I./ Lời nói đầu
Như chúng ta đã biết , tất cả các môn học trong nhà øtrường
đều góp phần giáo dục học sinh một cách toàn diện trí,thể , mó .
Mỗi môn học có những ưu thế riêng , sức mạnh riêng để đưa học
sinh đến con đường hoàn thiện nhân cách
Môn ngữ văn đóng vai tro ø hết sức quan trọng trong nhà
trường cũng như trong mọi hoạt động của con người . Đe å học tốt
môn ngữ văn , chúng ta không thể hữngû hờ với nó , phải yêu , phải
thích
, phải có một trái tim văn chương rung động thật sự thì mới
cảm nhận văn chương được .
Và hơn thế nữa học tốt mơn Ngữ Văn giúp con người nhận thức
được cái hay,cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống ,từ đó con người có bản
lĩnh vững vàng ,có suy nghĩ ứng xử và hành động đúng đắn ,lành mạnh .Vì
thế nếu thiếu văn học con người sẽ rơi vào bi kịch như một nhà văn Mê-hi
–cơ,đã nói :”Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ ,thiếu tâm hồn “
Mơn Ngữ văn là mơn học thuộc nhóm cơng cụ ,học tốt mơn Ngữ văn sẽ có
tác động tích cực đến các mơn học khác .thế nhưng hiện nay tình trạng học
sinh làm bài luận văn chưa tốt dẫn đến tâm lí chán học mơn Ngữ Văn là phổ
biến ở các em học sinh .Làm thế nào để khơi gợi ở các em có niểm đam mê
đối với mơn văn học cụ thể là giúp các em làm tốt bài luận văn,mà trước hết
là biết cách viết tốt đoạn văn.Chính vì thế mà tơi chọn đề tài “Rèn kỹ năng
viết đoạn văn trong bài văn nghị luận” nhằm giúp các em có một phương
pháp làm bài đúng đắn , giúp các em xây dựng được một bài văn hồn
1
kể, các em học tập có phân môn mỗi môn học là những khái niệm ,
những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc và
độc lập . Điều đó đòi hỏi thúc đẩy mạnh sự phát triển tư duy trừu tượng
khái quát của các em . Tính chất và hình thức hoạt động học tập cũng
phải thay đổi , hình thành mức độ độc lập hoạt động học tập .
Thái độ học sinh có thể từ chăm chỉ tích cực đếùn lười biếng hoặc
ngược lại .
- Học sinh ham hiểu biết tất cả các lónh vực ( học đều tất cả các môn )
. Tuy nhiên , có những học sinh tỏ ra năng khiếu chỉ thích học một môn
hoặc hai môn nào đó .
-Phương thức học tập : Học sinh đã trãi qua quá trình học tập ở tiểu
học và khi lên THCS nội dung và phương pháp giảng dạy khác bậc tiểu
học , đòi hỏi học sinh tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao , và
các em ý thức học có tri thức rèn luyện kỹ năng, kỹ xão là điều kiện để
bước vào cuộc sống tương lai . Vì vậy ở học sinh hình thành phương pháp
và kỹ năng học tập rõû ràng . các em có thể tự học ở nhà về phần kiến
thức giáo viên giao .
- Cơ sở thực tiễn :
3
+ Thực trạng : Hòa chung với xu thế đổi mới phương pháp dạy học
trong những năm gần đây việc dạy và học môn ngữ văn trong nhà trường
có những biến chuyển theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh . Xác đinh dược trọng tâm của dạy môn ngữ văn là rèn luyện cho học
sinh bốn kỹ năng :” Nghe , nói , đọc , viết “. Đồng thời với việc khẳng
đònh đổi mới phương pháp dạy học là nhấn mạnh tính tích cực của học
sinh trong hoạt động học tập , tới khâu tiếp nhận và vận dụng những kiến
thức kỹ năng môn học của học sinh đã được chú trọng hơn giờ học đã
là phổ biến .Bí từ nên dùng sai ,dùng bừa bãi ,cuối cùng là hỏng văn,sai ý .
-Về phía nhà trường :tủ sách thư viện về các loại sách tham khảo đặc trưng
của bộ mơn đáp ứng nhu cầu đọc của học sinh còn ít
+Yêu cầu :
Như vậy với thực trạng trên cần phải phát huy vai trò tích cực của
học sinh trong hoạt động học tập , lấy “người học làm trung tâm “của quá
trình dạy học. Học sinh được coi là những đối tượng vốn có săún những
tiềm năng mà giáo viên có nhiệm vụ đánh thức và tạo điều kiện để
những tiềm năng đó được phát triển tối đa , đặc biệt là tiềm năng sáng
tạo . Giáo viên là người hướng dẫn tổ chức để học sinh đạt được những
mục tiêu cụ thể của giờ học .
Người giáo viên có một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học ,
biết vậân dụng , kết hợp linh hoạt sáng tạo các phương pháp dạy học
nhằm phát huy tính tích cực học tập của các đối tượng học sinh . giáo viên
tạo diều kiện tối ưu nhất để học sinh suy nghó , tìm tòi nhiều hơn thực
5
hành “nghe ,nói ,đọc, viết” nhiều hơn trên vốn kiến thức, kỹ năng văn
học , tiếng việt , làm văn mà các em đã co.ù Tăng cường sữ dụng các
phương tiện – thiết bò dạy học tác động tích cực tới các kỹ năng nghe,
nói , đọc , viết và quan sát của học sinh .
Không gò bó giờ học trong một quá trình cứng nhắc với những bước đi
bắt buộc giáo viên cần chủ động sáng tạo thiết kế giờ học căn cứ vào
mục tiêu cụ thể của mỗi bài học
2 ./ Mục tiêu của đề tài :
Với đề tài này sẽ giúp tôi phần nào tìm ra giải pháp đđể giúp học sinh
có một phương pháp làm bài luận văn đúng đắn ,cụ thể là biết cách viết
văn của ta chưa xây dựng được một hệ thống khoa học ,thống nhất chặt
chẽ.Vì thế dẫn đến tình trạng học sinh thường khơng phân biệt được kiểu bài
,dẫn đến bài viết thường giống nhau mặc dù u cầu của đề bài rất khác
nhau.
Thư viện của trường rất ít các loại sách tham khảo cho học sinh
mượn nên gặp không ít khó khăn trong việc dạy và học văn của học sinh
và giáo viên
4/ Các giải pháp:
Trước tiên nói về vấn đề viết đoạn văn của học sinh hiện nay,do chưa nắm
vững được nội dung và u cầu của đoạn văn,lại ít được rèn luyện viết đoạn
văn nên nhiều học sinh chưa biết viết đoạn văn.Theo quan niệm thường thấy
7
ở các em là:đoạn văn chỉ là một đoạn trên trang giấy ,cứ viết dài dài rồi
xuống dòng và coi đó là đoạn văn.Và tôi đã tiến hành khảo sát học sinh ở
các lớp dạy về cách viết đoạn văn của các em như sau:
Với đề bài:(2 đ)Viết đoạn văn khoảng 10 dòng nêu suy nghĩ của em về nhân
vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương “của Nguyễn Dữ.
Kết quả khảo sát như sau:
Môn S
Lớp
9A1
9A2
2 điểm
SL %
1,5điểm ù
bài văn nghị luận)
Đoạn văn cần đảm bảo tiêu chí sau:
+ Nằm giữa hai chỗ xuống dòng,thụt đầu dòng,viết hoa khi mở đầu ,chấm
xuống dòng khi kết thúc;chứa một ý tương đối hoàn chỉnh-một chủ đề nhỏ.
+Tiếp theo phải đảm bảo là đoạn văn trong bài văn,phải xoay quanh làm
sáng tỏ chủ đề lớn của cả bài văn(đoạn độc lập không cần tiêu chí này).
Tùy theo nhiệm vụ đoạn văn được chia làm:đoạn giới thiệu,đoạn nghị
luận,đoạn minh họa,đoạn chuyển tiếp,đoạn tiểu kết,đoạn tổng kết
.Đoạn giới thiệu thường đứng ở đầu bài văn,đầu mỗi phần của bài văn
.Đoạn nghị luận ,đoạn minh họa đứng giữa(thân bài)bài văn,giữa các phần
của bài
8
Vắng kt
SL %
.Đoạn chuyển tiếp đứng ở ranh giới giữa các phần của bài,của các đoạn
kia
.Đoạn tiểu kết đứng sau một hay một số đoạn nghị luận,đoạn minh họa
.Đoạn tổng kết nằm ở phần kết bài và thường đứng cuối cùng trong hệ
thống các loại đoạn vừa nêu.
Trong một bài văn nghị luận không phải bao giờ cũng tồn tại đủ các loại
đoạn kể trên.Trong bố cục cơ bản gồm ba phần của một bài văn nghị
luận,phần nào cũng có thể tồn tại các loại đoạn này trừ đoạn tổng kết phải
nằm ở phần kết bài
Việc bố trí các đoạn như vậy trong một bài nghị luận cần cân nhấc:
-Thứ nhất :bố trí bài bản,đoạn nào vào đúng vị trí của đoạn ấy trong bài
ao ta-Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”
(Văn 9-Nguyễn văn Long chủ biên)
Trong đoạn văn trên câu in nghiêng là câu chủ đề,các câu tiếp theo diễn giải
ý câu chủ đề
Bên cạnh đó các biến thể của đoạn nghị luận gồm có quy nạp(câu chủ đề
đứng cuối đoạn),hỗn hợp(phối hợp diễn dịch với quy nạp,tổng-phân –
tổng),giả thiết(lật ngược vấn đề để xem xét ),so sánh (tương đồng và tương
phản),phân tích nhân quả(nhân trước,quả sau:quả trước,nhân sau,nhân quả
liên hoàn).Vấn đáp ,tương đương(các ý cùng được triển khai bằng các câu có
vị trí ,ý nghĩa như nhau).Những biến thể như thế có thể xem là đặc điểm lập
luận của đoạn
Các đoạn văn trong bài nghị luận như thế ,tùy theo chức năng,tính chất mà
đảm nhận nhiệm vụ nghị luận:giải thích,chứng minh,bình luận...
Luyện viết đoạn văn nghị luận ở yêu cầu cao nhất là luyện viết tất cả các loại
đoạn nói trên.Tuy nhiên ở đây chủ yếu luyện viết đoạn nghị luận.Cách thức
10
luyện:dựa vào khung (dàn ý ) bài văn,luyện viết với từng luận điểm.Ban đầu
viết theo mô hình cơ bản:
+Chuyển luận điểm thành câu chủ đề
+Trên cơ sở phân tích các khía cạnh của luận điểm,viết các câu triển khai
+Viết câu có tính chất kết đoạn sau khi đã thành thạo,chuyển sang tập viết
các đoạn biến thể
Một bài văn gồm nhiều luận điểm mỗi một luận điểm thử viết một đoạn theo
các biến thể khác nhau,lắp ráp lại thành chỉnh thể,xem xét đánh giá tính
chỉnh thể ấy để điều chỉnh cách viết(dựng )từng đoạn.Ở đâu,đoạn nào cần
dùng đoạn thế này hay thế kia.Cuối cùng ,trên các sườn của các đoạn nghị
luận này xác định chung chỗ nào cần đoạn giới thiệu,chỗ nào cần đoạn minh
(nhiều em học sinh soạn bài là mở sách tham khảo ,sách để học tốt mang
tính đối phó ),chuẩn bị bài trước khi đến lớp là rất quan trọng để tiếp thu bài
một các chủ động ,trên lớp một lần nữa kiến thức được tái hiện lại giúp học
nhanh,hiểu sâu,nhớ lâu,trong giờ học mạnh dạn đưa ra những ý kiến đánh
giá chủ quan của mình để cùng nhau bàn luận.Có như thế hiệu quả bài học
đạt được càng cao.
Về phía nhà trường :
-Cần tạo cho học sinh thói quen đọc sách bằng cách yêu cầu các lớp đọc
trong 15 phút đầu giờ.Tủ sách thư viện của trường cần trang bị nhiều sách
tham khảo cho môn Ngữ Văn,phong phú ,đa dạng hơn nữa.
-Bên cạnh đó có thể thành lập “câu lạc bộ những người đọc sách “,câu lạc bộ
Bạn yêu văn”.Vào câu lạc bộ này luyện tập cho các em học sinh làm thơ,viết
truyện ngắn,lời bình cho bài thơ,truyện ngắn trong chương trình ,khuyến
khích những bài làm tốt sẽ phát thưởng cho các em(tổng kết trong một
tháng ,một học kì ).Qua đó phát huy tiềm năng văn học vốn có của các em.từ
đó các em hứng thú say mê hơn với môn văn,cảm thấy vui,phấn khởi khi
12
làm tốt một bài văn có thể nói đó là một hạnh phúc của sự sáng tạo nghệ
thuật dù nhỏ thơi.
5./Kết quả đạt được trong những năm qua do thực hiện đề tài :
Trước khi thực hiện đề tài học sinh làm bài tập làm văn đặc biệt là viết đoạn
văn còn lủng củng ,sơ sài ,bố cục một số em làm chưa rõ ràng .
Sau khi thực hiện đề tài các em có tiến bộ hơn cụ thể ở các lớp 9A1, 9A2
các em biết đoạn văn ở mức cơ bản ,bài tập làm văn của các em có chiều
sâu hơn,bố cục rõ ràng(đối với những học sinh chịu học,chịu hợp tác với
giáo viên) . Cụ thể ở HKI năm học 2011-2012 kết quả như sau:(chỉ tính ở
phần viết đoạn văn của học sinh)
1điểm
SL
%
31,3 13
35,7 10
0,5điểm
SL %
40,6 3
35,7 3
0 điểm
SL %
9,4 4
10,7 3
12,5
10,7
Nhìn vào bảng so sánh ta thấy tỉ lệ học sinh biết cách viết đoạn văn trên 50%
Tuy nhiên ở góc độ nào đó thì chưa đạt đến mức hồn thiện,bản thân các em
cần phải nỗ lực tích luỹ kiến thức và rèn luyện cơng phu thì mới có thể tiến
bộ được .
III./ BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
13
trình làm cơng việc nghiên cứu “sáng kiến-kinh nghiệm “sẽ không tránh
khỏi những hạn chế nhất đònh rất mong được sự thông cảm của q thầy
cô và bạn đọc .
CHỦ ĐỀ TÀI
Nguyễn Thò Linh Phương
V./Ý kiến nhận xét của tổ chuyên môn ,
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………
......................................................................................................................
......................................................................................................................
......................................................................................................................
Ý kiến nhận xét của Hội đồng khoa học trường:
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
15
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………
II.Nội dung
1.Cơ sở xuất phát
-Cơ sở lí luận
-Cơ sở thực tiễn
Trang 2
2.Mục tiêu của đề tài
3.Đặc điểm tình hình
Thuận lợi
Khó khăn
4.Các giải pháp
5.Kết quả đạt được
III.Bài học kinh nghiệm
IV.Tự nhận xét của bản thân
Trang 6
Trang 6
Trang 7
Trang 13
Trang 14
Trang 15
17