quan điểm của hồ chí minh về con người mới xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng con người việt nam hiện nay - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



BÙI THỊ QUỲNH

QUAN NIỆM CỦ A HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI MỚI
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



BÙI THỊ QUỲNH

QUAN NIỆM CỦ A HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI MỚI
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Triế t ho ̣c
Mã số:


2.1.

Những vấn đề đặt ra trong xây dựng con người Việt Nam hiện nay .... 66

2.2.

Một số định hướng cơ bản vận dụng quan niệm của Hồ Chí
Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa vào sự nghiệp xây
dựng con người Việt Nam hiện nay ................................................ 80
2.2.1. Kết hợp chặt chẽ giữa dạy ''chữ', dạy ''nghề'' với dạy ''người''
trong giáo dục, đào tạo .................................................................... 81
2.2.2. Đổi mới quan điểm đánh giá và tiêu chuẩn tuyển chọn, sắp xếp
đội ngũ cán bộ, công chức và lực lượng lao động của xã hội .......... 92
2.2.3. Tạo môi trường thuận lợi để con người Việt Nam có cơ hội
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển toàn diện .............. 98

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 111


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá trong kho tàng lịch sử
tư tưởng Việt Nam. Đó là tư tưởng của "Người anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hóa kiệt xuất", người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân
tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ
kính yêu của dân tộc và cách mạng Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim
chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam.
Trong di sản tư tưởng phong phú và vô giá của Hồ Chí Minh có tư

cho chúng ta những chỉ dẫn quý báu, sáng suốt để xây dựng và thực hiện
thành công chiến lược con người trong điều kiện mới, nhằm đào tạo cho đất
nước những con người mới đủ tâm lực, trí lực, thể lực đưa đất nước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định một trong những đặc
trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang từng bước xây dựng là
xây dựng con người và làm cho:“Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.
Xét đến cùng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, quá trình phấn đấu đạt tới
những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa đều vì con người. Con người là thực thể
cao nhất của giới tự nhiên bởi con người có trí tuệ và tình cảm, có khát vọng
và khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao hiểu biết để tạo cho mình một thế giới
Người - thế giới Văn hóa. Lịch sử loài người là lịch sử con người đấu tranh
xóa bỏ mọi lực cản thiên nhiên và xã hội để vươn tới một xã hội cao đẹp nhất
- xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội xã hội chủ nghĩa phải đem lại ấm no cho con
người như là đòi hỏi tiên quyết. Nhưng bản tính con người là không bao giờ
thỏa mãn với những gì đã đạt được. Con người phải được tự do - tự do không
chỉ bó hẹp trong nghĩa được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm
về mặt xã hội. Điều quan trọng hơn là nó được thăng hoa tiềm năng trí tuệ,
tình cảm và năng lực vốn có để thực hiện những khát vọng cao đẹp của mình.
Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng của con người tự do.

2


Xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nơi: "sự phát triển tự do của mỗi người là
điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người"... như C.Mác đã nói.
Đặc trưng Người nhất của khát vọng con người là hạnh phúc. Bởi có thể
người ta giàu có, đầy đủ tiện nghi, được phát triển, song vẫn bất hạnh. Hạnh
phúc là trạng thái yên lành, hài hòa, là tinh thần thoải mái biểu hiện sự mãn

1991 đến năm 1995, công trình khoa học cấp nhà nước KX - 07: "Con người
Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội" do GS. TS. Phạm
Minh Hạc làm chủ nhiệm đã tiến hành nghiên cứu con người Việt Nam trong sự
nghiệp đổi mới. Cùng với quá trình thực hiện chương trình nghiên cứu cơ bản
này, đã có hàng trăm bài báo và các báo cáo khoa học của các nhà khoa học
trong nước viết về con người được liên tục đăng tải trên các tạp chí Cộng sản,
Triết học, Nghiên cứu lý luận, Thông tin lý luận, Khoa học xã hội... Các tác giả
như Nguyễn Duy Quý, Lê Hữu Tầng, Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc
Trầm, Dương Phú Hiệp, Lê Thi, Phạm Như Cương, Nguyễn Ngọc Long, Phạm
Ngọc Quang, Đặng Hữu Toàn,... đã công bố nhiều bài báo đề cập đến các góc độ
khác nhau của việc xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Vấn đề con người mới xã hội chủ nghĩa nói đã và đang có sự quan tâm
nghiên cứu của các nhà khoa học như: GS. TS. Hoàng Chí Bảo có các bài
viết: “Con người mới xã hội chủ nghĩa - lý luận và phương pháp luận nghiên
cứu”, Tạp chí Triết học. Số 2/ 1988; "Quyền con người trong chủ nghĩa xã
hội", Tạp chí Triết học. Số 2/ 1989; “Giáo dục lối sống lao động, lối sống
tập thể trong xã hội xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học. Số 1/ 1990. GS. Vũ
Khiêu có bài: "Trồng cây và trồng người", Tạp chí Triết học số 4/ 1990. Một
số công trình nghiên cứu đã được công bố trên các sách báo và tạp chí khoa
học như: "Các Mác với vấn đề con người và xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa" (tác giả Lê Thi, tạp chí Triết học, số 4, tháng 12/1983); Đại tướng
Võ Nguyên Giáp với bài viết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng
con người mới", Tạp chí Cộng sản, số 6 năm 1990. "Mấy vấn đề về "trồng
người" trong tư tưởng Hồ Chí Minh" (tác giả Lê Sỹ Thắng, tạp chí Triết học,

4


số 2, tháng 6/1995); "Nhân tố con người và những giá trị văn hóa" (tác giả

3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ
sau đây:
- Khái quát những nội dung cơ bản quan niệm của Hồ Chí Minh về con
người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Nêu lên những vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng con người ở
nước ta hiện nay.
- Vận dụng quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ
nghĩa từ đó đưa ra một số định hướng cơ bản xây dựng con người Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: luận văn nghiên cứu vấn đề con người mới
xã hội chủ nghĩa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: trong quan niệm của Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở nghiên cứu
- Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường
lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về con người. Luận văn còn
sử dụng các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng một
số phương pháp như: phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, thống
kê, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa...
6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần nhận thức rõ hơn những nội dung cơ bản trong
quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa từ đó làm sâu
sắc thêm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

6

vang trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Con người ấy sớm có tinh thần
độc lập tự chủ, lòng yêu nước nồng nàn, chí khí đấu tranh bất khuất, dũng
cảm và thông minh trong chiến đấu, cần cù và sáng tạo trong lao động.
Hồ Chí Minh đã nêu một luận điểm khẳng định vai trò của con người
trong phát triển xã hội. Theo Hồ Chí Minh: "Trong những nhân tố tạo nên sức
mạnh tổng hợp để đưa đất nước tiến lên, con người là nhân tố quan trọng bậc
nhất, là nhân tố quyết định". Vì vậy, "Vô luận việc gì, đều do con người làm
ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả" [67, tr.24]. Nhân dân là người
sáng tạo ra mọi giá trị cả vật chất và tinh thần, cũng như loài người đã sản
sinh ra "mọi phương thức sinh hoạt và các biểu hiện của nó" giúp con người
tồn tại và phát triển.
Hồ Chí Minh có lòng bao dung rộng lớn trên cơ sở của niềm tin khoa
học, tin vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn tới cái chân, thiện, mỹ của
con người. Theo Hồ Chí Minh "con người dù là xấu, tốt, văn minh hay dã
8


man đều có tình". Cũng như thế Người cho rằng trong mấy mươi triệu người
Việt Nam có người thế này người thế khác nhưng đều là nòi giống Lạc Hồng,
ai cũng có ít nhiều lòng yêu nước, cũng như năm ngón tay dài ngắn khác nhau
nhung cả năm ngón đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Do vậy mà "người trong
một nước phải thương nhau cùng". Người chỉ rõ: "Mỗi con người đều có phần
thiện và ác trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở
như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Đối với những người có thói hư
tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp cho
họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy
lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời". Trong thư gửi các ngụy binh,
Hồ Chí Minh đã viết: "Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại
Tổ quốc, song, Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các
người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục, nhẹ tay xử

mạng, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt vấn đề tự do song hành với hạnh phúc của
dân tộc. Cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi,
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải trải qua nạn đói khủng khiếp
do Pháp - Nhật gây ra. Trong tình cảnh khó khăn ấy, Người chủ trương phát
động nhân dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Bản thân Người
gương mẫu mỗi tháng nhịn ăn ba bữa, góp gạo cứu đói. Ngay cả khi đi chiến
dịch Biên giới, Người không chịu cưỡi ngựa mà cùng đi bộ với các cán bộ,
chiến sĩ để ngựa thồ hành lý cho anh em. Khi đi thăm trại tù binh về, Người
không còn áo khoác vì Người đã cho một tù binh bị rét cóng. Tình yêu thương
của Hồ Chí Minh dành cho mọi kiếp người, mọi số phận là như vậy.
Một trong những học trò xuất sắc của Người là Cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã từng viết: “Những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh là những tình
cảm lớn. Trong đời hoạt động cách mạng của Bác, cũng như trong đời sống
hàng ngày của mình, Hồ Chí Minh luôn đối xử với người có lý, có tình. Trong
tình yêu đó có chỗ cho mọi người, không quên sót một ai và sắp xếp cho mọi
người vị trí chiến đấu, cũng như lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời
sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa thương yêu dìu dắt… Đối với
kẻ lầm đường, lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả, Người dạy phải
khoan hồng, vui mừng đón rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy. Cụ

10


Hồ nói rằng: “người Việt Nam ai cũng yêu nước, muốn nước thống nhất độc
lập, ta khéo nhen chút than hồng ấy, nó sẽ cháy lên thành ngọn lửa”. [24]
Con người mới, con người cách mạng còn có vai trò mở đường, dẫn
đường, lôi kéo quần chúng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, tạo
thành phong trào cách mạng ngày càng rộng lớn. Cách mạng Việt Nam muốn
đi đến thắng lợi phải có những con người tiên tiến mở đường, lôi cuốn quần
chúng vào con đường cách mạng, tạo thành phong trào cách mạng ngày càng


dám nói, không dám làm, không dám đề ra ý kiến, tóm lại không dám đổi mới
và sáng tạo.
Trong hệ thống các động lực chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh chú
trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa,
đạo đức cách mạng... đồng thời không coi nhẹ vai trò tác động của các nhân
tố tinh thần khác như văn hoá, khoa học, pháp luật... đặc biệt, Người chú
trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi "thực hành dân chủ là cái
chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn".
Là nhà duy vật mácxít, Hồ Chí Minh hiểu hành động của con người
luôn gắn liền với nhu cầu và lợi ích của họ, vì vậy, đi đôi với các biện pháp
chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh không coi nhẹ hay bỏ qua các động lực vật
chất, khéo léo kết hợp các động lực với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp,
thúc đẩy tính năng động cách mạng của con người. Người tôn trọng và
khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, chủ trương kết
hợp hài hoà ba lợi ích, sao cho "Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi".
Nhưng muốn khai thông động lực thì phải khắc phục trở lực kìm hãm sự phát
triển của con người, trong đó căn bệnh cực kỳ nguy hiểm là chủ nghĩa cá nhân
phải được phê phán mạnh mẽ, kiên quyết tẩy trừ.
Qua đó, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giữa con người - mục
tiêu và con người - động lực có mối quan hệ biện chứng với nhau. Càng chăm
lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành con người - động
lực tốt bấy nhiêu. Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người - động
lực thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng. Con người - mục tiêu và
con người - động lực là thống nhất, vì dân và do dân là thống nhất. Theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên tất cả các
lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có
liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể
chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước. Người dân có quyền làm chủ các
đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và bãi miễn. Đúng như

qua các phạm trù: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Chính, Cần, Kiệm, Trung,
Hiếu, Tài, Đức..., những khái niệm, phạm trù của văn hóa Hán, nhất là của
Nho giáo mà cha ông ta tiếp thu và vận dụng vào việc giáo dục, đào tạo, phát
15


triển con người có hiệu quả, có tác động tích cực đến sự hình thành và phát
triển nhân cách của người Việt Nam trong lịch sử đã được Người kế thừa một
cách sáng tạo.
Trong quan niệm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí
Minh, chúng ta thấy Người rất hay sử dụng các khái niệm như: Cần, Kiệm,
Liêm, Chính, khi đề cập đến phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam
trong thời đại mới, nhất là đối với cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh cho rằng,
cũng như trời có bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông; đất có bốn phương đông, tây,
nam, bắc; người có bốn đức cơ bản là cần, kiệm, liêm, chính, "thiếu một đức
không thành người"; "tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính" [67, tr.406], đối
với cán bộ đảng viên Người yêu cầu "ai cũng phải thực hành bốn chữ cần,
kiệm, liêm, chính" [67, tr.622]; "đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm,
chính" [68, tr.490 ]; "phải thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính" "cố gắng
làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính" [67, tr.203]; "mở một chiến dịch
giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính" [66, tr.8].
Có thể nói, tần số xuất hiện của các khái niệm: Cần, Kiệm, Liêm, Chính trong
quan niệm về con người mới xã hội chủ nghĩa là nhiều nhất trong các khái
niệm, phạm trù mà Hồ Chí Minh kế thừa từ tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát
triển con người của cha ông ta.
Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm cũng là những khái niệm mà Hồ Chí Minh
hay dùng, nhất là khi nói về phẩm chất, năng lực của người quân nhân cách
mạng, của người làm tướng "tướng giỏi (đủ cả trí, nhân, dũng, liêm) thì nước
mạnh" [65, tr.519]; "nhiệm vụ của người làm tướng là phải trí, dũng, nhân,
tín, liêm, trung" [67, tr.479]; "Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách

hiểu sâu sắc nội dung của khái niệm yêu nước, thương dân, cố gắng phấn đấu,
rèn luyện, bồi dưỡng để làm cho "lòng yêu nước" trong mỗi con người "ngày
một nồng nàn" nhưng cũng cần phải tránh tư tưởng cực đoan "chỉ biết yêu
nước mình mà khinh ghét nước người" [67, tr.102].
Cần phải thấy rằng, trong quá trình sử dụng một số khái niệm, phạm trù
của Nho giáo, của nền giáo dục, đào tạo, phát triển con người Việt Nam
trước đây, Hồ Chí Minh đã loại bỏ những mặt hạn chế trong nội hàm các
khái niệm đó, đưa thêm vào những nội dung mới, mang tính cách mạng,

17


nhằm cải biến một cách căn bản các khái niệm, phạm trù cũ, phục vụ có hiệu
quả sự nghiệp đào tạo các chiến sĩ cách mạng, đào tạo những con người mới
xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Điều này có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp cho mỗi
người Việt Nam (vốn đã quen với các khái niệm, thuật ngữ của Nho giáo) có
thể lĩnh hội, nắm bắt, tiếp thu, tư tưởng, lý luận, đường lối, phương pháp cách
mạng, tri thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật... để không ngừng hoàn thiện và
nâng cao phẩm chất, năng lực về mọi mặt của bản thân, góp phần hình
thành và phát triển con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hai là, kế thừa những mặt tích cực trong nội dung giáo dục đạo lý làm
người của cha ông. Trong nền giáo dục truyền thống, cha ông ta rất quan tâm
giáo dục triết lý nhân sinh, đạo lý làm người cho các thành viên cộng đồng.
Nội dung chủ yếu của nó là giáo dục con người sống có lý tưởng, bản lĩnh, có
ý chí vươn lên để tự hoàn thiện mình về mọi mặt, đem hết tài đức của mình
xây dựng một xã hội "thái bình, thịnh trị"; "vua sáng, tôi hiền"; là yêu nước,
thương dân, sống nhân nghĩa, thủy chung; là đề cao đạo đức, tình đoàn kết
trong quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người... Mặc dù không tránh
khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhưng triết lý và nội dung giáo dục, đào
tạo, phát triển con người của cha ông ta đã góp phần quan trọng tạo ra những

từ bỏ. Vì vậy, giáo dục đạo lý làm người được gia đình, trường học và xã
hội rất coi trọng.
Cuộc cách mạng mà nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản là vì con người, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho đông
đảo quần chúng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển mọi mặt của
con người Việt Nam. Cho nên, những người tham gia sự nghiệp vẻ vang đó
trước hết phải là những người sống có đạo lý.
Theo Hồ Chí Minh, đạo lý sống của người cách mạng "nghĩ cho cùng...
là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước,
thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, bị áp bức"; là phải "làm cho dân có
ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành" [86, tr.152]; "đem tài dân, sức dân, làm
lợi cho dân" [67, tr.65]; "Mình ăn no mặc ấm, cũng cần làm... cho tất cả mọi
người được ăn no, mặc ấm" [69, tr.682]; là "sống với nhau có tình có nghĩa";

19


"nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao có
thể hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin" [74, tr.554], sao là sống có đạo lý...
Sự kế thừa những giá trị tốt đẹp này còn được thể hiện trong thực tiễn
giáo dục, đào tạo, phát triển con người của Hồ Chí Minh. Hai mươi bốn điều
trong cuốn sách giáo khoa "Đường cách mệnh" đều đề cập đến đạo lý làm
người, dạy đạo lý sống cho các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Đến thăm
trường Nguyễn Ái Quốc trung ương - nơi đào tạo cán bộ cao cấp của Đảng và
Nhà nước, dòng đầu tiên mà Người ghi vào sổ vàng truyền thống của trường
là "Học để làm người" trước khi làm cán bộ. Trong nhiều bức thư gửi học
sinh, thầy cô giáo, cán bộ quản lý ngành giáo dục, Hồ Chí Minh luôn luôn
nhắc nhở phải chú ý giáo dục đạo đức, ý thức, trách nhiệm công dân, đạo lý
làm người, coi đó là phẩm chất quan trọng đầu tiên của con người mới xã hội
chủ nghĩa và là tiền để cơ bản để phát triển các phẩm chất, năng lực khác của

lực về mọi mặt của họ là phương pháp mà Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng
và thường xuyên sử dụng. Theo Hồ Chí Minh, có làm tốt điều đó chúng ta
mới có thể tạo ra được những con người mới đức tài vẹn toàn cho cách mạng.
Trong quan niệm về con người mới xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, đạo
đức và tài năng, lý trí và tình cảm, là những yếu tố không thể tách rời trong
nhân cách của người cách mạng, nó phải được kết hợp chặt với nhau. Muốn
vậy, khi tiến hành giáo dục, đào tạo, phát triển con người phải kết hợp chặt
chẽ giữa hai mặt đó, phải quan tâm, đến giáo dục cả tri thức đạo đức và tri
thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật để nâng cao phẩm chất, năng lực cho mỗi cá
nhân. Đó là điều luôn luôn được Hồ Chí Minh quan tâm bởi theo Người "có
tài phải có đức, có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không
có tài làm việc gì cũng khó"; "có tài mà không có đức ví như một anh làm
kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại để thụt két thì chẳng những không làm
được gì có ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội. Nếu có đức mà không có
tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài
người" [70, tr.126]. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đức dục với trí dục
là phương pháp hết sức quan trọng để đào tạo cho cách mạng những con
người "vừa hồng, vừa chuyên" nhằm kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng
vẻ vang của Đảng và nhân dân ta. Đó là quan điểm nhất quán của Hồ Chí

21


Minh nêu ra trong quan niệm xây dựng và phát triển con người mới xã hội
chủ nghĩa.
Nếu như trước đây, cha ông ta có những hình thức động viên có kết quả
tinh thần ham học cho con người như: nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ;
khắc tên vào bảng vàng, bia đá; tổ chức lễ vinh quy bái tổ một cách trịnh
trọng; ban thưởng yến tiệc, mũ áo, ruộng đất, tước lộc... thì sinh thời Hồ Chí
Minh, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất nước lúc này cũng có những hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status