Lựa chọn và chỉ định người bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo chưa thành niên trong các vụ án hình sự
Tháng Chín 10, 2009 Để lại phản hồi Go to comments
ThS. Nguyễn Hải Ninh
Khoa Luật Hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
1. Việc lựa chọn người bào chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên
Thứ nhất: Chủ thể có quyền lựa chọn người bào chữa trong trường hợp bị can, bị cáo là người
chưa thành niên.
Khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy định: “Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc
đại diện hợp pháp của họ lựa chọn”.
Như vậy theo quy định trên quyền lựa chọn người bào chữa thuộc về một trong hai chủ thể: bị
can, bị cáo chưa thành niên hoặc đại diện hợp pháp của họ. Tuy nhiên theo hướng dẫn tại Nghị
quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
“Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất, thì họ và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền được lựa chọn người bào chữa”.
Như vậy, theo hướng dẫn quyền lựa chọn người bào chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên
được quy định đồng thời cho cả hai chủ thể là bị can, bị cáo chưa thành niên và người đại diện
hợp pháp của họ. Quyền này của các chủ thể là quyền độc lập (giống như quyền kháng cáo phúc
thẩm của bị can, bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp pháp là quyền độc lập quy định tại
Điều 231 BLTTHS). Với hướng dẫn nêu trên sẽ không có mâu thuẫn nảy sinh trên thực tế khi hai
chủ thể này đồng thuận với nhau trong việc lựa chọn người bào chữa. Vấn đề phát sinh trên thực
tế sẽ xuất hiện khi không có sự đồng thuận giữa hai chủ thể này.
Trường hợp người đại diện hợp pháp lựa chọn người bào chữa nhưng bị can, bị cáo không đồng
ý và muốn lựa chọn người khác bào chữa cho mình giữa hai chủ thể có thể trao đổi và đi đến
thống nhất.
Trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo lại “lựa chọn” chính mình là người bào
chữa cho bị can, bị cáo trong khi bị can, bị cáo lại không muốn người đại diện hợp pháp tham gia
tố tụng với tư cách người bào chữa cho mình (có thể do không yên tâm về trình độ pháp luật của
người đại diện hợp pháp, có thể do người đại diện hợp pháp có những quyền lợi đi ngược lại với
chính lợi ích của bị can, bị cáo) thì Cơ quan tiến hành tố tụng có cấp giấy chứng nhận bào chữa
cho người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo hay không.
Khoản 2 điều 428: “Theo quyết định của Toà án người đại diện hợp pháp có thể bị từ chối tham
gia vào quá trình xét xử nếu có căn cứ cho rằng hành vi của họ gây thiệt hại cho lợi ích của
người bị tình nghi, bị can là người chưa thành niên”
Quy định trực tiếp nội dung này vào trong BLTTHS tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều cho Cơ
quan tiến hành tố tụng khi áp dụng vì có tính chất tập trung. Vì vậy đây cũng chính là đề xuất mà
tác giả muốn đề cập nghiên cứu thêm để bổ sung cho BLTTHS 2003.
Thứ hai: Thời điểm người đại diện hợp của bị can, bị cáo chưa thành niên khi tham gia tố tụng
với tư cách người bào chữa.
Xác định thời người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa có ý kiến
cho rằng : “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành
niên có thể đồng thời là người bào chữa nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành
niên và người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa hoặc không chấp nhận người
bào chữa mà văn phòng luật sư cử”[1]. Việc người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là người chưa thành niên có thể đồng thời là người bào chữa là không trái với quy
định của BLTTHS. Tuy nhiên cần xác định cụ thể thời điểm họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách
người bào chữa. Theo ý kiến nêu trên thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa “nếu
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ
không mời người bào chữa hoặc không chấp nhận người bào chữa mà văn phòng luật sư cử”.
Như vậy có thể hiểu người đại diện hợp pháp sẽ có tư cách người bào chữa khi bản thân họ và
người mà họ đại diện không mời người bào chữa hoặc từ chối người bào chữa do văn phòng luật
sư cử. Không thể hiểu một người sẽ có tư cách người bào chữa đương nhiên khi có sự kiện pháp
lý xảy ra như vậy vì theo quy định tại Điều 56 BLTTHS người được xác định tham gia tố tụng
với tư cách người bào chữa phải có một quyết định pháp lý hình thức là giấy chứng nhận bào
chữa do cơ quan tiến hành tố tụng cấp.
Về vấn đề này có thể xác định như sau: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên
có thể yêu cầu người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa. Cơ quan
tiến hành tố tụng phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho họ để họ thực hiện quyền bào chữa của
mình. Khi đó họ sẽ tham gia tố tụng với hai tư cách: người đại diện hợp pháp và người bào chữa.
thời không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án).
Liên quan đến thời điểm xác định tư cách người bào chữa cần có chỉnh sửa nội dung quy định
trong BLTTHS tại khoản 4 điều 56. Khoản 4 điều 56 quy định “ Trong thời hạn 3 ngày, kể từ
ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận bào chữa để họ thực
hiện việc bào chữa”, thay cụm từ “người bào chữa” trong quy định trên thành cụm từ “những
người quy định tại khoản 1 của điều này” mới chính xác vì thời điểm xin cấp giấy chứng nhận họ
chưa phải là người bào chữa.
2. Chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể
chất, tâm thần.
Theo quy định tại điều 57 BLTTHS trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất nếu bị can, bị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ
không mời người bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị
can, bị cáo.
Nếu theo quy định trên có thể hiểu Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chỉ định người bào chữa cho bị
can, bị cáo chưa thành niên khi một trong hai chủ thể trên không mời người bào chữa.
Tuy nhiên theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02 tháng 10 năm 2004 của
Hội đồng thẩm phán TANDTC “trường hợp bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ
không mời người bào chữa và theo yêu cầu của Toà án…đã cử người bào chữa cho họ…” thì
cũng có thể hiểu Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa khi các chủ thể trên không
mời người bào chữa.
Như vậy có thể hiểu việc bào chữa chỉ định được Cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành khi bị can,
bị cáo chưa thành niên không có người bào chữa.
Khoản 2 điều 57 BLTTHS quy định “…nếu bị can, bị cáo hoặc đại diện hợp pháp không mời
người bào chữa thì CQĐT, VKS, TA phải… cử người bào chữa cho họ”. Theo quy định của
pháp luật “Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ lựa
chọn” như vậy bị can, bị cáo có thể mời chính người đại diện hợp pháp của mình là người bào
chữa. Nếu như vậy thì trong trường hợp này có thể hiểu bị can, bị cáo không còn rơi vào trường
hợp Cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa.
Tuy nhiên trong trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo quyết định tham gia tố