qua chưng cất và tẩy uế (dùng trong y tế), điện
năng lượng mặt trời, không gian sưởi ấm và làm mát thông qua kiến trúc năng
lượng mặt trời, quá trình tích nhiệt độ cao cho mục đích công nghiệp, điện năng
lượng mặt trời dựa trên các động cơ nhiệt và tế bào quang điện.
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng phong phú nhất, dồi dào nhất trong
tất cả các nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên. Trong 10 phút truyền xạ, quả đất
nhận một năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ Joule), tương đương với lượng
tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong vòng một năm. Trong 36 giờ truyền xạ, mặt
trời cho chúng ta một năng lượng bằng tất cả những giếng dầu của quả đất. Năng
lượng mặt trời vì vậy gần như vô tận. Hơn nữa, nó không phát sinh các loại khí nhà

5
enenergy-
hht.com/index.php?option=com_content&view=article&id=79&Itemid=204&lang=vi

21
kính (greenhouse gas) và khí gây ô nhiễm. Mười vấn đề lớn của nhân loại trong
vòng 50 năm tới đã được ghi nhận theo thứ tự nghiêm trọng là (1) năng lượng, (2)
nước, (3) thực phẩm, (4) môi trường, (5) nghèo đói, (6) khủng bố và chiến tranh, (7)
bệnh tật, (8) giáo dục, (9) thực hiện dân chủ và (10) bùng nổ dân số. Năng lượng là
mối quan tâm hàng đầu của nhiều chính phủ trên thế giới. Nguồn năng lượng chính
của nhân loại hiện nay là dầu hỏa. Một vài giờ cúp điện hay không có khí đốt cũng

trái đất. Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Sử
dụng năng lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môi
trường tự nhiên và đã được biết đến từ thời kỳ Cổ đại.
Bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất không đồng đều làm cho bầu khí
quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của trái đất ban
đêm bị che khuất không nhận được bức xạ của mặt trời và thêm vào đó là bức xạ
mặt trời ở các vủng gần xích đạo nhiều hơn là các cực, do đó có sự khác nhau về
nhiệt độ và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí giữa xích đạo và 2 cực cũng
như không khí giữa mặt ban ngày và mặt ban đêm của trái đất di động tạo thành gió.
Trái đất xoay tròn cũng góp phần vào việc làm xoáy không khí và vì trục của trái
đất nghiêng đi (so với mặt phẳng do quỹ đạo trái đất tạo thành khi quay quanh mặt
trời) nên cũng tạo thành các dòng không khí theo mùa.
Do bởi hiệu ứng Coriolis được tạo thành từ sự quay quanh trục trái đất nên
không khí đi từ vùng áp cao đến vùng áp thấp không chuyển động thẳng mà tạo
thành các cơn gió xoáy có chiều xoáy khác nhau giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu.
Nếu nhìn từ vũ trụ thì trên Bắc bán cầu không khí di chuyển vào một vùng áp thấp
ngược với chiều kim đồng hồ và ra khỏi một vùng áp cao theo chiều kim đồng hồ.
trên Nam bán cầu thì chiều hướng ngược lại.
Ngoài các yếu tố có tính toàn cầu trên, gió cũng bị ảnh hưởng bởi địa hình tại
từng địa phương. Do nước và đất có nhiệt dung khác nhau nên ban ngày đất nóng
lên nhanh hơn nước, tạo nên khác biệt về áp suất và vì thế có gió thổi từ biển hồ hày
vào đất liền. Vào ban đêm đất liền nguội đi nhanh hơn nước và hiệu ứng này xảy ra
theo chiều ngược lại.
 Năng lượng Hydro

23
Hyđrô là nguyên tố hóa học nhẹ nhất với đồng vị phổ biến nhất chứa một
prôton và một điện tử. Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn nó là dạng khí không màu,
không mùi, nhị nguyên tử (phân tử). Tỷ trọng hydro bằng 1/14 tỷ trọng của không
khí H2 dễ bắt cháy, có hóa trị 1, có nhiệt độ sôi 20,27 K (-252,87°C) và nhiệt độ

, khí
cháy cho ngọn lửa lơ nhạt mà không có khói bụi.
Ứng dụng đầu tiên của khí sinh học là để đun nấu. Bếp dùng khí sinh học
tương đương với các loại bếp gas khác, sử dụng tiện lợi và sạch sẽ. Một mét khối
khí sinh học tương đương từ 4kg củi hay 6kg rơm rạ. từ lượng phân của một con
trâu và một con lợn có thể sản xuất hàng ngày 400 – 500 lít khí đủ đun nấu cho một
gia đình 3 – 4 người. Khí sinh học còn có thể sử dụng để thắp sáng bằng đèn mạng,
có thể phát ra ánh sáng có độ sáng tương đương một bóng đèn điện 60W với lượng
khí tiêu thụ khoảng 70 – 80 lít khí trong 1 giờ.
Việc sử dụng khí sinh học đang được phát triển rộng rãi ở nhiều nước đang
phát triển, đặc biệt là các nước đông dân và có vùng nông thôn lớn như Trung
Quốc, Ần Độ. Ngoải việc dùng khí sinh học để đun nấu, thắp sáng, chất bã thải còn
là nguồn phân hữu cơ rất tốt, không những có đặc tính của phân hữu cơ truyền
thống mà còn có nhiều ưu điểm khác do kết quả quả quá trình phân hủy vi sinh vật
kỵ khí. Kết quả nghiên cứu nhiều năm cho thấy phân khí sinh học sản xuất từ phân
lợn và rơm rạ cho năng suất lúa tăng từ 6 – 19% so với phân hữu cơ thông thường.
Hơn nữa phân khí sinh học không có mùi, không làm ô nhiễm môi trường như phân
hữu cơ tự nhiên.
1.1.4. Vai trò của nguồn năng lượng xanh đối với đời sống xã hội
Theo “Báo cáo Đặc biệt về Nguồn năng lượng tái tạo và giảm nhẹ biến đổi
khí hậu” của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), đến năm 2050,
năng lượng tái tạo có thể đáp ứng gần 80% lượng cung cấp năng lượng trên toàn thế
giới, góp phần giảm thiểu tác động của các vấn đề sức khỏe liên quan tới ô nhiễm
và các nước đang phát triển chính là nơi sản sinh ra hơn 50% lượng điện năng tái
tạo này.
Công nghệ tái tạo có thể cung cấp năng lượng cho hơn hai tỷ người ở các
quốc gia đang phát triển và giảm các tác động sức khỏe do ô nhiễm. Tuy nhiên, điều
đó sẽ chỉ xảy ra khi các nhà hoạch định chính sách tạo lập được các chính sách khả

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status