LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Nó có vai trò
quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế xã hội. Có nhà kinh tế học đã nói
rằng nền kinh tế thị trường không có sự quản lý của nhà nước như là vỗ tay chỉ
với một bàn tay. Thật vậy, nền kinh tế thị trường với nhiều sắc thái và sức mạnh
tiềm ẩn nó chứa trong mình cả những cơ hội và những thách thức cho mỗi quốc
gia. Thêm nữa, trong nền kinh tế mở với xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như
hiện nay, nước ta - một nước đang phát triển sẽ có điều kiện kế thừa kinh nghiệm
của các nước phát triển nhưng đồng thời lại phải đứng trước những nguy cơ mới
đó là chịu sự phụ thuộc và tác động của các yếu tố biến động trên thị trường thế
giới. Trước những mâu thuẫn đó quản lý nhà nước và đặc biệt là quản lý hành
chính nhà nước như là một cứu cánh hữu hiệu thể hiện tính tất yếu khách quan.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải quản lý nền kinh tế
như thế nào cho có hiệu quả nhất và quản lý như thế nào để giải quyết hài hoà
các mối quan hệ lợi ích: lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân. Đây là
những câu hỏi lớn luôn đặt ra yêu cầu Nhà nước phải trả lời mỗi khi ra các quyết
định quản lý của mình.
Đánh giá một cách khách quan thực tế hơn mười năm đổi mới vừa qua,
nước ta đã thu được những thành tựu to lớn về các mặt kinh tế - chính trị - xã hội
như: nền kinh tế nước nhà đã có những chuyển mình đáng kể, Đảng và Nhà nước
kiên định đi lên con đường Chủ nghĩa xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn liền với
tiến bộ và trật tự công bằng xã hội… điều đó thể hiện vai trò tích cực và tính
1
hiệu quả của quản lý Nhà nước. Nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ không ít những
yếu kém và hạn chế, cụ thể: Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực, kinh tế phát
triển chưa ngang tầm với các nước trong khu vực, quản lý nhà nước về kinh tế
theo nguyên tắc: “Tuyến đường được xác định trên cơ sở mép hồ hiện có, cố
gắng hạn chế việc lấn hồ, thay đổi hình dạng hiện tại và giải phóng mặt bằng”.
Để thực hiện dự án kè Hồ Tây, Uỷ ban nhân dân quận H đã thông báo cho
các hộ dân sinh sống xung quanh hồ không được vi phạm chỉ giới làm kè và
đường, cụ thể chỉ giới cách kè hồ là 10,5m và đã được cắm mốc cố định. Hai
nguyên tắc trên và thông báo của Uỷ ban nhân dân quận H đã được 23 hộ gia
đình cụm 3 thôn V ủng hộ và chấp hành triệt để. Tuy nhiên khi xem lại kỹ càng
3
hồ sơ thiết kế thì người ta không khỏi ngạc nhiên và bất đồng vì có một nét vẽ
đang bám sát ven hồ thì đến đúng đoạn đi qua cụm 3 bỗng tách rời khỏi kè ven
hồ, xuyên thẳng vào khu dân cư. Đường vẽ này buộc đơn vị thi công phải cắt bỏ
khoảng 5.000m2 đất của 23 hộ dân đang sinh sống bình an. Nét vẽ còn tiếp tục
đe doạ loại bỏ đi luôn những di tích lịch sử đã được xếp hạng như các chùa TS,
TN, VN có những cây đại thụ có đến hàng trăm năm tuổi để rồi sau đó con
đường mới quay ra bám vào kè ven hồ.
Người dân không khỏi băn khoăn trước đường đi kỳ quoặc của nét vẽ đó.
Họ không biết những điều lợi hại đó ra sao, những ai có lợi và người nào bị hại
từ nét vẽ.
Thứ nhất: Theo nguyên tắc do Uỷ ban nhân dân thông báo là đường và kè
phải bám sát bờ mặt hiện trạng thì nét vẽ này lại đi ngược lại.
Thứ hai: Về mặt kiến trúc cảnh quan thì nét vẽ tạo nên đoạn đường loằng
ngoằng, gấp khúc, phản cảm.
Thứ ba: Về mặt tài chính thì nó lại có hại hơn nhiều, theo tính toán của cơ
quan tư vấn thì nếu thức hiện đúng nét vẽ ấy, dự án sẽ phát sinh thêm kinh phí
khoảng 30 tỷ đồng cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.
Thứ tư: Về phía những hộ dân sinh sống ở cụm 3, họ sẽ phải bỏ ra một
khoản tiền lớn mới có thể khả dĩ tái tạo được cơ ngơi và cuộc sống như hiện có,
quan .
5
Ngày 11 tháng 12 năm 2003, khi nhận được đơn kiến nghị của 23 hộ dân
cụm 3 thôn Vệ Hồ, Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo Uỷ ban nhân dân Thành phố
Hà nội xem xét và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 1 tháng 3 năm 2004, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà nội đã tổ chức
cuộc họp gồm các bên: Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ, vụ chuyên môn của Bộ
Xây dựng, công ty tư vấn thiết kế giao thông công chính Hà Nội, đại diện của 23
hộ dân cụm 3 thôn Vệ Hồ. Trong cuộc họp, các bên đã thống nhất sẽ tổ chức
thăm hiện trường để có căn cứ điều chỉnh phương án (nếu cần thiết).
Ngày 16 tháng 3 năm 2000, các bên đã tổ chức khảo sát hiện trường, tuy
nhiên vẫn chưa thống nhất được phương án cuối cùng, đồng thời Uỷ ban nhân
dân Thành phố Hà Nội cũng chưa có ý kiến chính thức trình Thủ tướng về việc
giải quyết bất đồng.
Câu chuyện dần đi vào ngõ cụt, dự án vẫn dậm chân tại chỗ, người dân ở
cụm 3 thôn Vệ Hồ vẫn hoang mang khi chưa biết mình sẽ dời đi hay tiếp tục ở
lại.
II. PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Cơ sở lý luận
Khái niệm quản lý hành chính Nhà nước
Quản lý Hành chính Nhà nước (QLHCNN) là hoạt động thực thi quyền
hành pháp của Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực pháp luật Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
con người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở
tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhằm duy trì
6
lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, phải có tính cụ thể và phù hợp với từng
vấn đề, đảm bảo tính hệ thống toàn diện và quyết định QLHCNN phải đảm bảo
kỹ thuật lập qui như văn phong, ngôn ngữ, cách trình bày phải rõ ràng, dễ hiểu,
ngắn gọn, chính xác, không đa nghĩa.
- Phối hợp
Tạo sự đồng bộ trong hoạt động phân cấp, phân hệ của hệ thống hành
chính. Xây dựng một cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan
- Sử dụng nguồn tài lực có hiệu quả
Giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết, đánh giá
Cải cách hành chính Nhà nước
Cải cách hành chính Nhà nước (CCHCNN) là một quá trình liên tục theo
định hướng nhất định nhằm làm cho hoạt động thực thi quyền hành pháp thích
ứng với đòi hỏi của sự vận động phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia một cách
hiệu lực, hiệu quả.
Trước thực trạng nền hành chính nước ta hiện nay cộng với sự vận động
biến đổi không ngừng của thế giới khách quan thì thực hiện CCHCNN là một tất
yếu. Để CCHCNN đạt hiệu quả cần đánh giá được đầy đủ những mặt ưu khuyết
điểm của nền hành chính, tìm hiểu nguyên nhân, xác định rõ nội dung cơ bản của
CCHCNN từ đó đưa ra được các biện pháp phù hợp.
Trong chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2001-2010 của Chính
phủ đã chỉ ra rất rõ các yếu kém của nền hành chính Việt Nam như: chức năng
8
và nhiệm vụ QLNN của bộ máy hành chính chưa thật rõ ràng, phân công, phân
cấp chưa rành mạch. Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, thủ tục hành
chính rườm rà, phức tạp. Tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc. đội ngũ cán
bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng lực
nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Trong trường hợp này, Bộ có
trách nhiệm hướng dẫn nội dung, trình tự lập, thẩm định và quản lý dự án.
- Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội trong phạm vi chức năng quyền hạn
của mình, thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tất cả các tổ chức và
cá nhân liên quan đến dự án kè Hồ Tây theo quy định của pháp luật. Uỷ ban
nhân dân tổ chức lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch
tổng thể phát triển không gian đô thị.
Như vậy việc Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và Bộ xây dựng phối
hợp với nhau trong việc quản lý dự án kè Hồ Tây là đúng nguyên tắc, tuy nhiên
công tác triển khai dự án thì chưa đúng. Uỷ ban nhân dân thành phố giao cho Uỷ
ban nhân dân quận Tây Hồ là chủ đầu tư của dự án là hợp lý, trong công tác quản
lý cần có sự phân cấp, phân quyền, đảm bảo sát với thực tế vì Uỷ ban nhân dân
quận là chính quyền sở tại. Có 4 vấn đề cần làm sáng tỏ, đó là:
Thứ nhất: Công tác khảo sát thực tế chưa đúng, dẫn đến việc quy hoạch,
bản vẽ không phù hợp với tình hình thực trạng của hồ.
Thứ hai: Khi Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội cùng với Bộ Xây dựng
nghiên cứu quy hoạch dự án trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
10
4/12/2000 thì chưa thể có giải pháp chi tiết, do vậy chỉ khi báo cáo nghiên cứu
tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, và hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công được
phê duyệt thì nét vẽ gây tranh cãi kia mới ra đời. Kết luận của Thanh tra thành
phố cho rằng: “thời điểm xây dựng cơ sở hạ tầng ven Hồ Tây được Bộ Xây dựng
và Uỷ ban nhân dân Thành phố phê duyệt, công ty tư vấn thiết kế công trình
giao thông công chính do ông A làm giám đốc không liên quan đến công tác quy
hoạch. Năm 1997-1998 công ty do ông A làm giám đốc mới trúng thầu lập báo
cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi và thiết kế kỹ thuật thi công dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây trên cơ sở quy hoạch đã
3. Phương án, biện pháp xử lý tình huống
Trước sự việc trên, ta thấy nảy sinh hai vấn đề:
- Nếu quyết định của Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ là khách quan, quá
trình tổ chức thực hiện dự án từ khâu quy hoạch, lập dự án tiền khả thi, lập dự án
khả thi cho đến khâu thiết kế kỹ thuật thi công tuân thủ đúng theo quy định của
nhà nước thì cần có biện pháp cưỡng chế phối hợp với thuyết phục để nhanh
chóng đưa dự án vào hoạt động, chúng ta cần thiết phải có những động thái tích
cực để tăng cường pháp chế XHCN.
- Nếu quyết định của Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ còn chưa đủ tính xác
thực, công tác khảo sát thực tế còn thiếu sót thì chúng ta nên thẳng thắn nhìn lại
vấn đề, dũng cảm nhận ra khuyết điểm để sửa chữa luôn là cách chiếm được lòng
tin của nhân dân. Trước những vấn đề liên quan đến lợi ích của dân, bộ máy nhà
nước càng phải nâng cao trách nhiệm, thực hiện chính sách theo tiêu chí: Của
dân – do dân – vì dân. Sự việc mới chỉ ở phạm vi hẹp (liên quan đến một nhóm
12
người ) mà không xử lý dứt điểm thì uy tín của Đảng và Nhà nước sẽ bị ảnh
hưởng.
Do vậy, có thể thấy thời gian giải quyết các thủ tục hành chính quá dài,
công tác quản lý chưa theo đúng trình tự đầu tư xây dựng cơ bản khiến người
dân, doanh nghiệp phải chịu những tổn thất. Nếu dự án tiếp tục thực hiện theo
nét vẽ trong hồ sơ kia, tổng chi phí sẽ tăng lên đến hàng trăm tỷ đồng, đồng thời
ảnh hưởng đến lòng tin trong dân. Đây là những phát sinh vô lý không cần thiết.
Trong tình hình hiện nay, chủ trương của Đảng và Nhà nước là đẩy mạnh cải
cách hành chính, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, kỷ cương luật pháp, do
vậy chúng ta cần nghiêm túc xem xét lại vấn đề và đưa ra một số biện pháp sau
đây:
Một là, Cần thành lập một hội đồng để khảo sát thực tế, xác minh rõ
Bảy là, đội ngũ cán bộ, công chức nâng cao trách nhiệm trong công việc.
Từ thực tế phải tham mưu cho cơ quan quản lý cấp trên trước những vấn đề bất
cập đồng thời Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ cũng phải nhanh chóng cải tiến và
thay đổi quyết định không phù hợp tránh tình trạng quyết định được ban hành từ
năm 2000 đến năm 2004 vẫn chưa được thực thi mà vẫn phải xin ý kiến của Uỷ
ban nhân thành phố và để Phó Thủ tướng phải có ý kiến.
III. KIẾN NGHỊ
1. Nhà nước cần tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng.
Trong thực tế, hiện nay đối với các doanh nghiệp tư vấn, xây dựng ở Việt
Nam, việc tham gia đấu thầu và thắng thầu thường diễn ra theo ý chủ quan của
14
chủ đầu tư mà không mang tính khách quan khi xem xét hồ sơ để xét thầu. Do
đó, thường gây ra sự móc ngoặc giữa chủ đầu tư và Nhà thầu gây thất thoát cho
Nhà nước và làm mất đi tính công bằng trong đấu thầu. Vì vậy Nhà nước cần
phải xử lý nghiêm minh những sự móc ngoặc đó, tăng cường điều tra những
công trình đấu thầu có ý nghi ngờ.
2. Nhà nước cần xây dựng một nguồn thông tin đầy đủ và chính xác
để phục vụ cho công tác đầu thầu.
Hiện nay, thông tin về các dự dự án là rất thiếu và không tập trung. Thực
hiện chủ trương "Dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra" mà thông tin là một
yếu tố hết sức quan trọng và rất cần thiết đối với người dân. Vì thế để công khai
minh bạch thì đối với mỗi một dự án cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước như:
cho phép mở trang Web trên mạng internet, tăng cường hoạt động báo chí và kết
hợp các ngành có liên quan đến xây dựng cơ bản như Bộ Xây dựng, Bộ Kế
hoạch và đầu tư, Uỷ ban nhân dân các cấp... để xây dựng một trung tâm chuyên
cung cấp thông tin về tình hình xây dựng cơ bản nói chung và thông tin chi tiết
của từng dự án nói riêng một cách đầy đủ và kịp thời, có làm như vậy mới tránh
16
KẾT LUẬN
Những vấn đề nảy sinh và vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án kè
Hồ Tây tại cụm 3 thôn Vệ Hồ tuy không phải là phổ biến nhưng đây cũng là một
bài học kinh nghiệm cho các nhà quản lý trong tiến trình thực hiện quy trình xây
dựng cơ bản trên nền tảng có một nền hành chính hiệu quả, trong sạch, vững
mạnh. Hậu quả của sự việc trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hơn 20
hộ dân, hiệu quả kinh doanh của nhà thầu trúng thầu dự án, đồng thời làm giảm
hiệu lực quản lý Nhà nước, giảm lòng tin của nhân dân đến bộ máy quyền lực
Nhà nước.
Đối với công tác quản lý Nhà nước, không những phải phân tích tìm hiểu
rõ nguyên nhân để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời những mặt còn tồn tại mà về
lâu dài còn cần phải không ngừng học tập trao dồi đạo đức, chuyên môn, xứng
đáng là công bộc của dân.
Với kiến thức và thời gian hạn chế nên tiểu luận này không tránh khỏi
những thiếu sót. Kính mong được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo để
bài viết được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2001)
2. Luật đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 2001 và năm 2003
3. Luật khiếu nại, tố cáo.