skkn một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện dành cho học sinh lớp 9 - Pdf 49

Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tôi rất tâm đắc câu nói của Vijaya Lankshmi Pandit: “ Mục tiêu của giáo dục
không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đó
phải là con đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái “ Chân” và thực hành cái
“Thiện”. Đúng vậy! Môn Ngữ văn có sứ mệnh cao đẹp đó: hình thành những con
người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng
nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, lòng căn ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con
người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm
thụ giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật. Đó cũng là những con người biết ham
muốn để đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên thực tế, việc giảng dạy môn Ngữ văn ở bậc THCS rất phong phú về đề tài
và đa dạng về thể loại trong đó có thể loại nghị luận. Văn nghị luận chiếm vị trí quan
trọng trong nội dung chương trình giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7.8.9. Mặc dù việc dạy
văn nghị luận trong nhà trường đã được tiến hành từ lâu, song phương pháp, hiệu quả
giảng dạy còn nhiều điều trăn trở vì một số giáo viên chưa chú trọng nhiều đến việc rèn
các kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh. Bên cạnh đó, thực trạng học văn, viết văn
nghị luận ở trường mà tôi đang công tác còn nhiều hạn chế trong cách thức trình bày,
lập luận thiếu sự thuyết phục và có hạn chế trong việc viết văn nghị luận về nhân vật
trong tác phẩm truyện.…Vì vậy, tôi thiết nghĩ, mỗi giáo viên cần phải rèn cho học sinh
kĩ năng viết văn nghị luận. Trong đó, kĩ năng viết văn nghị luận phải xuất phát từ kĩ
năng viết đoạn văn nghị luận.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu
- Tìm ra được phương pháp rèn cho học sinh cách viết đoạn văn nghị luận về
nhân vật trong tác phẩm truyện.
- Đổi mới cách làm, phương pháp giảng dạy nghị luận văn học nhất là nghị luận

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
+ Tham khảo những kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các trường bạn.
- Phương pháp thử nghiệm: Thử áp dụng các giải pháp vào quá trình giảng dạy
Ngữ văn ở lớp 9A1, 9A4 trường THCS Lương Thế Vinh.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Từ năm 1998, Bộ giáo dục đã triển khai dự án phát triển giáo dục THCS nhằm
đổi mới toàn diện bậc học này.Môn Ngữ văn là môn có vị trí vô cùng quan trọng trong
các môn học ở bậc học phổ thông và cũng là môn học có nhiều thay đổi nhất trong việc
đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học
tập. Nhiều vấn đề được đặt ra, trong đó đổi mới phương pháp dạy, nâng cao chất lượng
học được đặt lên hàng đầu.
Để dạy tốt môn Ngữ văn 9, nhất là văn nghị luận, đòi hỏi giáo viên phải kết hợp
nhiều phương pháp, tích hợp nhiều phân môn. Tùy vào từng chủ đề của bài học mà
giáo viên tích hợp cho thích hợp. Giáo dư Lê Trí Viễn đã từng nói: “Dạy văn lấy cảm
làm đâu”. Giáo viên dạy văn, nhất là văn nghị luận không thể nghèo nàn về cảm xúc.
Bởi hướng dẫn học sinh làm văn nghị luận nhất là nghị luận về nhân vật phải có cảm
xúc chân thật. Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ngoài vốn kiến thức về chuyên môn
còn phải không ngừng trau dồi, học hỏi nâng cao trình độ, nâng cao kiến thức xã hội;
giáo viên còn có khả năng sử dụng và truyền đạt ngôn từ cho học sinh.
Môn Ngữ văn là một môn rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc hình thành, định
hướng, phát triển nhân cách cho học sinh. Học văn là học làm người, học phép ứng nhân
xử thể trong cuộc sống. Đây cũng là một môn học nghệ thuật kích thích trí tưởng tượng
bay bổng, sáng tạo của người học. Vì thế để dạy tốt môn Ngữ văn, người dạy phải không
ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, kiến thức về cuộc sống, xã hội.
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

2


17, 99,100 ) nhưng chương trình Ngữ văn lớp 9 không có tiết ôn tập văn nghị luận nên
học sinh có thể quên những lí thuyết cơ bản về văn nghị luận cũng như đoạn văn nghị
luận.
Riêng đối với nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, học sinh lớp 9 chỉ được học
trong 03 tiết cách thức làm một bài văn, trong khi đó khi thi học kì và thi tuyển sinh,
các em không làm thành bài mà viết đoạn văn độc lập với số câu qui định. Quan trọng
hơn là những năm gần đây, cấu trúc đề thi, kiểm tra thường xuyên, định kì, thi h ọc
sinh giỏi thường xuyên ra. Vì vậy, buộc giáo viên phải chú ý đặc biệt tới vấn đề này.
* Phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Một số giáo viên chưa quan tâm, chú ý rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh.
Việc chưa quan tâm này cũng do nhiều yếu tố. Phần nhiều bởi khung chương trình của
khối lớp, đặc biệt là lớp 8, giáo viên cố gắng dạy hết lượng kiến thức yêu cầu theo
Chuẩn kiến thức kĩ năng nên không còn thời gian để rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học
sinh. Nhưng lớp 9 văn nghị luận là trọng tâm mà viết đoạn văn là chủ yếu vì các em
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

3


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

phải vận dụng nó trong các bài kiểm tra định kì, các kì thi nên buộc giáo viên phải lồng
ghép, kết hợp để rèn cho học sinh, do đó gặp không ít khó khăn.
Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến những giải pháp khắc phục những hạn chế
của SGK về rèn kĩ năng viết đoạn trong các giờ trả bài, hướng dẫn tự học ở nhà, tăng
thêm đoạn văn mẫu, kiểm tra viết đoạn, tích hợp các văn bản. Hơn nữa, trong chương
trình không có tiết rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Do đó, giáo viên chưa dành
thời gian ra đề cho học sinh về nhà tự viết và kiểm tra, sửa bài.
*Kỹ năng viết đoạn văn của học sinh.

những lời yêu thương và mong muốn sớm được đoàn tụ.
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

4


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

- Những dẫn chứng trên cho thấy Vũ Nương rất tốt.
Đề bài yêu cầu là viết “một đoạn văn” thì các em lại viết thành “nhiều đoạn
văn”. Các em chưa xác định được câu trên đề bài là luận điểm của đoạn văn mà cũng
là câu chủ đề nên khi xây dựng thành đoạn văn, các em không biết đặt nó ở vị trí nào
trong đoạn. Có học sinh còn không sử dụng luận điểm trên trong bài viết. Ngoài những
lỗi trên, trong bài làm này của học sinh còn mắc nhiều khuyết điểm nữa như: Sai lỗi
viết chữ đầu câu, đầu đoạn không viết hoa; diễn đạt lủng củng, lặp ý; chưa có dẫn
chứng cụ thể, sai kiến thức, dùng kí hiệu “ ->” trong bài làm…
- Một số học sinh chưa biết viết câu mở đoạn hoặc mở đoạn dài dòng.
Thống kê bài thăm dò lớp 9a4 có 28 học sinh thì có tới 15 em không biết viết
câu mở đoạn. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy đa số học sinh nằm trong tình trạng
này.
Ví dụ: Hãy xây dựng một đoạn văn khoảng 6 đến 8 câu với luận điểm sau:
“Nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là một
người con dâu hiếu thảo, nghĩa tình”. Có học sinh đã viết: “Nhân vật Vũ Nương trong
truyện dù về nhà chồng xảy ra nhiều xích mích nhưng nàng luôn làm tốt trách nhiệm
của một người vợ tốt”. Nếu học sinh viết đoạn văn theo cách diễn dịch thì buộc câu mở
đoạn phải nêu luận điểm của cả đoạn. Nếu là đoạn văn quy nạp thì câu đầu đoạn văn
đó cũng phải giới thiệu được khái quát về nhân vật: nhật vật nào? Trong tác phẩm nào?
Của ai? Em có ấn tượng chung với nhân vật như thế nào?. Ví dụ như “Nhân vật Vũ
Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là nhân vật đã để lại

thiết tha, cháy bỏng của ông Hai. Học sinh không khái quát được những luận cứ để làm
sáng tỏ luận điểm trên là nỗi nhớ làng khi đi tản cư, nỗi đau khổ, tuyệt vọng, bế tắc khi
nghe tin làng theo giặc và niềm vui sướng, hả hê khi nghe tin cải chính. Em chỉ kể liệt
kê những điều mình nghĩ. Câu văn vừa lạc sang kể vừa thiếu tính liên kết, thiếu ý khái
quát, chọn lọc. Vì vậy, không thể coi đây là đoạn văn nghị luận.
- Học sinh chưa biết viết kết đoạn.
Kết đoạn cũng giống như kết bài. Nó mang tính chất tổng hợp những vấn đề đã
trình bày ở phần mở và thân đoạn. Đoạn văn yêu cầu cảm nhận về nhân vật trong tác
phẩm truyện nhưng các em đã tổng hợp luôn cả tác phẩm. Chưa biết viết câu mở đoạn
hoặc ôm đồm sang ý khác, lạc hướng:
Ví dụ 1: Hãy xây dựng một đoạn văn khoảng 6 đến 8 câu với luận điểm sau: “
Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương là một người con dâu hiếu thảo,
nghĩa tình”. Học sinh đã có những cách viết phần kết đoạn như sau:
- Sao đó, Vũ Nương lo ma chay chu tất cho bà mẹ chồng giống như với cha mẹ
đẻ và chơ đợi chồng trở về cùng với con nhỏ.
- Vào một buổi tối trước ánh đèn con bảo cái bóng là cha lúc đó chàng mới biết
nghĩ sai cho vợ như đã quá muộn.
- Từ những việc làm trên ta thấy Vũ Nương người con hiếu thảo và luôn thủy
chung với chồng.
- Sau khi đi lính trở về nhìn thấy con của mình.
- Suy ra phẩm chất đạo đức, từ nét đẹp đến tính nết của người con gái thuần
khiết, đảm đang.
- Nàng không dám đi lấy chồng vì tấm lòng thủy chung dành cho Trương Sinh là
vô bờ.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp
Từ những thực trạng trên, tôi mong muốn có thể nâng cao được chất lượng học
tập ở môn Ngữ văn của học sinh. Đồng thời tôi cũng muốn đưa ra một vài kinh nghiệm
của mình để có thể giúp đồng nghiệp tìm ra giải pháp hướng dẫn học sinh cách viết
đoạn văn nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện, từ đó có phương pháp viết bài

Nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích) là trình bày
những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật trong một tác phẩm cụ thể.
Ví dụ:
+ Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong “ Lặng lẽ Sa Pa” của
Nguyễn Thành Long.
+ Cảm nhận của em về số phận và vẻ đẹp của Vũ Nương trong “ Chuyện
người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
- Đặc trưng của văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện:
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng
phương tiện văn học. Nhân vật văn học có thể là con người có tên như ông Sáu, bé
Thu, Phương Định..có thể là người không có tên như viên quan, thằng bán tơ... Nhân
vật văn học được thể hiện bằng chất liệu ngôn từ. Vì vậy, người đọc phải tưởng
tượng, xây dựng lại trong các mối quan hệ của nó. Nhân vật văn học có chức năng
khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn
về cuộc đời. Xét từ góc độ kết cấu, nhận vật trong tác phẩm có hai loại: nhân vật
chính (nhân vật giữ vai trò thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, được nhắc đến
từ đầu đến cuối truyện..), và nhân vật phụ ( nhân vật nói ít đến hơn, giữ vị trí thứ yếu
so với nhân vật chính, phụ trợ cho nhân vật chính thực hiện hành đồng, bộc lộ tính
cách). Nhân vật được xây dựng trên các phương diện ngoại hình, tài năng, cử chỉ,
hành động để bộc lộ tính cách, phẩm chất, tâm hồn, tình cảm…. Do đó, những nhận
xét, đánh giá…về nhân vật trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ tính cách, hành
động…và nghệ thuật trong tác phẩm.

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

7


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

quy nạp. Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái
quát, câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu
khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận,
nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại,
khẳng định thêm giá trị của vấn đề.
Đó là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ lớp 8. Tôi đã củng cố ngay
cho học sinh sau khi vào đầu năm học lớp 9 qua các buổi học phụ đạo buổi
chiều.Ngoài ra, tôi cũng mở rộng hơn một số cách trình bày đoạn khác cho học sinh

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

8


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

khá giỏi qua các giờ bồi dưỡng học sinh giỏi như cách suy luận nhân quả, tương đồng,
tương phản, đòn bẩy...
- Sự khác nhau giữa đoạn văn trong văn bản và đoạn văn nghị luận về
nhân vật trong tác phẩm truyện.
Trong một văn bản, mỗi đoạn văn là một phần của văn bản, có nhiệm vụ triển
khai một vấn đề của văn bản, quan hệ mật thiết với các đoạn văn khác trong văn
bản. Đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện có nhiệm vụ “thu
nhỏ” tất cả những vấn đề của nhân vật trong một văn bản. Thực chất, nó là một văn
bản nhỏ đầy đủ ý nghĩa, nội dung của một văn bản hoàn chỉnh. Nó chỉ khác một văn
bản ở hình thức và độ dài.Vì vậy, không những luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn
chính xác, sinh động mà ngôn ngữ phải cô đọng, khái quát, có tính bao hàm cao.
Viết một đoạn văn nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện là viết đầy đủ nội
dung những trình bày ngắn gọn, hàm súc, có tính khái quát cao về một nhân vật

Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

Đoạn văn khái quát về nhân vật nghĩa là đề ra chỉ nêu chung chung, chưa có
luận điểm, chỉ nêu tên nhân vật.(Ví dụ: Cảm nhận về nhân vật Xi-mông). Yêu cầu đạt
được về nội dung của đonạ văn này là học sinh giới thiệu được nhân vật, khái quát
được những đặc điểm nổi bật về nhân vật và đánh giá chung về nhân vật cũng như các
vấn đề có liên quan.
- Mở đoạn: Giới thiệu nhân vật nêu ra ở đề bài (Câu 1 của đoạn văn):
Nói tới nhân vật là nói tới tác phẩm, tác giả. Qua thực tế cho thấy, học sinh
thường lúng túng trong việc viết câu mở đoạn bắt nguồn từ nguyên nhân các em không
đọc kĩ đề bài và không biết phân tích đề và không biết khái quát luận điểm. Muốn học
sinh làm được, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thao tác đầu tiên là đọc kĩ đề, sau
đó đặt câu hỏi gợi ý cho học sinh: “Đề bài yêu cầu cảm nhận về nhận vật nào? Của ai?
Trong tác phẩm nào?Đề bài đã cho sẵn luận điểm về nhân vật chưa? Đó là luận điểm
gì? Nếu chưa thì em sẽ nêu ấn tượng chung về nhân vật như thế nào? Sau khi đặt câu
hỏi xong, giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp những câu hỏi trên sao cho thành một
câu hoàn chỉnh thì đó là câu mở đoạn .Với dạng đề này, mở đoạn chỉ cần giới thiệu
được nhận vật, tác giả, tác phẩm và ấn tượng ban đầu đối với nhân vật.
Ví dụ1: Nhân vật Phương Định trong “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh
Khuê là một trong những nhân vật đã để lại bao tình cảm yêu quí trong lòng độc giả.
Ví dụ1: Nhân vật Vũ Nương trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ là nhân vật để để lại những ám ảnh khó quên trong lòng người đọc.
-Thân đoạn: ( câu 2.3.4…8.9):
Phần thân đoạn, giáo viên cần tập trung hướng dẫn cho học sinh dựa vào tác
phẩm để khái quát những đặc điểm nổi bật về nhân vật qua các khía cạnh như số phận,
vẻ đẹp, tài năng, phẩm chất, tình cảm…của nhân vật. Thực trạng chung của học sinh
hiện nay là các em chưa biết khái quát. Mỗi đặc điểm nổi bật mà các em tìm được dưới
sự gợi mở của giáo viên đó là những luận điểm mà khi xây dựng thành bài văn thì ta sẽ
lấy đó là những câu chủ đề của các đoạn văn trong phần thân bài. Vì vậy, giáo viên cần

biết bao).
- Tổng kết và năng cao. (Vẻ đẹp của Vũ Nương là đẹp truyền thống của người
phụ nữ Việt Nam).
* Hướng dẫn học sinh kĩ năng làm đoạn có sẵn luận điểm
Thực tế có những dạng đề có luận điểm cho trước thì giáo viên cần giảng cho
học sinh rằng luận điểm trên đề bài đó chính là câu chủ đề của đoạn văn. Vì vậy, ta
phải sử dụng nó và đặt ở đầu hoặc cuối đoạn văn, tùy theo ý đồ của giáo viên hoặc học
sinh viết theo cách diễn dịch hay qui nạp hoặc do chính yêu cầu của đề bài. Bản thân
tôi khi dạy điều này cho học sinh, tôi rèn cho các em cả hai cách nhưng tôi vẫn hướng
nhiều đến diễn dịch vì học sinh dễ viết hơn. Với dạng đề này thì giáo viên cần rèn cho
học sinh xây dựng luận cứ. Đây là phần mà học sinh khúc mắc nhiều nhất bởi thay vì
tìm những lí lẽ và dẫn chứng trong tác phẩm thì các em thường đi kể chuyện nhiều, ít
sử dụng dẫn chứng và chưa biết chọn lựa dẫn chứng tiêu biểu cho lí lẽ mình đưa ra.
- Câu mở đoạn (Câu 1)
Giống như chức năng, vai trò của mở bài, mở đoạn, chúng ta cần giới thiệu được
nhân vật, tác giả, tác phẩm và luận điểm đã cho. Học sinh sắp xếp những ý trên thành
một câu hoàn chỉnh.
Ví dụ: Đề bài: Viết một đoạn văn( 8 – 10 câu) với luận điểm sau: Anh Sáu trong
“ Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một người lính sẵn sàng hi sinh tình
cảm riêng tư để chiến đấu và hi sinh cho Tổ quốc.
Phần mở đoạn, ta viết như sau: Nhân vật Anh Sáu trong “ Chiếc lược ngà” của
Nguyễn Quang Sáng là một người lính sẵn sàng hi sinh tình cảm riêng tư để chiến đấu
và hi sinh cho Tổ quốc.
- Thân đoạn (Câu 2.3.4…)
Sau khi giới thiệu và nêu luận điểm ở mở đoạn, giáo viên hướng dẫn học sinh
xây dựng luận cứ theo nhiều hướng khác nhau: Có thể theo trình tự sự việc ( Ông Hai
khi đi tản cư, khi nghe tin dữ, khi nghi tin cải chính; Ông Sáu khi nghe tin được về
thăm nhà, trong ba ngày phép, phút chia tay, ở căn cứ), có thể dựa vào hoàn cảnh, suy
nghĩ, việc làm ( anh thanh niên trong “ Lặng lẽ Sa Pa”)….Giáo viên cần bám sát vào
luận điểm để đặt câu hỏi để học sinh tìm luận cứ như: luận điểm ở đề bài có mấy nội

- Nếu để nói về sự hi sinh của người lính ấy, em sẽ phải nói tới chi tiết nào nữa
trong truyện? Em sẽ cảm nhận chi tiết đó như thế nào? (Anh Sáu đã hi sinh ở giữa
rừng chỉ có người bạn là anh Ba bên cạnh, toát lên vẻ đẹp dũng cảm, can trường, sẵn
sàng hi sinh thân mình cho Cách mạng, cho kháng chiến, cho Tổ quốc).
Khi giáo viên cho học sinh tìm luận cứ, có thể các em sẽ kể sự việc, Giáo viên
cần “ tỉnh” để chỉnh sửa dần cho học sinh bằng cách đặt câu hỏi gợi ý: Em nêu chi tiết
đó giống như đang kể chuyện quá. Em hãy diễn đạt lại chi tiết đó theo hướng đánh giá,
nêu suy nghĩ của em xem sao? Chi tiết của em diễn đạt hơi dài, em sắp xếp lại cho
ngắn gọn hơn đi?Cô thấy chi tiết này chưa chọn lọc, em tìm chi tiết nào tiêu biểu hơn,
giá trị hơn xem nào?...Giáo viên đặt câu hỏi và chỉnh sửa dần đến khi nào cảm thấy đặt
yêu cầu rồi thì ghi lần lượt trên bảng. Có thể các em sẽ nêu các ý lẫn lộn, hoặc các câu
rời rạc với nhau. Không sao, miễn là đúng, chúng ta cứ tiến hành hướng dẫn các em
giải quyết từng luận cứ một rồi sau đó yêu cầu các em sắp xếp theo trình tự và thêm từ
ngữ để tạo liên kết là được. Chẳng hạn như có thể thêm ở phía trước mỗi luận cứ, mỗi
câu các từ ngữ: bên cạnh đó, không những thế, hoặc câu ghép có cặp từ hô ứng “
không những…mà còn”… . Yêu cầu phải ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu.
- Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề (câu cuối)
Giống như vai trò của phần kết bài của một văn bản, phần kết đoạn cũng làm
nhiệm vụ tổng kết lại vấn đề đã nêu hai ở phần trên. Nó được hình thành bằng một câu
trọn vẹn khái quát lại nội dung chính của đề tài nhưng nâng cao thành chủ đề. Trước
câu kết đoạn có thể dùng một số từ ngữ chuyển tiếp có ý nghĩa tổng kết như: vì vậy, có
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

12


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

thể nói rằng, tóm lại…Phần kết đoạn, người viết thường nêu ra cách đánh giá, suy nghĩ

tách nhiều hay ít câu). Nếu thừa, em có thể gộp những ý ở thân đoạn thành một câu và
dùng dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy (câu ghép nhiều vế). Đề cho phép học sinh viết
phải đủ số câu mà không được thiếu. Có thể sẽ thừa nhưng chỉ chấp nhận thừa một đến
hai câu. Nhưng tốt nhất “đủ mới là đúng”.
Bước 4:
Tiến hành viết đoạn văn vào bài thi (kiểm tra). Viết đúng theo yêu cầu của một
đoạn văn. Hình thức: Viết hoa chữ cái đầu, lùi vào 2 ô và kết thúc bằng dấu chấm
xuống dòng. Nội dung đoạn văn lấy từ phần đã làm và chỉnh sửa ở giấy nháp.
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

13


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

Ví dụ:
Phần 1: Mở đoạn.
(1)
Phần 2: Thân đoạn:
(2) (3)
(4) …
Phần 3: Kết đoạn (n)
Sau khi làm được các bước trên, các em chỉ vần viết lại theo thứ tự từ (1) đến (n)
thành một đoạn và chú ý thêm một số từ ngữ ở đầu câu (nếu cần) để tạo sự liên kết
giữa các câu trong đoạn văn.
Giải pháp 4: Bổ sung một số đoạn văn mẫu cho học sinh .
Yêu cầu về các đoạn văn mẫu bổ sung: Đoạn văn phải chuẩn về nội dung và
hình thức, dễ hiểu, đề tài gẫn gũi, sát với chương trình, phù hợp với năng lực của học
sinh từng vùng miền…

- Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trong tiết kiểm tra định kì:
Cấu trúc đề kiểm tra định kì, đề thi học kì, đặc biệt là các kì thi của lớp 9 hiện
nay chú trọng câu viết đoạn văn nghị luận. Đó cũng là cách để chúng ta rèn kĩ năng
viết đoạn văn nghị luận cho học sinh.
- Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trong giờ trả bài:
Sau khi đưa ra đáp án của đề kiểm tra, giáo viên phải nhận xét chi tiết, cụ thể
những ưu điểm và hạn chế trong bài làm của học sinh. Trong phần nhận xét đó, giáo
viên cần chỉ ra cụ thể những lỗi viết đoạn văn chưa đúng, chưa hay ở điểm nào bằng
nhiều cách.
Ví dụ: Giáo viên dùng bảng phụ (hoặc phiếu học tập, đèn chiếu) những bài làm
của học sinh : viết đoạn văn thành bài văn; đoạn văn dùng gạch đầu dòng; đoạn văn
không sử dụng câu mang luận điểm khái quát; liệt kê những lỗi chính tả; những câu
văn diễn đạt lủng củng, thiếu chính xác; câu văn dùng từ chưa hay, còn nôm na như
văn nói; đoạn văn khai thác luận cứ chưa tốt… Giáo viên cho học sinh phát hiện lỗi,
dạng lỗi và cùng học sinh lần lượt sửa lại tất cả các lỗi đó. Sau đó, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh viết từng phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn bằng cách liệt kê ý
hoặc gợi ý. Cuối cùng, giáo viên dặn dò học sinh về nhà viết lại đoạn văn và giờ tập
làm văn tiếp theo sẽ kiểm tra một số học sinh trong bước “ Kiểm tra bài cũ”. Nếu ở lớp
có một số học sinh viết đoạn văn tốt, giáo viên có thể đọc đoạn văn mẫu cho học sinh
hoặc giáo viên tự viết sẵn đoạn văn ở nhà để đọc cho học sinh nghe.
- Rèn kĩ năng viết đoạn văn trong tiết học phụ đạo.
Đối với một số trường, ngoài giờ học chính khóa, nhà trường thường tổ chức học
tăng tiết, học phụ đạo để giúp học sinh lớp 9 ôn thi. Vì thời gian học khá nhiều nên
ngay từ đầu, trong nội dung ôn tập, giáo viên cần rèn nhiều cho học sinh kĩ năng viết
đoạn văn nghị luận bằng các dạng bài tập từ dễ đến khó bằng cách đưa ra một số dàn ý
của đoạn văn về tư tưởng, đạo lí.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp luôn quan hệ chặt chẽ với nhau. Giáo viên muốn giảng
dạy một tiết dạy nghị luận văn học thành công thì phải soạn bài chu đáo, đầy đủ, chuẩn
xác nội dung kiến thức; học sinh phải chuẩn bị bài chu đáo. Sau đó giáo viên vận dụng


ĐIỂM

9A1

GIỎI

KHÁ

T.B

YẾU

(36)

5

11

19

1

9A4 (28)

0

2

16


3

8

14

3

III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Nhiệm vụ của mỗi giáo viên dạy môn Ngữ văn trong nhà trường là phải giúp học
sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của văn học, kích thích hứng thú học tập học Văn, đồng
thời tạo ra những rung động thẩm mỹ, niềm say mê…Để làm được điều đó, theo tôi,
mỗi giáo viên đều phải có sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy. Sau khi
thực giảng, có gì khúc mắc nên có sự góp ý, bàn bạc, thống nhất từ Khối, Tổ để rút
kinh nghiệm và làm cho bài giảng có hiệu quả cao nhất như mong muốn. Qua nhiều
năm giảng dạy, đặc biệt là kinh nghiệm dạy lớp 9 cuối cấp, bản thân đã nhận thấy việc
rèn cho học sinh kĩ năng viết văn nói chung và viết đoạn văn nghị luận về nhân vật
Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

16


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

trong truyện nói riêng là một việc làm cần thiết, trọng tâm, thường xuyên và bền bỉ, dài
lâu đối với mỗi giáo viên, trong đó có giáo viên dạy khối 9.
2. Kiến nghị


Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

18


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các công văn, hướng dẫn của Bộ giáo dục, Sở giáo dục và Phòng giáo dục đổi
mới phương pháp dạy học
2. Phương pháp dạy học tích cực (Mạng Internet)

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

19


Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện
dành cho học sinh lớp 9

MỤC LỤC
PHẦN

I
MỞ ĐẦU

II
NỘI DUNG


3-6

3. Giải pháp, biện pháp

6-15

III

1. Kết luận

16

KẾT LUẬN,
KIẾN NGHỊ

2. Kiến nghị

17

3. Tài liệu tham khảo

19

Trần Thị Lệ - GV trường THCS Lương Thế Vinh- Krông Ana

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status