Bài Làm
Trong các hiện tượng tâm lý, chú ý là một hiện tượng tâm lý độc lập,
cũng không phải là một thuộc tính tâm lý của cá nhân. Chú ý là một hiện
tượng tâm lý luôn xuất hiện kèm theo các hoạt động, cũng như luôn có mặt
trong các quá trình nhận thức của cá nhân, làm cho chúng diễn ra với những
sắc thái khác nhau. Vì thế, chú ý là một biểu hiện đặc trưng của trạng thái tâm
lý. Dựa theo những tiêu chí khác nhau mà ta có thể phân chú ý thành nhiều
loại và mỗi loại thì lại có những đặc trưng ưu thế hạn chế riêng nhưng chúng
luôn cùng tồn tại và có thể chuyển hóa cho nhau. Để đạt được mục đích
cao trong hoạt động thì nhất thiết phải có những hiểu biết và có kiến thức để
vận dụng những loại chú ý vào trong hoạt động thực tiễn. Vì vậy, nhằm làm
rõ và có cách hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này nhóm chúng em xin chọn đề tài:
“Phân tích các đặc điểm đặc trưng, ưu thế và hạn chế của các loại chú ý”
1.
Khái niệm, vai trò và các thuộc tính của chú ý.
Chú ý là sự tập chung của của hoạt động tâm lý vào một hoặc một số
đối tượng nào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ, rõ ràng nhất. Trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người thì chú ý giữ một
vai trò rất quan trọng.
Chú ý là điều kiện để hoạt động nhận thức diễn ra dưới các cấp độ
khác nhau. Chú ý giúp ta tiếp cận, nắm bắt được đối tượng và làm tăng hiệu
quả của hoạt động nhận thức. Đồng thời, trong hoạt động thực tiễn, sự chú ý
đến các thuộc tính căn bản nhất của sự vật, hiện tượng giúp ta cân nhắc đến
các thuộc tính ấy một cách tốt nhất. Qua đó, tổ chức hoạt động thực tiễn phù
hợp với đặc điểm của hoàn cảnh và nhiệm vụ đề ra trước mỗi con người.
Ngoài ra chú ý còn thể hiện một cách gián tiếp các đặc điểm tâm lý của
mỗi cá nhân như: nhu cầu, hứng thú…. Vì thế, thông qua chú ý, con người tự
thể hiện, tự bộc lộ bản thân mình.
Đối với hoạt động tư pháp, chú ý có vai trò rất quan trọng: Chú ý ảnh
chú ý không chủ định là trạng thái chú ý không định trước, không theo kế
hoạch và mục đích nào cả. Không do bản thân chủ động, không do yếu tố bên
trong gây nên, chú ý không chủ định luôn được tạo nên do các yếu tố, nguyên
nhân bên ngoài , hoặc do các đặc điểm nào đó của đối tượng tác động vào con
người ở tại một thời điểm nhất định.
a)
Đặc điểm đặc trưng cơ bản.
2
Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích: Bởi nó
không được hình thành bởi ý thức chủ động của con người, do sự tác động
ngẫu nhiên của các yếu tố bên ngoài, không có sự định trước cho lên loại chú
ý này không có mục đích hướng tới. Sự hình thành chú ý không chủ định chỉ
do bởi sự tác động gây kích thích của chính của chính đối tượng đó.
Chú ý không chủ định có thể xuất hiện phụ thuộc vào những đặc
điểm sau đây của kích thích:
Tính chất mới mẻ, sinh động bất thường. Vật kích thích càng mới, càng
dễ gây ra chú ý không chủ định. Ngược lại, vật kích thích càng rập khuôn bao
nhiêu, càng mau làm mất chú ý không chủ định bấy nhiêu. Như dẫn chứng đã
nêu ở trên: nếu tấm biển quảng cáo nhiều màu sắc bên đường được dụng lên
ban đầu có thể thu hút chú ý của người đi đường bởi màu sắc của nó nhưng
khi người đi đường đã quen với sự có mặt của tấm biển thì sự chú ý không
chủ định se không thể xảy ra được nữa. Bởi tính mới mẻ. bất ngờ yếu tố gây
tò mò đã mất đi và thay vào đó là một loại chú ý khác.
Cường độ kích thích. Theo quy luật về cường độ với thần kinh, thì kích
thích càng mạnh hưng phấn nó gây ra càng lớn. Do vậy, dễ tạo ra chú ý không
chủ định nhưng nếu kích thích quá mạnh thường gây ra phản ứng đau (chói
được chú ý không chủ định.
Về hạn chế: Con người không thể kiềm chế, không làm chủ được chú ý
cho nên trong nhiều hoạt động thì chú ý không chủ định gây nên sự mất tập
trung, bất ngờ, bị động có khi dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như tai
nạn, quá trình nhận thức không trọn vẹn, khó cải tạo thế giới khách quan. Phụ
thuộc vào tính mới mẻ, sinh động của vật kích thích do vậy chú ý không chủ
định mang tính không ổn định, thoáng qua. Nhiều khi gây ra phản ứng thái
quá gây sốc, đau nhói…….
2.2) Chú ý có chủ định.
Chú ý có chủ định là sự điều chỉnh một cách có ý thức sự tập trung lên
một đối tượng nhất định nhằm thỏa mãn những nhu cầu của hoạt động. Như
học sinh tập trung nghe giảng để tiếp thu bài, người thợ máy tập trung chuyên
môn để sửa chữa... Qua đó ta có thể thấy chú ý có chủ định hoàn toàn khác
biệt so với chú ý không chủ định.
a)
Đặc điểm đặc trưng cơ bản.
Đặc điểm nổi bật của chú ý có chủ định là tính mục đích. Đây là
điểm cơ bản để phân biệt với chú ý không có chủ định. Khi tham gia vào bất
kì một hoạt động nào đó thì con người cũng luôn đặt ra những mục đích cần
thiết phải thực hiện. Do tự bản thân xác định được mục đích hành động,
không tùy thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích thích
4
mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn, ta tập trung vào đối tượng hay sự
vật để tiến hành một hoạt động tương ứng theo một động cơ nhất định, bao
gồm các hành động nhằm vào một mục đích nhất định. Như ví dụ ở trên cho
sống hằng ngày, có thể nói đây là loại chú ý quan trọng nhất, phổ biến. Bởi
5
khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đi chăng nữa thì cũng đều cần chú ý
có chủ định và nhằm đạt được mục đích của mình đặt ra. Như việc chú ý tập
trung nghe giảng luôn mang lại những tri thức, kinh nghiệm và đạt được kết
quả học tập tốt….
Nhờ có chú ý có chủ định mà con người có thể làm chủ chú ý, không bị
phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài như độ mới lạ của đối tượng, cường
độ, mức độ kích thích, làm chủ và rèn luyện bản thân, hạn chế những mặt tiêu
cực của chú ý không chủ định. Giúp cho việc tăng cường trí nhớ, rèn luyện
bản thân, thể hiện gián tiếp được tâm lý cá nhân như nhu cầu, hứng thú…..
Chú ý có chủ định có tính tổ chức, hệ thống, có sự sắp sếp trình tự của
chú ý trong hoạt động, do đó kết quả đạt được sau quá trình chú ý luôn cao
hơn, đem lại tri thức đúng đắn, giúp cho quá trình cải tạo thế giới khách quan
tốt hơn.
Hạn chế: Do có sự nỗ lực của ý chí cho nên gây ra sự căng thẳng thần
kinh với các căn bệnh như stress, tâm thần, loạn trí….
Chú ý có chủ định ngoài nhờ tính có mục đích, có sự nỗ lực của ý chí
thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan
khác…..do vậy dễ bị chi phối và ảnh hưởng.
2.3) Chú ý sau chủ định.
Chú ý sau chủ định vốn là chú ý có chủ định nhưng sau đó do có hứng
thú với hoạt động mà chủ thể không cần sự nỗ lực của ý chí mà vẫn có thể tập
trung ý thức lên đối tượng hoạt động. Như một học sinh phải viết một bài văn
để nộp thì ban đầu rõ ràng cần phải hình thành chú ý có chủ định với sự tập
trung ý chí cao nhưng rồi khi viết bài, mạch văn được triển khai, hứng thú
được khơi dậy thì lúc đó sẽ không cần sự nỗ lực ý chí mà theo hứng thú học
cần sự nỗ lực của ý chí cho nên nó có tính bền vững nhất, là loại chú ý cao
nhất.
Hạn chế: Chú ý sau chủ định chỉ xuất hiện trong những trường hợp
hoàn cảnh nhất định: Chỉ xuất hiện sau khi đã có chú ý có chủ định, phụ thuộc
vào đối tượng mà mình có yêu thích hay không…chú ý sau chủ định không
thể xuất hiện theo ý muốn của chủ thể.
Do có tính bền vững mà dễ gây lên hiện tượng tập trung quá mức
không để ý hay quan tâm đến đời sống, sự vật hiện tượng xung quanh, điều
này cũng không tốt.
Trong hoạt động thực tế, các loại chú ý trên có mối liên hệ nhất định
với nhau. Ban đầu những yếu tố khách quan (sự vật, hiện tượng…) chủ yếu sẽ
làm xuất hiện các chú ý không chủ định. Tiếp đó, với sự tham gia của các yếu
tố chủ quan (đặc biệt là ý chí) sẽ hình thành lên ở chủ thể ý chí có chủ định,
định hướng cho hoạt động tâm lý. Trong quá trình hoạt động, với sự lôi cuốn,
thu hút của đối tượng mà có thể sẽ hình thành nên chú ý sau chủ định và
không cần đến sự nỗ lực của ý chí. Như hoạt động của nhà văn, người cán bộ
tư pháp….Do vậy, trong hoạt động điều quan trọng là biết kết hợp và hình
7
thành nên các loại chú ý cần thiết với mục đích của hoạt động ở từng thời kỳ.
Nắm bắt và có tri thức nhất định về ưu điểm hạn chế của các loại chú ý để biết
vận dụng đúng đắn từng loại, biết phát huy những ưu điểm và hạn chế những
mặt xấu của từng loại nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động.
2.4) Chú ý bên ngoài.
Là loại chú ý hướng vào các sự vật, hiện tượng của thế giới khách
quan. Như sự chú ý vào màu sắc của cây cối, âm thanh của chim hót….
a)
Hạn chế
Do cần sử dụng các giác quan nên trong trường hợp có những người
giác quan không được tốt thì sự chú ý theo kiểu này không được hoàn thiện.
Do chú ý loại này cần các kích thích nên có những sự vật hiên tường
bản thân chúng không có những điều kiện kích thích rõ ràng thì chú ý theo
kiểu này sẽ khiến các sự vật hiện tượng bị bỏ qua.
Trong một số trường hợp gây nên sự kích thích thái quá gây lên những
cảm giác đau, nhói cho các cơ quan cảm giác.
2.5) Chú ý bên trong.
Là loại chú ý gắn liền với ý thức của cá nhân đối với hành động của
mình, đối với thế giới nội tâm và với ý thức bản ngã của cá nhân đó. Như hồi
tưởng lại những gì đã có trong quá khứ, những suy tư về những việc phải
làm…..
a)
Đặc điểm đặc trưng
Đối tượng của chú ý bên trong là những cảm xúc (vui, buồn..), những
hồi tưởng (hồi tưởng về quá khứ), những suy tư của cá nhân (mình phải tự
làm gì).
Có tính chất bí mật, tức là nếu không thể hiện ra bên ngoài bằng lời nói,
hành động, cử chỉ, nét mặt,... thì không ai biết trừ bản thân cá nhân đó.
Chỉ tồn tại ở con người , còn ở động vật không tồn tại loại chú ý này,
do động vật không có ý thức đối với cuộc sống nội tâm của nó. Ví dụ: con
chó không thể suy nghĩ về tương lai của mình rồi sẽ ra sao,...
Là cơ sở để điều chỉnh hành động của cá nhân. Ví dụ: bạn cảm thấy yêu
quý một ai đó thì bạn sẽ thích đến gần nói chuyện,...
Bị tác động từ thế giới khách quan bên ngoài.
lúc tập trung chú ý tới những hiện tượng bên ngoài và hiện tượng bên trong.
Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là phải biết khi nào vận dụng chú ý bên trong, khi
nào vận dụng chú ý bên ngoài, khi nào kết hợp cả hai loại chú ý này để đem
lại hiệu quả hoạt động cao nhất có thể, hạn chế mức thấp nhất những khuyết
điểm của từng loại chú ý.
3.
Kết luận.
Chú ý là một hiện tượng tâm lý độc đáo, nó luôn xuất hiện kèm theo
các hoạt động thực tế, cũng như luôn có trong các quá trình nhận thức của
mỗi cá nhân.Chú ý là điều kiện quan trọng cho mọi hoạt động tâm lý của con
người diễn ra một cách có ý thức. Và vấn đề quan trọng nhất ở đây là phải
biết được những hạn chế, ưu điểm của từng loại chú ý mà từ đó ứng dụng vào
thực tế đời sống nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/
Giáo trình Tâm lý học đại cương – Trường Đại học Luật Hà Nội –
NXB Công an nhân dân.
2/
Giáo trình Tâm lí học đại cương – NXB Đại học sư phạm.
3/
02
2.2/ Chú ý có chủ định.
04
2.3/ Chú ý sau chủ định.
06
2.4/ Chú ý bên ngoài.
08
2.5/ Chú ý bên trong.
09
3/
Kết luận.
10
Tài liệu tham khảo
11
12