Rèn luyện và phát triển đạo đức cho học sinh lớp 10 thông qua bài một số phạm trù cơ bản của đạo đức của môn GDCD lớp 10 - Pdf 33

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT TAM HIỆP
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP
10 THÔNG QUA BÀI: MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA
ĐẠO ĐỨC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
Người thực hiện: Hồ Thị Dung
Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp dạy học bộ môn: Giáo dục công dân

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình

 Đĩa CD (DVD)

 Phim ảnh  Hiện vật khác

(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)

I.

Lý do chọn đề tài

Năm học: 2014-2015

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC




III.

KINH NGHIỆM KHOA HỌC
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Công dân
- Số năm có kinh nghiệm:

9 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
- Rèn luyện và phát triển kỷ năng giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 12.
Thông quan giảng dạy môn giáo dục công dân.
- Sơ đồ hóa môn giáo dục công dân
- Vận dụng tình huống và giảng dạy môn giáo dục công dân lớp 12

2


I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước ta đã và đang tiến hành CNH và HĐH trên mọi mặt của đời sống xã hội
từng bước hội nhập với các nước trên thế giới, đẩy lùi và từng bước xóa bỏ nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp tiến tới xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Như Bác đã nói “Xây dựng xã hội chủ nghĩa thì phải có
con người xã hội chủ nghĩa”.
Vậy con người xã hội chủ nghĩa đây là gì? Chính là con người “Vừa hồng vừa
chuyên” hay chính là vừa có đức vừa có tài.
Ngày khai giảng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác Hồ viết thư cho
học sinh Bác khẳng định “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
dân tộc Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính

mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Đạo đức là
tổng hợp những quan điểm của một xã hội, một tầng lớp xã hội, của một tập hợp
người nhất định về thế giới về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh được hành
vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng của xã hội.
Theo định nghĩa sách giáo khoa GDCD lớp 10 thì đạo đức là: Hệ thống các quy
tắc, chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức, tự giác điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng và xã hội.
Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh “Đào tạo con người Việt nam phát triển toàn
diện, có đức, trí, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc
lập dân tộc và CNXH, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.(22;23)
1.3.1. Các quan niệm rèn luyện và phát triển đạo đức.
Rèn luyện: Là luyện tập một cách thường xuyên để đạt tới phẩm chất hay trình
độ ở mức nào đó, hoặc rèn luyện thường xuyên những đức tính tốt cho học sinh.
Phát triển: Là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu.
Từ đó chúng ta hiểu được rèn luyện và phát triển đạo đức là như thế nào và mục
đích của nó là gì.
2. Cơ sở thực tiễn
Đặc thù của môn GDCD được xây dựng trên cơ sở các môn khoa học khác như:
Triết học, CNXH khoa học, Pháp luật học, đường lối chính sách của Đảng và Pháp
luật của nhà nước,… Đặc biệt chương trình GDCD lớp10 học kỳ hai là đạo đức
học, vai trò của người giáo viên làm sao cho các em hiểu được thế nào là người có
4


đạo đức, quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người, các phạm
trù cơ bản của đạo đức. Muốn làm được điều đó thì giáo viên phải thiết kế bài giảng
làm cho học sinh thích thú môn học, trông ngóng đến hôm có tiết Công Dân. Vì

trang và kỹ năng sống, giao tiếp mang giá đậm giá trị đạo đức.
III. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Thực trạng
1.1 Khái quát vài nét cơ bản về trường THPT Tam Hiệp
Là một ngôi trường lâu năm, trên 50 mươi năm xây dựng và trưởng thành. Giàu
truyền thống hiếu học, số lượng học sinh nhiều và đại đa số là con em công nhân,
nằm giữa các phường Bình Đa, Tam Hiệp, Tam Hòa và Tân Mai số học sinh gần
1500 của ba khối. Với đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, nhiệt tình và tâm huyết
với nghề, có thể nói rằng đội ngũ giáo viên trường THPT Tam Hiệp là một trong
những trường đạt chuẩn nhất về trình độ chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm
ở tỉnh Đồng Nai này. Trường với ba khối lớp 10,11,12. Mỗi khối có 10 lớp. Vì số
lượng học sinh nhiều nên tôi chọn :
Đối tượng tôi khảo sát là 4 lớp 10 trên tổng số 10 lớp của khối 10 bao gồm các
lớp sau: 10A1, 10A2, 10A3, 10A4. Trong đó lớp 10A1 và 10A2 là lớp chọn của
trường.

6


1.2. Thực trạng về khó khăn và thuận lợi.
Thuận lợi: Nhìn chung là các em đều ngoan, điểm xét tuyển vào trường tương
đối cao, ý thức đạo tốt. Bên cạnh đó còn được Ban giám hiệu nhà trường hết sức
quan tâm giúp đỡ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh theo dõi sát sao, từ nề nếp trang phục
đến đầu tóc quần áo, nề nếp đạo đức để kịp thời nhắc nhở. Bên cạnh đó đội ngũ
giáo viên giảng dạy môn công dân có trình độ chuyên môn đạt chuẩn nhiệt tình và
tâm huyết với nghề kinh nghiệm lâu năm. Đồng thời với sự quan tâm sát sao của
các cấp chính quyền ở địa phương đã giúp cho học sinh yên tâm hơn trong thi đua
học tốt. Đặc biệt sự kết hợp chặt chẽ giữa cha mẹ học sinh với BGH, giáo viên chủ
nhiệm “Giáo viên bộ môn đã tạo nên sự đồng nhất trong sự giáo dục về tư tưởng
đạo đức cũng như trang bị kiến thức cho các em.”

thà, khiêm tốn thì cũng phải dạy cho các em đấu tranh loại bỏ tính gian lận trong thi
cử, chủ nghĩa cá nhân... Thầy cô giáo phải là tấm gương để các em noi theo, là
trọng tài mẫu mực không dung túng những thói hư tật xấu của học trò.
Thứ ba : Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời.
Bác Hồ đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do quá
trình đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển cũng cố. Cũng như ngọc
càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(44;46)
Việc rèn luyện đạo đức cho các em phải tạo cho các em tính tự giác, tự nguyện,
dựa vào lương tâm của em. Làm cho các em nhận biết được cái đúng cái sai, cái có
đạo đức và cái phi đạo đức. Cái thiện và cái ác, là người thì ai cũng có cái hay cái
dở, học sinh cũng vậy khi mà các em đang chập chững tập làm người lớn dễ sửa
chữa, khắc phục để trở thành con người tốt.
Vận dụng những nguyên tắc đó vào bài giảng. Vì bài này dài và nhiều nội
dung trong thời lượng 3 tiết nên tôi chỉ vận dụng hai nội dung trong tiết 1 của bài

8


MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC
(tiết1)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức
- Hiểu được thế nào là nghĩa vụ, lương tâm
- Hiểu rõ những yêu cầu và nhiệm vụ mà đạo đức xã hội đặt ra cho con người, từ đó có
nhận thức đúng về đạo đức cá nhân và có ý thức bồi dưỡng đạo đức mới.
2. Về kỹ năng
- Đánh giá một cách khoa học các hiện tượng đạo đức hằng ngày của xã hội.
- Đánh giá được các hành vi đạo đức diễn ra trong cuộc sống hằng ngày.
3. Về thái độ
- Biết tôn trọng và giữ gìn những chuẩn mực đạo đức mới, tiến bộ.


Câu hỏi: Hãy chọn phương án đúng, sai bằng cách đánh dấu (X) vào các ô tương ứng.
10


Nội dung

Đúng Sai

1. Những người sống thiếu đạo đức thường hành động một cách tàn
nhẫn, ích kỉ.
2. Các quy tắc, chuẩn mực đạo đức biến đổi cùng với quá trình vận
động và phát triển của lịch sử xã hội.
3. Nền đạo đức xã hội luôn bị chi phối bởi quan điểm và lợi ích của
những giai cấp, tầng lớp lao động chiếm số đông trong xã hội.
4. Để xây dựng nền đạo đức mới tiến bộ, chúng ta cần loại bỏ và tránh
xa những nền tảng đạo đức trước đây.
5. Đạo đức là phương thức duy nhất để điều chỉnh hành vi của con
người một cách hiệu quả.
6. Đạo đức là pháp luật tối đa, pháp luật là đạo đức tối thiểu.
7. Trong thực tế, có những trường hợp hành vi của cá nhân tuy không
vi phạm pháp luật nhưng có thể vẫn bị phê phán về mặt đạo đức.
8. Không phải phong tục, tập quán truyền thống nào cũng phù hợp với
các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội.
9. Đạo đức không quan trọng bằng tiền bạc.
10. Tất cả các hành vi vi phạm đạo đức đều là hành vi vi phạm pháp
luật.
Gợi ý trả lời: Câu đúng: 1, 2, 6, 7, 8

Câu sai: 3, 4, 5, 9, 10

triển, tồn tại của đời sống đạo đức
con người và xã hội. Nó xác lập
nên hệ thống những khái niệm,
phạm trù, những chuẩn mực đạo
đức cơ bản, làm cơ sở cho ý thức
đạo đức và hành vi đạo đức của
con người.
- GV nêu ví dụ: Cha mẹ có
trách nhiệm yêu thương, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con
cái. Khi đất nước bị xâm lăng,
mọi người có trách nhiệm chiến
đấu, lên đường nhập ngũ bảo vệ
Tổ quốc.
12


 Đó là nghĩa vụ.
Vậy, nghĩa vụ là gì?
- GV: Nhận xét, chốt lại.

1. Nghĩa vụ

- GV: Nghĩa vụ là biểu hiện

a) Nghĩa vụ là gì?

riêng chỉ có ở con người, trong

* Khái niệm: Nghĩa

của
cộng
đồng,

hội.
bảo hài hoà những nhu cầu, lợi
đồng, xã hội.
ích của các thành viên, xã hội - HS ghi ý chính
đặt ra yêu cầu chung là làm theo

* Các yêu cầu của

- HS Ví dụ: Con cái có trách nhiệm nghĩa vụ đạo đức:
quy định của đạo lý và luật
yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu
+ Cá nhân phải biết
pháp.
thảo, vâng lời, nuôi dưỡng cha mẹ…
đặt nhu cầu, lợi ích
Một hành vi được xem là thực
của xã hội lên trên;
hiện nghĩa vụ đạo đức phải đặt
phải biết hy sinh
trên cơ sở: tự giác, vì cái thiện,
quyền lợi của mình
Ví dụ: Cty kinh doanh thì có nghĩa vụ
cái tốt đẹp; và được tự do.
(những giá trị thấp) vì
phải đóng thuế cho nhà nước.
- GV: Gọi học sinh lấy thêm ví


người thanh niên

dựng cột điện, kéo dây về làng;

Việt

phải dọn nhà đi nơi khác để
13

Nam

hiện


thành phố mở rộng đường; Tổ

nay(Giam tải)

quốc bị xâm lăng, trong khi đó
bản thân phải nuôi mẹ già, con
nhỏ, cầm súng lên đường hay ở
nhà…
- Khi đó, sự kết hợp hài hoà đòi
hỏi (như phần nội dung):
Hoạt động 2: XỬ LÝ TÌNH HUỐNG + THẢO LUẬN NHÓM ĐỂ TÌM 2- Lương tâm.
HIỂU LƯƠNG TÂM (17 phút)

a) Khái niệm lương


- HS trả lời : Lương tâm là năng lực
nhân luôn tự đánh giá xem hành
tự đánh giá và điều chỉnh hành vi đạo
vi đó đúng hay sai. Năng lực đó
đức của bản thân trong mối quan hệ
gọi là lương tâm. Lương tâm là
với người khác và xã hội.
gì ?
- HS trả lời: 2 trạng thái: trạng thái
- GV : Nhận xét, KL
thanh thản của lương tâm và trạng
- GV : Lương tâm có mấy trạng thái cắn rứt của lương tâm.
thái ?

Lương tâm là năng

* Hai trạng thái
biểu hiện
- Lương tâm thanh
thản -> giúp con
người tự tin hơn,
phát huy được tình
tích cực trong hành

- HS nhanh chóng hình thành nhóm vi của con người.
học tập theo sự hướng dẫn của giáo

- GV: chia lớp làm nhiều nhóm, viên.

- Sự cắn rứt của

Câu 1 : Đưa 1 cụ già qua đường ;
Trả lại một chiếc ví nhặt được.

rứt ? ví dụ ? ý nghĩa của trạng → Tự tin vào bản thân, tiếp tục phát
huy
thái này ?
- GV nhận xét, kết luận.

Câu 2: Quay cóp trong giờ kiểm tra,
Lấy trộm tiền của bố mẹ.
→ hối hận, ăn năn, điều chỉnh hành vi
của bản thân.

- GV : Người như thế nào là
người vô lương tâm ?
- GV : Người vô lương tâm sẽ
bị xã hội lên án và bị đào thải.
Vì thế chúng ta cần phải cố

- HS ghi ý chính.

- HS : Thường làm điều ác nhưng điều vô đạo đức mà
không hối hận, ăn năn, xấu hổ, không không biết ăn năn
hối cải, không cắn

cắn rứt.

gắng rèn luyện để trở thành một - HS trả lời:
người có lương tâm trong sáng.



hành vi đạo đức.
- Thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ của bản
thân,

tự

nguyện

phấn đấu để trở
thành công dân tốt.
- Bồi dưỡng tư cách
- GV : HS phải làm gì để trở

đẹp trong sáng trong

thành người có lương tâm ?

quan hệ người với
người
* Đối với HS:
- Tự giác thực
hiện nghĩa vụ của

- GV : kết luận.

học sinh
- Ý thức đạo đức,
tác phong, ý thức kỷ

nói chính xác là hình thành nhân cách cho các em từng bước một. Tuổi các em bắt
đầu chập chửng làm người lớn các em dễ bắt chước và học theo vì vậy cũng dễ sa
ngã khi tiếp xúc nội dung không tốt. Vì vậy chúng ta là giáo viên những người thầy
cô phải là một tấm gương thật sự cho các em noi theo trong mọi cử chỉ hành động.
Lời nói phải gắn với việc làm. Nghĩa vụ của người giáo viên, ngoài nghĩa vụ pháp
lý còn có nghĩa vụ đạo đức và tình cảm. Nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của các
em. Người giáo viên nhiều lúc đóng vai trò là người thầy, người bạn và là người
anh người chị với học trò. Chúng ta làm được điều đó chắc chắn chúng ta thành
công trên con đường rèn luyện đạo đức không chỉ giúp học sinh hiểu về nghĩa vụ
mà còn nắm được danh dự và nhân phẩm của một con người. Từ đó các em thực
hiện tốt hơn qua khảo sát lần thứ 2 thực hiện rõ tính tự giác, thực hiện nghĩa vụ của
17


mình.
2.2. Giải pháp 2
Đối với phần lương tâm và làm thế nào để trở thành người có lương tâm. Ngoài
ví dụ và tình huống nêu trên tôi lấy ví dụ và một tình huống cụ thể. Tâm trạng của
một bạn trong giờ kiểm tra vì không học bài nên chuẩn bị để quay bài, giằng xé
giữa quay và không quay. Nếu quay thì điểm cao, khi cô giáo không bắt được, nếu
không quay thì bì điểm không…Tâm trạng đó là lương tâm. Hoặc một tình huống
khác một học sinh nhặt được một trăm ngàn đồng trong lớp học. Bạn đấu tranh tư
tưởng là trả hay không trả cho người mất tiền. Khi các em giải quyết được hai tình
huống đó các em hiểu được thế nào là lương tâm con người. Trong trạng thái nào
thì lương tâm cắn rứt, trong trạng thái nào lương tâm thanh thản. Bên cạnh đó tôi
lấy một vài tấm gương tốt. Đó là 3 em học sinh THCS ở Lào cai nhặt được một ví
tiền của du khách đi du lịch Sapa đánh rơi cho Công an với số tiền là 25 triệu tiền
Việt và nhiêù USD khác. Sau này biết được ví tiền đó là của một vị khách nước
ngoài người Ý. Đó là những tấm gương chúng ta cần học tập noi theo mặc dù tuổi
đời các em còn rất nhỏ. Hay một tên tội phạm đã gây tai nạn chết người đang lẩn


Tỷ lệ

Số
lượng

Tỷ lệ

10A1

42

40

95.2 %

2

4.8%

0%

10A2

41

38

92.6%


19%

0%

<Nguồn tự khảo sát>
Qua con số ban đầu và sau khi rèn luyện ý thức đạo đức cho các em chúng ta thấy
rõ sự tiến bộ về ý thức đạo đức của các em trong quá trình học tập, những con số đáng
mừng. Muốn duy trì được điều đó thường xuyên thì đòi hỏi sự nổ lực thường xuyên của
cả thâỳ và trò.
Nhưng bên cạnh những biểu hiện tích cực nêu trên vẫn còn không ít hạn chế
trong nhận thức và thái độ của học sinh đối với đạo đức. Một số em vẫn còn thiếu
ý thức không tự giác thực hiện các hành vi đạo đức, mặc dù đối với hành vi rất
nhỏ nhặt như chào hỏi thiếu thái độ lễ phép, không tôn trọng người khác, gian lận
trong thi cử…Thực tế đó cũng nói lên sự hạn chế trong rèn luyện và phát triển
đạo đức cho học sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau.Vì vậy đòi hỏi chúng ta
phải kiên trì và quyết tâm.
Góp phần quan trọng nhằm rèn luyện và phát triển đạo đức của học sinh phải
kể đến vai trò của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn. Bên cạnh và song
hành môn giáo dục công dân lớp 10. Tất cả các em được điều tra đều cho rằng
môn giáo dục công dân giúp các em hiểu biết về đạo đức và giáo dục các em trở
thành con người có đạo đức cũng như sự đóng góp của các bộ môn khác.
Tuy nhiên để giáo dục ý thức đạo đức cho học sinh đạt hiệu quả cao, đề tài đã
đề ra một số giải pháp rèn luyện và phát triển đạo đức cho học sinh. Rèn luyện và
19


phát triển đạo đức cho học sinh không chỉ thông qua môn giáo dục công dân lớp
10, bởi bản thân môn học này vẫn còn hạn chế, bất cập trong một số khía cạnh.
Vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông bậc học này phải phát huy
được sức mạnh tổng hợp của xã hội, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng và gia

thức, cộng

cù, sáng tạo

đồng

Nói đi đôi với
làm

10ª1

42

42

100%

39

92,3%

40

95%

21

50%

10ª2


32

74,4%

22

52,35

10ª4

42

42

100%

19

45,4%

35

83,3%

20

48,5%

<Nguồn tự khảo sát>

- Đối với tổ chuyên môn có thể phổ biến đề tài này cho các giáo viên trong tổ
21


áp dụng.
- Đối với trường THPT:
+ Đầu tư thêm về cơ sở vật chất, tạo điều kiện về phương tiện dạy học có liên
quan đến giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực.
+ Để rèn luyện và phát triển đạo đức cho học sinh được tiến hành một cách
thuận lợi, nhà trường cần xem xét giảm sĩ số học sinh trong một lớp học (khoảng 30
- 35 học sinh), bởi lớp học mà quá đông học sinh thì hiệu xuất học tập và giảng dạy
sẽ giảm.
- Đối với giáo viên:
+ Cần trau dồi chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và sách báo
để tiết dạy đạt hiệu quả, giúp các em giải quyết được vấn đề trong cuộc sống rèn
luyện được đạo đức nhân cách của một con người.
Trên đây là một số kinh nghiệm và những ý kiến đóng góp nhỏ mà bản thân tôi
đã đúc kết được trong quá trình giảng dạy với mong muốn quý thầy cô có thể sử
dụng các thức rèn luyện và phát triển đạo đức.
Để hoàn thành tốt một đề tài và mang tính hiệu quả cao không phải là một việc
dễ dàng. Chính vì vậy, có thể sẽ còn những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những
ý kiến trao đổi, góp ý, bổ sung của quý thầy cô để tôi có thêm những kinh nghiệm
quý báu và hoàn thiện hơn về phương pháp giảng dạy của mình.
Chúng ta nhắc lại lời của Bác: “Đạo đức không phải trên trời rơi xuống, nó do
đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, cũng cố. Cũng như ngọc càng
mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.”
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên./”.

công dân trường THPT (Theo chương trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật năm
2009 và 2014), Hà Nội.
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục công dân 10, Nxb Giáo dục Việt Nam.
14. Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.NXB Chính trị
quốc gia năm 2009.
MỤC LỤC
24


I.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI…………………………………………………3

II.

CƠ SỞ LÝ LUẬN………………………………………………… ……4

1. Cơ sở lý luận………………………………………….……… ……… …4
1.1.1.Một số quan niệm cơ bản về đạo đức………………………… ………4
1.1.2.Các quan niệm rèn luyện và phát triển đạo đức……….……… … …..5
2. Cơ sở thục tiễn …………………………………………………… … ….5
III.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP………………………………………6
1. Thực trạng……………………………………………………… ……….6
1.1. Khái quát vài nét cơ bản về trường THPT Tam Hiệp…………… ……6
1.2. Thực Trạng khó khăn và thuận lợi…………………………………...…7
2. Giải pháp rèn luyện và phát triển đạo đức cho học sinh……………… …7
2.1. Giải pháp ……………………………………………………………….16
2.2. Giải pháp 2………………………………………………………...……17
IV.HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI……………………………………...………19
V.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………...………22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status