1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở vùng dân tộc và
miền núi có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, tăng cờng
đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển
kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân c.
Đảng, Nhà nớc luôn chăm lo giáo dục, đào tạo, bồi dỡng nâng cao
chất lợng của đội ngũ cán bộ cấp xã vùng dân tộc và miền núi. Ngay từ
những ngày đầu cách mạng, Đảng ta đã chăm lo xây dựng lực lợng, đào tạo,
bồi dỡng và rèn luyện cán bộ, trong có đội ngũ cán bộ dân tộc và miền núi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và
"huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng".
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI (tháng 12 năm
1986) nền kinh tế nớc ta từng bớc chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trờng. Giữa các vùng trong cả nớc có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh
tế - xã hội.
Nhằm mục tiêu nâng cao nhanh đời sống vật chất tinh thần cho đồng
bào cấp xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đa nông
thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển
và hòa nhập vào sự phát triển chung của cả đất nớc, Đảng, Nhà nớc ta đã có
nhiều chính sách u tiên, quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển của cấp xã
miền núi. Để thực hiện thắng lợi các chính sách đó, vấn đề chất l ợng đội
ngũ cán bộ cơ sở có ý nghĩa quyết định.
Tại Hội nghị lần 3 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VIII đã
khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nớc, của chế độ".
Theo chủ trơng của Đảng, chúng ta đang tiếp tục thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lợc là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng n ớc ta
tế - xã hội, nguồn nhân lực nhằm đa các xã này thoát khỏi tình trạng nghèo
đói nhng do sự thiếu hụt trầm trọng và yếu kém của đội ngũ cán bộ, công chức
nói chung và đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng trong triển khai thực hiện các chủ
trơng, chính sách chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội nên hiệu quả thu đợc
qua việc thực hiện các chính sách này là cha cao.
Trong những năm qua việc tổng kết, đánh giá đa ra các giải pháp
nhằm nâng cao chất lợng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chậm đợc tiến hành, cha có các giải pháp đồng bộ phù hợp với đặc thù đối với đội
3
ngũ cán bộ công chức của tỉnh nói chung, cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã vùng núi đặc biệt khó khăn nói riêng.
Với lý do đó tác giả chọn đề tài: "Nâng cao chất lợng đội ngũ cán
bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nâng cao chất lợng và quản lý đội ngũ cán bộ công chức đợc
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, đề cập đến vấn đề cán bộ
công chức chính quyền cấp xã có các công trình, các bài viết của các tác giả:
Lê Đình Chếch: Về Nhà nớc xã hội chủ nghĩa và công tác cán bộ chính
quyền cấp xã ở Hải Hng, Luận văn thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 1994.
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên: Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
TS Thang Văn Phúc và TS Chu Văn Thành đồng chủ biên: Chính quyền
cấp xã và quản lý nhà nớc cấp xã của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nớc, Ban
Tổ chức Cán bộ Chính Phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: Cộng đồng làng xã
Việt Nam hiện nay, của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính
Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ công chức chính quyền
cấp xã, chất lợng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã thuộc khu vực
miền núi đặc biệt khó khăn trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh của Đảng và quy định của Nhà nớc ta.
- Phân tích làm rõ thực trạng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp
xã của cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc giang qua đó rút ra
những vấn đề cần giải quyết.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ công
chức chính quyền cấp xã vùng núi đặc biệt khó khăn nhằm đáp ứng yêu cầu
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc
Giang và xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN ở nớc ta hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức chính
quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm
1999 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể:
phơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và một số phơng
pháp khác.
6. Đóng góp về lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đóng góp về lý luận:
- Góp phần hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nớc về cán bộ, công tác cán bộ và xây dựng
5
đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa đặc
biệt khó khăn.
việc xây dựng chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc, là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nớc ta. Chính
quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, trong đó HĐND "là cơ quan quyền
lực nhà nớc ở địa phơng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của nhân dân, do nhân dân địa phơng bầu ra, chịu trách nhiệm trớc nhân dân
địa phơng và cơ quan nhà nớc cấp trên". Còn UBND do HĐND bầu, là cơ
quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng, chịu
trách nhiệm trớc HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nớc cấp trên.
Xuất phát từ vị trí của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị nên
nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nớc của nhân
dân. Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng,
Nhà nớc với nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đờng lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc. Vì vậy, cấp xã nói chung là cơ sở
thực tiễn cho việc xây dựng và kiểm nghiệm tính đúng đắn của đờng lối chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nớc trong cuộc sống.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân
dân. Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi
ngời dân tìm đến đầu tiên chính là chính quyền cơ sở. Điều này đã đúc rút
thành câu thành ngữ "Quan thì xa, bản nha thì gần". Chính quyền cấp xã cũng
là nơi trực tiếp đa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết
những yêu cầu chính đáng của ngời dân, tạo điều kiện cho ngời dân có cuộc
sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình trớc nhà
nớc và cộng đồng.
7
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế - xã
hội ở địa phơng. Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nớc của chính
quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch
vụ công phục vụ nhân dân và bộ máy nhà nớc. Từ đó, chính quyền cấp xã
đợc: một mặt, đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nớc; mặt khác,
8
phải thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng. Sự nghiệp đổi mới, quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi
từng ngày trên các lĩnh vực đòi hỏi cán bộ chính quyền cấp xã phải có t duy
mới, trình độ và kiến thức mới về chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, quản
lý.
Hai là, tổ chức bộ máy của chính quyền xã khác với các đơn vị hành
chính cấp trên; ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phơng.
Trong đó HĐND là cơ quan quyền lực nhà nớc, là cơ quan đại diện cho ý tchí
và nguyện vọng của nhân dân địa phơng và UBND là cơ quan chấp hành và
đồng thời là cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng mà không có các cơ
quan t pháp: Viện kiểm sát và Tòa án. Vì thế, chính quyền cấp xã phải quản lý
nhà nớc về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng theo thẩm quyền do
pháp luật quy định.
Ba là, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, trực tiếp thực hiện các
nhiệm vụ cụ thể, là cấp đa chủ trơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nớc vào thực tế cuộc sống. Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
chính quyền cấp xã nói chung, chính quyền cấp xã còn phải căn cứ vào tình
hình thực tế của địa phơng mình chủ động đa ra các biện pháp tuyên truyền,
giáo dục, thuyết phục nhân dân trong việc thực hiện đờng lối, chính sách của
Đảng; vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; chủ động đa
những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động,
phát triển ngành nghề mới, tìm thị trờng tiêu thụ sản phẩm của địa phơng, giải
quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân địa phơng.
1.1.1.3. Phân loại các đơn vị hành chính cấp xã
Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến
tháng 10 năm 2002 nớc ta có 8.971 xã [38, tr.6].
văn hóa cấp I và cấp II, hầu hết cán bộ cấp xã cha đợc đào tạo, bồi dỡng về
chuyên môn nghiệp vụ. Tuyệt đại đa số cán bộ xã ở những xã đặc biệt khó khăn
ở vùng miền núi phía Bắc là ngời dân tộc thiểu số và cán bộ nữ chiếm tỷ lệ rất
nhỏ. Điều đó dẫn đến nhiều hạn chế trong việc nâng cao năng lực của mình.
- Các xã miền núi là những nơi có địa hình phức tạp, đồi núi hiểm trở,
là những nơi trọng yếu của công tác an ninh. Vì vậy chính quyền các xã miền
núi phải rất chú trọng đến vấn đề an ninh.
- Trình độ dân trí của nhân dân các xã miền núi thấp, kết cấu hạ tầng
còn yếu kém. Nhiều nơi từ huyện đến xã xa tới 70-80km vẫn phải đi bộ. Tỷ lệ
mù chữ vẫn còn rất cao, cơ sở khám chữa bệnh, học tập, số giáo viên phổ
thông, cán bộ y tế và văn hóa còn rất thiếu thốn. Vì vậy, việc triển khai đờng
lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, của chính quyền địa phơng
gặp rất nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp và ảnh hởng nặng của phong
tục tập quán cổ truyền.
Tính đến hết năm 1999 nớc ta có 4100 xã miền núi.
Trong suốt quá trình phát triển và trong mỗi bớc đi của công cuộc đổi
mới đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng, giải pháp xã hội đối
với miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số. Các cấp ủy Đảng và chính
quyền các cấp đã có nhiều cố gắng trong tổ chức, chỉ đạo; đồng bào các dân
tộc đã tích cực hởng ứng và tích cực thực hiện các chủ trơng, chính sách đó,
đã tạo đợc những kết quả đáng mừng. Vai trò chính quyền các cấp nói chung,
chính quyền cấp xã nói riêng ngày càng đợc phát huy trong sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên, điểm xuất phát kinh tế - xã hội của
từng vùng khác nhau, tác động của cơ chế thị trờng đã tạo ra sự khác biệt
không đồng đều giữa các địa phơng. Trên cơ sở đó Đảng, Nhà nớc ta đã đa ra
tiêu chí phân định các xã miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển để
từ đó có những chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng vùng,
từng bớc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi.
- Khu vực I: đó là khu vực bớc đầu phát triển.
- Các yếu tố xã hội cha đạt mức tối thiểu, dân trí quá thấp, tỷ lệ mù
chữ và thất học trên 60%, bệnh tật nhiều, tập tục lạc hậu, không có thông tin...
- Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn. Sản xuất mang tính tự
nhiên hái lợm, chủ yếu phát rừng làm nơng rẫy, du canh du c.
- Số hộ đói nghèo trên 60% số hộ của xã: Đời sống thực sự khó khăn,
nạn đói thờng xuyên xảy ra.
Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và phát triển, tính
đến hết năm 1999 cả nớc ta có 1715 xã/ 4100 xã đợc xếp vào các xã
MNĐBKK [41, tr.3]. Các xã này đang tồn tại những khó khăn mang tính đặc
thù sau:
13
- Kinh tế: Mang tính tự cấp, tự túc, cha chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi, rất ít sản phẩm hàng hóa, thiếu đất canh tác, không có nớc sinh hoạt,
khí hậu khắc nghiệt. Đồng bào phải làm ăn sinh sống trong điều kiện rất
nghiệt ngã để tồn tại.
- Đời sống: cực kỳ khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao nhất so với các vùng
trong cả nớc. Hàng năm, các địa phơng này vẫn phải giải quyết cứu đói cho
một bộ phận dân c vào lúc giáp hạt, khi gặp thiên tai.
- Cơ sở hạ tầng mới sơ khai: còn gần 700 xã cha có đờng ô tô đến
trung tâm (tính đến hết 1999), hầu hết cha có điện lới, cha dùng nớc sạch,
trờng học, trạm xá còn sơ sài, các cơ sở khuyến nông, khuyến lâm, thơng
nghiệp quốc doanh cha đáp ứng đợc yêu cầu cấp thiết về sản xuất và đời
sống.
- Trình độ dân trí: thấm kém, số ngời mù chữ, thất học chiếm trên 60%,
có nơi 80% đến 90%. Một số bệnh sốt rét biếu cổ vẫn chiếm tỷ lệ cao, đời sống
văn hóa - xã hội cộng đồng chậm đợc cải thiện, thông tin liên lạc, truyền thanh,
truyền hình cha đến đợc với ngời dân, trình độ cán bộ cơ sở rất non yếu, đa số
mới ở trình độ cấp I, cấp II. Một số ngời cha nói đợc tiếng phổ thông, ảnh hởng
* Quan niệm về công chức:
Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, đợc
hởng lơng ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là ngời
làm việc trong hệ thống chính quyền nhà nớc.
Công chức là bộ phận rất quan trọng trong nền hành chính quốc gia.
Tuy nhiên, do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nớc ta nên quan niệm
về công chức ở Việt Nam cũng có đặc thù.
Trong một số nghị quyết của Đảng cũng nh một số văn bản pháp quy,
mặc dù cha ra định nghĩa rõ ràng nhng đã có đề cập đến khái niệm về công
chức. Theo Pháp lệnh cán bộ công chức 1998 (đã đợc sửa đổi, bổ sung năm
2000 và 2003) thì công chức đợc hiểu là:
Công dân Việt Nam, trong biên chế do đợc Nhà nớc tuyển dụng, bổ
nhiệm hoặc đợc giao nhiệm vụ thờng xuyên, làm việc liên tục trong các cơ
quan nhà nớc, trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội hoặc trong
lực lợng vũ trang mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; đợc xếp vào ngạch bậc và hởng lơng từ ngân
sách nhà nớc [48, Điều 1].
Qua gần 20 năm đổi mới, nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn và
quan trọng về kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định về chính trị và hiện nay đang
đứng trớc yêu cầu đổi mới của sự phát triển của tầm cao hơn trớc. Đòi hỏi phải
đổi mới và nâng cao chất lợng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phờng, thị
trấn cũng đợc đặt ra..
Trên cơ sở đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa IX xác định: Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở có
cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động làm việc công để thực hiện chức trách đợc giao, bao gồm: Cán bộ giữ
chức vụ qua bầu cử và cán bộ chuyên môn đợc ủy ban Nhân dân tuyển chọn;
15
công chức chính quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có
phẩm chất tốt, đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt là đối với đội ngũ
cán bộ công chức chính quyền cấp xã ở khu vực MNĐBKK.
16
1.1.2.2. Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã
Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta là đội ngũ cán bộ.
Cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay
thất bại của sự nghiệp cách mạng. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử cha hề có một
giai cấp nào giành đợc quyền thống trị nếu không đào tạo ra đợc trong hàng
ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, ngời đại biểu tiên phong có đủ khả năng
tổ chức và lãnh đạo phong trào [30, tr.478]. Năm 1922, khi đã giành đợc chính
quyền, Lênin khẳng định: "Nghiên cứu con ngời, tìm ra những cán bộ có bản
lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết
định chỉ là mớ giấy lộn" [31, tr.449].
Để xây dựng đất nớc Việt Nam độc lập có chủ quyền với mục tiêu
"dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Hồ Chí Minh
cũng đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [33, tr.273].
Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách
mạng. Nghị quyết Hội nghị Trung ơng 3 (khóa VII) khẳng định trong công
cuộc đổi mới đất nớc thì:
Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ
nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí
nền tảng cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ
trơng đờng lối của Đảng và pháp luật của Nhà nớc. Chất lợng và
hiệu quả thực thi pháp luật một phần đợc quyết định bởi sự triển
khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo
lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc vào thực tế cuộc sống thì đội ngũ CBCC
CQCX phải làm tốt công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào
các dân tộc thực hiện đờng lối, chủ trơng chính sách của Đảng và pháp luật
Nhà nớc.
Công tác tuyên truyền, động viên, tổ chức cho đồng bào dân tộc phải
đạt mục tiêu: không ngừng củng cố khối Đoàn kết dân tộc. Bác Hồ kính yêu
căn dặn: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành
công". Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị trong cách mạng XHCN ở miền
núi và vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.
Thực hiện t tởng của Hồ Chí Minh, việc xây dựng đội ngũ CBCC miền
núi, vùng dân tộc thiểu số luôn gắn bó chặt chẽ giữa công tác cán bộ với công
tác tuyên truyền, động viên quần chúng các dân tộc, coi đây là điều kiện để
mỗi cán bộ hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình. Điểm quan trọng nhất của
công tác tuyên truyền, động viên quần chúng ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu
số là phải chiếm đợc lòng tin của đồng bào. Một khi cán bộ tạo đợc lòng tin
đối với đồng bào, thì mọi việc sẽ đợc đồng bào nghe theo và thực hiện một
cách nghiêm chỉnh. Song trái lại với điều đó, có thể chỉ vì một hành vi nhỏ sẽ
làm mất đi hoàn toàn niềm tin đối với họ và họ có thể chuyển từ chỗ là lực lợng ủng hộ trở thành ngời đối lập với cán bộ. Cho nên ngời cán bộ phải tích
cực tìm hiểu phong tục tập quán nét văn hóa và nếp sinh hoạt của từng vùng
18
dân tộc trên địa bàn thì mới có thể thành công trong công tác tuyên truyền,
vận động quần chúng
- Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Đảng - Nhà nớc
với nhân dân. Thông qua đội ngũ này, Đảng, Nhà nớc ta đánh giá đợc tính đúng
đắn của đờng lối, chính sách, kịp thời phát hiện đợc những thiếu sót của bản thân
chính sách và những nhu cầu mới phát sinh từ thực tế khách quan để bổ sung và
hoàn thiện chính sách. Thực tế cho thấy, những yếu tố bất hợp lý không đợc khắc
phục đã trở thành nguyên nhân bao trùm gây nên tình trạng kinh tế - xã hội trì
19
Đối với một con ngời sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Chất lợng của cá nhân đó đợc hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất
định về sức khỏe, trí tụê khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham
gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc yêu cầu chất lợng đối với mỗi ngời trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với
chất lợng CBCC càng cao hơn - đòi hỏi ngời CBCC có những trình độ phẩm
chất theo yêu cầu nh nêu ở trên thì ngời cán bộ phải gơng mẫu, đi tiên phong
về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trơng, đờng lối, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nớc; giữ vững tiêu chuẩn và t cách của ngời
cán bộ.
Mỗi cán bộ công chức không tồn tại một cách biệt lập mà phải đợc đặt
trong một chỉnh thể thống nhất của đội ngũ CBCC. Vì vậy, quan niệm về chất
lợng đội ngũ CBCC phải đợc đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lợng
của từng cán bộ với chất lợng của cả đội ngũ. Chất lợng của cả đội ngũ không
phải là sự tập hợp giản đơn số lợng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ
đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán
bộ và nó đợc tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục,
đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật.
Nh vậy có thể nói chất lợng đội ngũ CBCC bao gồm:
- Chất lợng của từng cán bộ; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức;
trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lợng của từng cán
bộ là yếu tố cơ bản tạo nên chất lợng của cả đội ngũ.
- Chất lợng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ
cấu đội ngũ đợc tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lợng và độ
tuổi bình quân đợc phân bố trên cơ sở các địa phơng, đơn vị và lĩnh vực hoạt
động của đời sống xã hội.
Nh vậy, các yếu tố cấu thành chất lợng đội ngũ CBCC không chỉ bao
gồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, đợc kết
Phẩm chất chính trị của đội ngũ CBCC CQCX đợc biểu hiện trớc hết là
sự tin tởng tuyệt đối đối với lý tởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập
dân tộc và CNXH, đó là con đờng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết
đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nớc,
không dao động trớc những khó khăn thử thách. Đồng thời phải có biện pháp để
đờng lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phơng.
Ngời cán bộ có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng những lời tuyên
bố, hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đờng lối, chỉ
thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nớc, kiên quyết chống lại mọi
lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội đi trái ngợc với đờng lối, chủ
trơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nớc.
Phẩm chất chính trị của ngời CBCC CQCX còn biểu hiện thông qua
thái độ phục vụ nhân dân, tinh thần gơng mẫu trong công tác, tinh thần trách
21
nhiệm đối với đời sống của đồng bào nhân dân tại địa phơng. Ngời cán bộ có
phẩm chất chính trị tốt phải là ngời luôn trăn trở trớc những khó khăn ở địa
phơng; phải có quyết tâm đa địa phơng cơ sở nơi mình công tác ngày càng
phát triển về mọi mặt, thực hiện công bằng, dân chủ, văn minh.
- Về phẩm chất đạo đức:
Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ CBCC CQCX, nó là
cái "gốc" của ngời cán bộ. Ngời cán bộ phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì
mới có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng.
Nếu thiếu hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc đợc giao và nó là nguyên nhân của tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe
dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn của chế độ. Chính vì vậy, Hồ Chí
Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng. Ngời viết: "Cũng nh sông thì có
nguồn, mới có nớc, không có nguồn thì cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì
cây héo; ngời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo đợc nhân dân" [33, tr.252-253].
quả. Quyền lực chỉ là tiền đề cho năng lực, năng lực là thớc đo hoặc là chuẩn
mực biểu thị quyền lực của bộ máy nhà nớc trong thực tiễn đời sống xã hội.
Nếu một cá nhân hay một tổ chức nào đó có một khối quyền hạn to lớn do cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền trao cho nhng bản thân họ không có năng lực
hoặc năng lực yếu kém thì họ không thể biến khối thẩm quyền đó thành hiện
thực nghĩa là không thể thực hiện đợc quyền lực của mình.
Lênin rất đề cao trình độ năng lực của ngời cán bộ. Ngời viết: "... chỉ
dựa vào tinh thần xung kích phấn khởi và nhiệt tình không thôi, thì không thể
làm đợc gì cả" [31, tr.253].
Đồng thời, theo Ngời "lòng trung thành đợc kết hợp với năng lực hiểu
biết về con ngời, về năng lực giải quyết những vấn đề về tổ chức thì chỉ có
lòng trung thành đó mới có thể rèn luyện ra tổ chức lớn" [32, tr.509].
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngời không chỉ đề cao đạo đức cách
mạng mà yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải luôn học tập, rèn luyện nâng cao
trình độ năng lực. ngời phê phán bệnh lời biếng, lời học là: "khuyết điểm rất
to, khác nào ngời thầy thuốc đi chữa bệnh cho ngời khác mà bệnh nặng trong
mình thì quên chữa, do đó "phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và
lý luận suông" [33, tr.234].
Nhng đồng thời lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học phải đi đôi với
hành, nếu không thì đó cũng chỉ là lý luận suông mà thôi. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh: "Năng lực của con ngời không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà
phần lớn do công tác, do luyện tập mà có" [33, tr.40].
Năng lực theo Ngời nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt
động thực tiễn của con ngời không phải tự nhiên mà có; năng lực đợc phát
triển trong quá trình hoạt động thực tiễn. Ngời lời biếng, trốn tránh lao động
thì năng lực không thể phát triển đợc.
Đối với bộ máy chính quyền cấp xã bao gồm hai thiết chế là HĐND và
UBND. Mặc dù cùng là cấp cơ sở nhng với vị trí pháp lý khác nhau; chức
sinh trong quá trình quản lý, đòi hỏi các thành viên UBND ngoài các yêu cầu
về trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, kiến thức
quản lý nhà nớc còn phải có năng lực. Năng lực hoạt động của các thành viên
UBND đợc đánh giá qua các mặt: Năng lực quản lý, điều hành các hoạt động
24
trên địa bàn; khả năng tiếp nhận và lựa chọn thông tin để ra các quyết định
quản lý bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý; năng lực vận dụng pháp luật để giải
quyết các vụ việc cụ thể và khả năng có những phản ứng, những phơng án linh
hoạt nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý; khả năng vận động quần chúng
nhân dân trong quá trình tổ chức triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nớc. Năng lực của CBCC UBND còn đợc đánh giá qua tác phong làm việc, phơng pháp quản lý điều hành nhằm đạt hiệu quả cao nhất, kỹ năng giao tiếp với
nhân dân để có những ứng xử phù hợp với nhiều đối tợng; kỹ năng tuyên
truyền để giải thích thuyết phục nhân dân thực hiện chính sách của Nhà nớc,
kỹ năng hòa giải... Năng lực của đội ngũ CBCC UBND đợc đánh giá qua
nhiều tiêu chí nh vậy là do hoạt động của họ liên quan đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống và đơng nhiên cũng phải hội đủ các tiêu chí nh vậy chúng ta
cũng mới có thể đánh giá chính xác năng lực của một CBCC CQCX. Trên thực
tế, có những CBCC mặc dù có trình độ cơ bản về lý luận, về chuyên môn
nghiệp vụ nhng không có phơng pháp hoặc sử dụng phơng pháp không tốt
cũng sẽ dẫn đến hiệu quả công việc không cao.
* Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ:
Là năng lực "tiềm ẩn" của ngời cán bộ, nó quyết định sức mạnh để có
thể hoàn thành công việc với mục đích cuối cùng là hiệu quả.
Thứ nhất là trình độ (trình độ văn hóa, kiến thức quản lý nhà nớc,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ).
- Trình độ văn hóa không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả
hoạt động của đội ngũ CBCC CQCX nhng đây là yếu tố quan trọng ảnh hởng
đến hoạt động quản lý của đội ngũ này. Nó là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc và tạo điều kiện
thuận lợi cho việc áp dụng chủ trơng, chính sách trong thực tiễn.
mà nhà quản lý sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải
quyết các vụ việc cụ thể đặt ra. Hoạt động quản lý vừa đợc coi là một khoa
học, vừa là nghệ thuật. Để thực hiện đợc hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ CBCC
CQCX cần phải đợc đào tạo, bồi dỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà
nớc thì mới có đợc kỹ năng, phơng pháp quản lý. Thực tế cho thấy, có những
cán bộ có nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết nhng thiếu kiến thức quản lý thì
năng lực hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế. Vì thế những kiến thức quản lý
hành chính nhà nớc cũng là yếu tố quan trọng trong năng lực của cán bộ.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao, CBCC CQCX phải có kiến thức
trong nhiều lĩnh vực khác về quản lý kinh tế, quản lý xã hội...
Thứ hai: sức khỏe (thể chất tâm lý).
Sức khoẻ của mỗi con ngời đợc đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu
chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực. Trí lực đợc đánh giá thông qua sự minh
mẫn linh hoạt trong phản ứng xử lý công việc. Nếu chỉ có trình độ năng lực
chuyên môn mà không có một sức khỏe dẻo dai, bền bỉ thì cũng không thể
biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạt động thực tiễn đợc. Sự phát triển