Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở”
I/ Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Là một giáo viên dạy Ngữ văn nhiều năm và đã từng tham gia bồi dưỡng học
sinh giỏi qua một số năm học, tôi nhận thấy, để có được học sinh giỏi thì ngòai năng
lực, tố chất của học sinh còn cần có công lao bồi dưỡng của người giáo viên. Đối với
giáo viên, bên cạnh năng lực chuyện môn, lòng nhiệt huyết thì cần có phương pháp
dạy học phù hợp, phải không ngừng tìm tòi, đổi mới. Đặc biệt, cần mạnh rạn đổi mới
trong công tác ra đề kiểm tra, đánh giá học sinh. Bởi, công tác kiểm tra, đánh giá có
vai trò vô cùng quan trọng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Việc ra đề theo
hướng “mở” không chỉ để đánh giá năng lực của học sinh, mà qua đó còn nâng cao
tính chủ động, sáng tạo và rèn kỹ năng cho học sinh… Xuất phát từ những yêu cầu
đó, được sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi mạnh rạn xin trình bày một số suy nghĩ về
vấn đề ra đề theo hướng “mở” để nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn văn ở
trường THPT. Mặc dù rất cố gắng nhưng kinh nghiệm, khả năng còn hạn chế, những
ý kiến tôi trình bày ở đây chắc chắn còn nhiều điều cần bàn và có thể chưa thật sâu
sắc, rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý đồng nghiệp gần xa!
II/ Phạm vi triển khai thực hiện.
Chuyên đề “Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn văn từ hướng ra đề “mở”,
đã được trình bày trong hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy – học” cấp trường tổ
chức vào tháng 11/2012 và được triển khai thực hiện trong tổ chuyên môn trong thời
gian qua.
III/ Mô tả sáng kiến
1/ Những thuận lợi và khó khăn
- Được Sở GD&ĐT quan tâm, chỉ đạo và có những chính sách cụ thể đối với
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi;
- BGH nhà trường luôn định hướng việc bồi dưỡng học sinh giỏi là phát huy
năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài; đã có những kế hoạch cụ thể cho công việc bồi
dưỡng học sinh giỏi; đã tạo điều kiện cho giáo viên tham gia công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi, tuyên dương khen thưởng kịp thời cho giáo viên và học sinh….
- Một số chủ trương thay đổi về quyền lợi của học sinh đạt giải quốc gia được
tuyển thẳng vào các trường đại học nên tinh thần học tập của học sinh nhiệt tình hơn.
nham hiểm đến thế, không thời đại nào là không có chúng. Đức Thái Tổ Cao Hoàng
để ta lấy được thiên hạ, nhiều phen xuống chiếu cầu hiền mà không có một ai ứng
tuyển, trong khi ấy thì bọn Xảo, bọn Hãn ngẫm nuôi mưu gian. Trẫm từ khi lên ngôi
tới nay, gắng sức trị nước thế mà việc chọn nhân tài vẫn mịt mờ, thăm thẳm. Bọn
Ngân, bọn Sát lại gian ngoan chứa ác. Sao người quân tử khó tìm, kẻ tiểu nhân khó
biết như vậy?
Các người hãy đem hết hiểu biết của mình trả lời, trẫm sẽ đích thân xem xét.
Còn đây là đề thi Đình (năm 1871):
Trẫm thường đọc sách Luận ngữ đến chỗ Tử Cống hỏi về chính sự, Khổng Tử
nói rằng: “đủ lương thực, đủ binh lính, dân tin theo vậy” Nhân nghĩ công việc hiện
nay, không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện được điều đó thì sự lựa
chọn người tốt lại quan trọng hơn cả.Trẫm từng đêm ngày lo nghĩ mà vẫn chưa đạt
được hiệu quả mong muốn. Đông đảo kẻ sĩ các người lúc mới xuất thân ắt hẳn có cơ
sở học kinh bang tế thế. Vậy thì những loại việc thiết thực như vậy, suy từ cổ chí
kim, nghĩ thế nào, làm thế nào để có công hiệu, hãy nói hết với trẫm. Các người chớ
Nguyễn Mạnh Thắng
2
Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở”
lặp lại ý người khác, chớ bàn phù phiếm, trẫm cũng bất tất phải nói nhiều để các
người có thời giờ rộng rãi, nói được hết ý nghĩa, xứng với ý muốn của trẫm.
(Nguồn: Báo văn nghệ)
Đọc các đề trên nhận thấy đề bài có tính độc lập rất cao, đòi hỏi người viết
phải thực sự độc lập, chủ động, sáng tạo và có một năng lực lập luận chặt chẽ, súc
tích mới có sức thuyết phục và đạt kết quả cao.
Hay đây là văn Trung Quốc năm 2009:
Đọc đề bài dưới đây:
“Tế vũ thấp y khan bất kiến. Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh (tạm dịch: Mưa
Để nâng cao tính chủ động, sáng tạo và rèn luyện kỹ năng cho học sinh, trong
quá trình bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, bên cạnh việc ra những đề bài để kiểm
tra, rèn luyện kỹ năng giải quyết một vấn đề có hai mặt vừa thống nhất vừa khác biệt
bổ sung cho nhau hay những đề bài yêu cầu viết theo chủ đề hoặc những vấn đề xã
hội đặt ra từ trong tác phẩm văn học. Ví dụ như:
+ Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan đẹp nhất là trái
tim của người mẹ”.
Ý kiến của anh/chị về câu nói trên?
+ “Cuộc sống cần nghỉ ngơi, cuộc sống không ngơi nghỉ”
Ý kiến của anh, chị.
+ Trong một bài tổng hợp có nhan đề “Những nghịch lí trong thời đại chúng
ta” nghịch lí số 10 được phát hiện: “Chúng ta có thể bay lên mặt trăng rồi bay trở về
trái đất nhưng chúng ta lại ngại bước qua con phố để rẽ vào nhà hàng xóm”.
Anh (chị) suy nghĩ gì về nghịch lí trên ?
+ Từ lối sống “vội vàng” trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, anh chị
trình bày những suy nghĩ của mình về lối sống “vội vàng” của một bộ phận tuổi trẻ
ngày nay.
+ Từ cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao (Đoạn trích SGK Ngữ văn 11, nâng cao), anh chị bàn về sức mạnh của
tình thương.
+ Ngạn ngữ Nga có câu “Đối xử với bản thân bằng lí trí, đối xử với người
khác bằng tấm lòng”.
Ý kiến của anh/chị về câu nói trên?
+ Anh, chị viết bài văn với chủ đề: sự im lặng.
+ Lấy “đôi tay” làm nhan đề cho bài viết của em.
Nguyễn Mạnh Thắng
4
mở để đi vào tâm hồn học sinh một cách tự nhiên, qua đó, góp phần rất lớn vào việc
nâng cao kỹ năng làm văn cho học sinh. Chẳng hạn với đề bài: Điều em muốn nói
với tôi, sau thời gian 90 phút làm bài kiểm tra trên lớp, tôi đã nhận được những bài
Nguyễn Mạnh Thắng
5
Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở”
viết chân thành bộc lộ những tình cảm suy nghĩ dạt dào cảm xúc của học sinh. Có
em thì viết về mẹ đầy cảm xúc, em thì “tâm sự” với tôi, “góp ý” cho tôi về công tác
giảng dạy bằng những lời, câu văn đầy chân thành...Theo đó, qua những lần kiểm
tra, kỹ năng hành văn, lập luận của học sinh từng bước được cải thiện, cũng qua đây
chẳng những tôi thấu hiểu hơn về đời sống tâm hồn, suy nghĩ tình cảm của các em
để thêm gần gũi, sẻ chia mà tôi còn nhận được những lời tâm sự chân thực đến
không ngờ để điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình phù hợp và hiệu quả hơn.
* Kiểu đề cho học sinh đọc một câu chuyện ngắn, hay xem một đoạn
phim, clip rồi yêu cầu học sinh trình bày những suy nghĩ của mình về một vấn
đền cụ thể đặt ra.
Để xây dựng được những kiểu đề này, tôi thường sưu tầm những câu chuyện
ngắn, có ý nghĩa, đặc biệt sưu tầm các clip của chương trình “1 phút có trong sự
thật” đang phát sóng hàng ngày vào lúc 18h53’ – 18h55’ từ thứ 2 đến thứ 6 trên kênh
VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam. Những vấn đề được “1 phút có trong sự thật” đề
cập thuộc các đề tài gần gũi hàng ngày với mỗi người chúng ta như: phát triển kinh
tế, đô thị hóa và mặt trái của nó; tình trạng đói nghèo, các vấn đề về môi trường,
giáo dục, nạn bạo hành trong gia đình, tình trạng thất nghiệp, các hoạt động từ thiện,
nhân đạo, những tấm gương vượt qua khó khăn của hoàn cảnh và số phận…Sau đó
trình chiếu (có kèm theo một vài thuyết minh nếu cần thiết) cho học sinh xem và yêu
cầu học sinh phát biểu suy nghĩ của mình về vấn đề đặt ra trong clip đó.
Đây là một số đề tôi đã ra để kiểm tra, đánh giá học sinh:
trăm đứa trẻ trở thành mồ côi chỉ qua một đêm thiên nhiên nổi giận. (Đây là nội
dung trong clip một phút có trong sự thật)
Suy nghĩ của em.
+ Hàng chục năm sau hòa bình lập lại, chiến tranh tưởng đã lùi sâu vào quá
khứ nhưng vẫn còn đó những vết tích của cuộc chiến năm xưa, vẫn còn đó những
nỗi đau không bao giờ phai nhạt. Đó là người con không được biết mặt cha từ khi
chào đời, đó là người mẹ tiễn con ra chiến trường rồi các anh đã nằm lại mãi mãi,
đó còn là người phụ nữ mòn mỏi chờ cả tuổi thanh xuân mà người thương không có
ngày trở về. (Đây là nội dung trong clip một phút có trong sự thật)
Cảm nhận của em về nội dung clip trên.
Đây là những đề “mở”, tùy vào sự cảm nhận của mình về nội dung trong câu
chuyện, đoạn clip, các em có những cách trình bày cảm nghĩ và lựa chọn thể thức
trình bày phù hợp. Chính vì vậy, cùng một vấn đề nhưng mỗi em lại có bài viết khác
nhau. Chẳng hạn, cùng một nội dung nói về những nỗi đau của chiến tranh trong
đoạn clip trên, có em trình bày suy nghĩ về tình thương vô bờ của người mẹ, có em
lại tưởng tượng nhập vai là người vợ mòn mỏi trông chồng trở về sau ngày đất nước
độc lập, em thì kịch liệt phê phán chiến tranh bằng những dẫn chứng, lập luận chặt
chẽ, súc tích...
b/ Đối với nghị luận văn học.
Theo dõi hướng ra đề thi học sinh giỏi các cấp, nhất là đề thi học sinh giỏi
vòng tỉnh trong những năm qua, nhìn chung, tinh thần nhất quan của đề thi là ra bám
sát theo chương trình, đề thường có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận
văn học và cảm thụ văn chương. Từ nhận thức đó, trong quá trình bồi dưỡng học
sinh giỏi tại trường, tôi thường chú ý rèn luyện kỹ năng cho học sinh thông qua
những đề kiểm tra đánh giá để rèn luyện khả năng cảm thụ một tác phẩm văn
Nguyễn Mạnh Thắng
7
Vi nhng bi trờn, tụi kim tra c hc sinh v kin thc vn hc, kh
nng nhn din , s dng kin thc vn hc gii quyt mt vn vn hc;
kim tra c kin thc v lớ lun vn hc, lch s vn hc...
Nguyn Mnh Thng
8
Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở”
Bên cạnh đó, để nâng cao, mở rộng kiến thức cho học sinh, cũng như rèn
luyện kỹ năng nhận diện đề, lựa chọn, sử dụng kiến thức văn học, lịch sử văn học để
làm sáng tỏ một vấn đề văn học, tôi thường ra những loại đề ngắn gọn, không có câu
mệnh lệnh và không có yêu câu cụ thể. Đề bài thường những vấn đề rộng, ví dụ như:
+ Những giọt nước mắt trong văn học.
+ Vầng trăng trong thi ca.
+ Thiên nhiên trong “thơ mới”.
+ Người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh
Quan, Đoàn Thị Điểm.
+ Người lính trong văn học cách mạng.
+ Những dòng sông trong văn học.
+ Vẻ đẹp sử thi trong văn học cách mạng.
+ “Cái nhìn đa chiều” trong văn học sau 1975 qua hai tác phẩm “Chiếc thuyền
ngoài xa”(Nguyễn Minh Châu) và “Một người Hà Nội” (Nguyễn Khải).
Đây là những dạng đề khó, để làm được, đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến
thức sâu, rộng về văn học, đặc biệt phải biết lựa chọn, sử dụng kiến thức hợp lí nếu
không dẫn đến sự lan man, thiếu trọng tâm khi triển khai bài viết. Đồng thời, các em
phải biết vận dụng các thao tác lập luận: phân tích, bình luận, tổng hợp…để giải
quyết vấn đề. Chẳng hạn đối với đề bài: Vầng trăng trong văn học, đòi hỏi học sinh
phải phân tích, chứng minh, khái quát được: Trăng trong văn học trung đại; Trăng
đối với người phụ nữ; Trăng đối với chí sĩ cách mạng; Trăng với các nhà thơ mới;
viết.
+ Mạnh dạn cho điểm cao ở những bài viết chân thực, có cảm xúc, sáng tạo,
khả năng tư duy, khái quát tốt.
IV/ Kết quả và hiệu quả mang lại
Công tác đổi mới đề kiểm tra đánh giá học sinh trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Ngữ văn đã đươc tôi thực hiện từ năm học 2010-2011. Từ khi áp dụng
biện pháp ra đề theo hướng “mở” như đã trình bày ở trên, chất lượng bồi dưỡng học
sinh giỏi môn Ngữ văn từng bước được nâng lên, kết quả khả quan hơn. Cụ thể:
+ Năm học 2010-2011 có 3 học sinh đạt giải vòng tỉnh, trong đó có 01 giải ba
và 02 giải khuyến khích.
+ Năm học 2011-2012 có 5 học sinh đạt giải vòng tỉnh, trong đó có 03 giải ba
và 02 giải khuyến khích và có 01 học sinh được chọn vào đội tuyển tham dự kỳ thi
chọn học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ văn.
+ Năm học 2012-2013 có 4 học sinh đạt giải vòng tỉnh, trong đó có 02 giải ba
và 02 giải khuyến khích và có 01 học sinh được chọn vào đội tuyển tham dự kỳ thi
chọn học sinh giỏi quốc gia môn Ngữ văn.
V/ Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến
Nguyễn Mạnh Thắng
10
Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở”
“Nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn từ hướng ra đề “mở” đã
được áp thực hiện nhiều năm, được báo cáo trong hội thảo đổi mới phương pháp dạy
– học tại trường và trong tổ chuyên môn Văn – GDCD của Trường THPT Thới
Bình. Từ thực tế cho thấy việc đổi mới ra đề kiểm tra đánh giá theo hướng “mở” có
vai trò vô cùng quan trọng. Đây sẽ là đòn bẩy thúc đẩy nâng cao chất lượng công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng và chất lượng môn văn trong nhà trường nói
chung.