ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ HOẠT
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ
CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
PHẠM THỊ HOẠT
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ
CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN TỪ NĂM 1965 - 1975
Chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS HOÀNG HỒNG
Hà Nội - 2013
CHƢƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN GIAI ĐOẠN 1971-1975................... 58
2.1. Chủ trƣơng của Đảng và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây
về xây dựng và củng cố chính quyền giai đoạn 1971-1975. ............... 58
2.1.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương chung của Đảng. ................. 58
2.2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây. .......................................... 65
2.2. Qúa trình chỉ đạo xây dựng và củng cố chính quyền của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây giai đoạn 1971- 1975. .................................................. 69
2.2.1. Chỉ đạo bầu cử Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính các cấp
và củng cố hoạt động của chính quyền địa phương. ............................... 69
2.2.2. Củng cố lực lượng vũ trang. ............................................................ 77
2.2.3. Công tác tổ chức đào tạo cán bộ....................................................... 80
Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU.... 88
3.1. Thành tựu và hạn chế .................................................................... 88
3.1.1. Thành tựu. ........................................................................................... 88
3.1.2.Hạn chế. ................................................................................................ 91
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu. ........................................................ 94
KẾT LUẬN. ............................................................................................... 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO. ..................................................................... 102
PHỤ LỤC
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.
CTQG : Chính trị Quốc gia.
HTX : Hợp tác xã.
các tỉnh thành trong cả nƣớc phối hợp thực hiện. Nghiên cứu và tìm hiểu
vấn đề xây dựng chính quyền là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3
Với mong muốn góp phần làm rõ nội dung quan trọng trong Lịch sử
Đảng bộ Hà Tây trong thời gian qua, đồng thời qua đó rút kinh nghiệm để
từ đó việc Hà Tây cũ nay đƣợc sáp nhập vào Hà Nội sẽ thực sự có bƣớc
chuyển mình quan trọng, góp phần xây dựng sự nghiệp chung của thủ đô.
Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài của mình là: “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh
đạo xây dựng và củng cố chính quyền giai đoạn 1965 - 1975” làm luận văn
thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng với hy vọng đóng góp phần nhỏ vào
quá trình xây dựng quê hƣơng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền cách
mạng ở nƣớc ta nói chung và ở Hà Tây nói riêng đến nay đã có nhiều công
trình đề cập đến với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau.
Một số các công trình nhƣ : các bài viết của Hồ Chí Minh trong toàn
tập: “Những nhiệm vụ cấp bách của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”,
“Gửi các Uỷ ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, làng”, “Về Đảng cầm
quyền” (nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2001): Phạm Văn Đồng
“Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam” (nxb Sự Thật, Hà Nội, 1980): Đỗ
Mƣời: “Xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, thành tựu và đổi mới” (nxb
Sự Thật, Hà Nội, 1991). Những tác phẩm này đề cập tới quan điểm đƣờng
lối xây dựng chính quyền có tính định hƣớng.
Một số sách chuyên luận, chuyên khảo có đề cập tới vấn đề chính
quyền nhƣ : PGS. Lê Mậu Hãn, PGS Nguyễn Văn Thƣ: “ Lịch sử quốc hội
Việt Nam 1956-1960” (nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994); PGS Lê
Mậu Hãn (chủ biên) : “Lịch sử quốc hội Việt Nam 1960-1976” (nxb Chính
* Đối tƣợng nghiên cứu:
* Phạm vi nghiên cứu:
- Các chủ trƣơng, biện pháp xây dựng củng cố chính quyền của Đảng bộ
Hà Tây trong những năm 1965 đến 1975.
5
- Các hoạt động thực hiện xây dựng củng cố chính quyền ở tỉnh Hà Tây
trong những năm 1965 đến 1975.
- Về nội dung: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Hà Tây đối với việc
xây dựng hệ thống chính quyền, cũng nhƣ những kết quả, kinh nghiệm
trong sự lãnh đạo của công tác này.
- Về thời gian: Từ 1965, miền Bắc “vừa sản xuất vừa chiến đấu” đến
năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng tiến tới thống nhất đất nƣớc.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Tây bao gồm 12 huyện, 324 xã,
thị trấn.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
* Cơ sở lý luận:
Những quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lê nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề chính quyền
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
* Nguồn tài liệu:
Các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc liên quan đến vấn đề xây dựng chính
quyền, các văn kiện của Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân
tỉnh Hà Tây là những nguồn tài liệu quan trọng nhất. Ngoài ra, luận văn
còn sử dụng nguồn tài liệu từ những công trình nghiên cứu có liên quan.
* Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp lôgic và sự kết
hợp hai phƣơng pháp đó. Cụ thể: ở phần mô tả, trình bày diễn biến, luận
Phạm Thị Hoạt.
7
năm
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
CHÍNH QUYỀN GIAI ĐOẠN 1965-1971.
1.1. Khái quát về tỉnh Hà Tây và vấn đề xây dựng, củng cố chính
quyền ở tỉnh Hà Tây trƣớc năm 1965.
1.1.1. Khái.quát về tỉnh Hà Tây.
Hà Đông và Sơn Tây là hai tỉnh đƣợc thành lập từ thời Pháp thuộc và
đƣợc duy trì nguyên trạng cho tới đầu năm 1965. Trƣớc yêu cầu của tình
hình mới, ngày 10/4/1965, Ban thƣờng vụ Quốc hội đã phê chuẩn quyết
định số 103-NQ/TVQH về việc hợp nhất hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây
thành một tỉnh thống nhất lấy tên là tỉnh Hà Tây, tỉnh lỵ là thị xã Hà Đông.
Khi đất nƣớc đƣợc hòa bình thống nhất, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã
hội Hà Tây lại sáp nhập với tỉnh Hòa Bình thành một tỉnh lấy tên là Hà
Sơn Bình vào năm 1976. Tiếp đó, theo kế hoạch xây dựng và bảo vệ thủ đô
Hà Nội năm 1979, một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình bao gồm 6 huyện, thị
đã cắt chuyển về Hà Nội là Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phƣợng,
Hoài Đức, thị xã Sơn Tây.
Thực hiện cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đề ra, Quốc hội khóa
VII đã quyết định chia lại và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh,
thành phố, Hà Sơn Bình lại đƣợc tách ra thành hai đơn vị hành chính là tỉnh
Hà Tây và tỉnh Hòa Bình. Đồng thời năm 1979 các huyện, thị xã đã sáp
sông Hồng.
Nhƣ vậy, ta nhận thấy rằng với vị trí quan trọng không chỉ về mặt kinh
tế mà về mặt quân sự cũng đóng vai trò chiến lƣợc, Hà Tây là vành đai, là
áo giáp của thủ đô Hà Nội, là cầu nối với vùng rừng núi Việt Bắc…Đây
thực sự là điều kiện thuận lợi để Hà Tây khai thác và phát huy thế mạnh
của mình không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc ngoại xâm,
9
mà cho đến nay càng thể hiện vai trò và vị trí của mình trong công cuộc
xây dựng thủ đô giàu đẹp văn minh.
Tổng diện tích tự nhiên của Hà Tây là 2.192,96 km2, trong đó vùng
đồng bằng chiếm 66,4% còn lại là diện tích đồi núi. Với diện tích vùng
đồng bằng chiếm đa số nhƣ vậy tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp, đặc biệt là thâm canh trồng lúa nƣớc. Ngoài ra tận dụng vùng
diện tích đồi núi, các vùng bán sơn địa để gieo trồng hoa màu và các loại
cây công nghiêp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc. Khi nói đến rừng ở Hà
Tây, ta không thể không nhắc đến rừng quốc gia Ba Vì - là nơi hội tụ nhiều
loại cây gỗ quý, thuốc và một số loài động vật quý hiếm, còn có giá trị
trong việc phát triển ngành du lịch của vùng.
Về dân số Hà Tây theo đợt tổng điều tra dân số ngày 1/4/1974 của tỉnh
nhƣ sau: tính đến 0 giờ ngày 1/4/1974 dân số của tỉnh Hà Tây là 1.971,211
ngƣời. Trong đó cƣ dân thành thị chiếm 4,83%, cƣ dân nông thôn chiếm
95,17% trong đó ngƣời kinh chiếm đa số, ngoài ra còn có các dân tộc khác
nhƣ: Tày, Thái, Nùng. Về mặt tín ngƣỡng tôn giáo thì có 4 tôn giáo nhƣ:
đạo phật, thiên chúa giáo và đạo cao đài.[ 15, 5]
Hà Tây đƣợc coi là đất “trăm nghề”, có thể nói rằng sự phát triển của
thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế
của tỉnh. Toàn tỉnh hiện nay có 1.116 làng nghề. Nhắc đến Hà Tây khiến
Không chỉ có vậy Hà Tây còn là mảnh đất của bao anh hùng hào kiệt khác
nhƣ: danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, ngƣời làng Nhị Khê- Thƣờng Tín,
Phan Huy Chú và dòng họ Phan Huy nổi tiếng ở Quốc Oai, Ngô Thì Nhậm
và Ngô Gia Văn Phái ở tả Thanh Oai…
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lƣợc Việt Nam, nhân dân Hà Tây lại
hăng hái đứng lên cầm vũ khí chiến đấu và bảo vệ quê hƣơng đất nƣớc.
Đặc biệt trong những năm 1945-1954 làng Vạn Phúc- Hà Đông đã vinh dự
11
đƣợc Bác Hồ chọn làm nơi tổ chức hội nghị mở rộng và cho ra lời “kêu gọi
kháng chiến toàn quốc” ngày 12/12/1946. Nhận thức rõ vai trò chiến lƣợc
là lá chắn bảo vệ thủ đô Hà Nội - cửa ngõ lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc vào
khu IV, Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây ra sức phấn đấu
hoàn thành nhiệm vụ chung sức cùng nhân dân cả nƣớc làm nên chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội.
Bƣớc vào giai đoạn chống Mỹ cứu nƣớc, Đảng bộ và nhân dân Hà Tây
đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cải cách ruộng đất, khôi phục và phát triển
kinh tế , xây dựng quê hƣơng. Vừa sản xuất vừa chiến đấu, nhân dân Hà
Tây đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chẳng những đã
góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc,
chi viện đắc lực sức ngƣời sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, mà còn
đảm bảo đời sống nhân dân và yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế, xã hội
an ninh trên địa bàn tỉnh. Hình ảnh “cô gái suối Hai”, “Chàng trai cầu
giẽ”,bài ca “chiếc gậy Trường Sơn” từ Ứng Hòa và phong trào “Ba đảm
đang” trên quê hƣơng Đan Phƣợng đã trở thành biểu tƣợng sống cho tinh
thần và ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Đảng bộ và nhân
dân tỉnh Hà Tây.
1.1.2. Khái quát về xây dựng và củng cố chính quyền ở tỉnh Hà Tây
hoại, lật đổ chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Nhƣ vậy không chỉ về mặt quân sự mà cả về chính trị, kinh tế - văn
hóa - xã hội, chính quyền cách mạng nhân dân ta đang đứng trƣớc những
thử thách nghiêm trọng, có nguy cơ bị lật đổ, nền độc lập vừa giành đƣợc
có thể bị xóa bỏ.
Đứng trƣớc tình hình đó, Trung ƣơng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề
ra những chiến lƣợc và sách lƣợc tài tình, lãnh đạo nhân dân ta vƣợt qua tình
13
thế hiểm nghèo giữ vững thành quả đã đạt đƣợc, để tiếp tục đƣa cách mạng
tiến lên. Nhiệm vụ xây dựng chính quyền nhân dân trở thành nhiệm vụ chung
của cách mạng Việt Nam kể từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn này, ở hai tỉnh Hà Đông - Sơn Tây, những ngày đầu
cách mạng mới thành công cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nạn đói ngay từ
đầu năm 1945 vẫn chƣa dứt, lại thêm nạn vỡ đê trầm trọng ở Bất Bạt và vỡ
đê ở Đông Lao (Hoài Đức). Nƣớc lũ sông Hồng vẫn lên cao làm nhiều chỗ
triền đê ở Bất Bạt và Phú Xuyên bị sạt lở. Tiếp sau lũ lụt, dịch tả, dịch sốt
định kỳ phát sinh ở nhiều nơi. Các tệ nạn xã hội cũ để lại rất nặng nề, đời
sống nhân dân gặp khó khăn về nhiều mặt.
Bộ máy chính quyền từ tỉnh đến xã mới đƣợc thành lập nhìn chung còn
rất bỡ ngỡ, lúng túng trong hoạt động. Nhiều thôn xã phong trào mới đƣợc
thành lập trong những ngày khởi nghĩa tháng Tám, ở những nơi này, sự
giác ngộ về chính trị của nhân dân và của cán bộ còn rất có hạn. Không ít
những thôn xã thành phần trong chính quyền còn chƣa đƣợc chọn lọc kỹ
nên bọn phản động, hòa lý cũ đã chui vào trong ủy ban nắm giữ những
chức vụ chủ chốt nhƣ ở Hiệp Hạ, Sơn Lộ (Quốc Oai), Từ Châu ( Thanh
Oai), Đông Cựu (Chƣơng Mỹ), Tuy Lai ( Mỹ Đức)…Huyện Thƣờng Tín
có 5 lý trƣởng giữ chức vụ chủ tịch ủy ban cách mạng lâm thời xã đã dựa
dân đảng nhƣ Lã Bá Huynh ở Hà Đông và Đan Hải ở Sơn Tây. Nguyễn Hải
Thần nhân danh là phó chủ tịch lâm thời đã lên Sơn Tây tuyên truyền, vận
động bầu cử cho bọn phản động. Trong bối cảnh nhƣ vậy, Đảng, Chính
quyền, Mặt trận Việt Minh ở hai tỉnh một mặt tôn trọng quyền tự do ứng cử
của cử tri, một mặt đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm làm cho nhân
dân hiểu hết ý nghĩa của cuộc bầu cử, nâng cao nhận thức nhíệm vụ chính
trị và trách nhiệm của công dân trong việc lựa chọn đại biểu xứng đáng vào
Quốc hội.
15
Sau cuộc bầu cử Quốc hội, một số cán bộ, nhân sĩ, trí thức của hai tỉnh
Hà Đông và Sơn Tây đã vinh dự đƣợc trở thành đại biểu Quốc hội. Thắng
lợi của cuộc bầu cử Quốc hội ở hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây đã góp phần
vào thắng lợi chung của cả nƣớc, là một đòn giáng mạnh vào âm ƣu chia rẽ
dân tộc, lật đổ chính quyền cách mạng của các thế lực đế quốc và bọn phản
động tay sai.
Tháng 4/1946, theo quyết định của Quốc hội và Chính phủ, các địa
phƣơng tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh và xã trên cơ sở
đó cử ra Uỷ ban hành chính các cấp. Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Hà
Đông và Sơn Tây đã lãnh đạo nhân dân hai tỉnh bầu cử Hội đồng nhân dân
tỉnh và xã. Sau đó Hội đồng nhân dân đã bầu ra Uỷ ban hành chính các cấp,
thay cho Uỷ ban nhân dân lâm thời ra đời trong cách mạng tháng Tám.
Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã, ở hai tỉnh Hà Đông và Sơn
Tây đã giành đƣợc những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, các đại biểu Hội
đồng nhân dân đều đã đƣợc chọn lọc, có chất lƣợng, đảm bảo vai trò lãnh
đạo của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, đồng thời cũng thể hiện đƣợc tính
chất đại diện cho các tầng lớp nhân dân. Trên cơ sở đó Uỷ ban hành chính
các cấp cũng đƣợc củng cố một bƣớc. Ở Hà Đông, cử nhân Trần Trọng
lợi cho cán bộ, đảng viên bám đất bám dân để gây dựng lại phong trào.
Trong thời gian này toàn tỉnh đã gây dựng đƣợc 702 gia đình cơ sở, 1416
thanh niên cứu quốc. Qua rèn luyện thử thách, 86 quần chúng tham gia tích
cực đã đƣợc kết nạp vào đảng.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ hai vào tháng 2/1951
đã quyết định đƣa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động
Việt Nam. Đây là một thuận lợi lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta
nói chung và đối với Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây
nói riêng.
Nhìn chung công tác xây dựng và củng cố chính quyền của hai tỉnh Hà
Đông và Sơn Tây từ bộ máy chính quyền tỉnh đến xã từng bƣớc đƣợc củng
17
cố. Tác phong làm viêc của cán bộ cũng nhƣ lề lối làm việc đƣợc điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Tính chất dân chủ nhân dân của
chính quyền đƣợc thể hiện rõ nét, chính quyền các cấp còn thƣờng xuyên
phê bình và tự phê bình, thực sự cầu tiến nên nhân dân ngày càng tin tƣởng
vào sự lãnh đạo của Đảng và Chính quyền. Chính vì vậy mà mối quan hệ
giữa chính quyền với nhân dân ngày càng thêm gắn bó.
Sau khi hiệp định Giơne đƣợc kí kết (22/7/1954), cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi. Từ đây nhân
dân miền bắc nói chung, nhân dân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây nói riêng
đƣợc giải phóng và bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thƣơng chiến tranh
khôi phục và từng bƣớc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội làm hậu thuẫn
cho cuộc đấu tranh thống nhất nƣớc nhà.
Đến tháng 4/1964 nhân dân hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây đã tiến hành
bầu cử Quốc hội, nhằm cử những đại diện tiêu biểu của nhân dân hai tỉnh
vào bộ máy lãnh đạo chung của cả nƣớc và nói lên tiếng nói của nhân dân.
Tổng số đại biểu của hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây trúng cử là 24 ngƣời,
Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng vì đó là “vấn
đề quyết định tất cả mọi cái trong sự phát triển của cách mạng”.[ 18,54]
Trong lịch sử nƣớc ta ghi dấu sự tranh đấu anh dũng của biết bao thế
hệ, bằng cuộc cách mạng tháng Tám nhân dân ta đã giành đƣợc chính
quyền, bằng chính cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã giữ đƣợc
chính quyền và luôn ra sức kiện toàn nó. Kiện toàn chính quyền với nƣớc
ta là làm cho nó mạnh mẽ, sắc bén để chống đế quốc xâm lƣợc và tay sai
của chúng, xây dựng một nƣớc Việt Nam dân chủ, độc lập và giàu mạnh.
Bằng thực tiễn lịch sử đã minh chứng chính quyền nƣớc ta là thành quả của
cách mạng tháng Tám, chính quyền của chúng ta là chính quyền dân chủ
nhân dân. Chính quyền là công cụ cách mạng mạnh mẽ, sắc bén, để thực
hiện chế độ dân chủ nhân dân.
19
Cùng với sự phát triển chung của cách mạng, công tác kiện toàn bộ
máy chính quyền địa phƣơng đƣợc Đảng và Chính phủ ta đặc biệt coi
trọng. Một mặt do yêu cầu chủ quan về mở rộng quyền tham gia quản lý
nhà nƣớc của nhân dân ngày càng cao, mặt khác nhiệm vụ xây dựng, phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội hết sức khó khăn vì vậy cần động viên phát
huy vai trò của nhân dân. Hơn nữa, bộ máy chính quyền địa phƣơng trong
giai đoạn 1965- 1971 chƣa có những thay đổi rõ rệt. Nhiệm vụ đặt ra là
phải tiếp tục kiện toàn và kiên quyết thực hiện việc mở rộng quyền hạn cho
các địa phƣơng, thực hiện nhiệm vụ phân cấp quản lý toàn diện và từng
bƣớc vững chắc.
Đặc điểm chung của bộ máy chính quyền địa phƣơng ở miền Bắc giai
đoạn 1965 – 1971 bao gồm 4 cấp: khu, tỉnh, huyện, xã. Bộ máy chính
quyền địa phƣơng đã thể hiện tốt vai trò của mình trong quá trình đƣa miền
Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ hậu phƣơng
phƣơng cần làm tốt những việc nhƣ sau:
Thứ nhất về công tác tuyên truyền, giáo dục tƣ tƣởng: Việc giáo dục
cho cán bộ và nhân dân thấm nhuần chính sách của Đảng trong việc bầu cử,
nắm đƣợc tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân, hiểu đƣợc quyền lợi
và nghĩa vụ của ngƣời công dân trong việc tham gia quản lý nhà nƣớc, xây
dựng chính quyền và nắm vững nguyên tắc, thể lệ bầu cử…là vấn đề mấu
chốt có tính chất quyết định kết quả bầu cử. Vì vậy, các ngành, các cấp cần
mở đợt học tập tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, công nhân viên, bộ đội,
nhân dân bằng mọi hình thức, mọi phƣơng tiện cho thật sôi nổi khí thế tƣng
bừng phấn khởi trong cán bộ, công nhân viên, nhân dân sẵn sàng làm tròn
nhiệm vụ của đơn vị và của địa phƣơng.
Việc tuyên truyền và giáo dục tƣ tƣởng phải làm liên tiếp từ khi công
bố ngày bầu cử cho tới khi kết thúc cuộc bầu cử, có kế hoạch cụ thể cho
21
từng thời gian, từng bƣớc công tác bằng nhiều hình thức thích hợp…Nội
dung tuyên truyền, học tập phải thiết thực gắn với công tác trọng tâm nhƣ
sản xuất, tình hình thực tế về hoạt động của Hội đồng nhân dân ở địa
phƣơng.
Cần đặc biệt coi trọng việc tổ chức cho Hội đồng nhân dân các cấp
kiểm điểm và báo cáo với cử tri về sự hoạt động của Hội đồng nhân dân
trƣớc khi hết nhiệm kỳ theo nhƣ hƣớng dẫn trong công văn số 04-TC-Hội
đồng nhân dân ngày 3/1/1965, nhằm nâng cao trình độ giác ngộ và ý thức
trách nhiệm của đại biểu và cử tri trong cuộc bầu cử.
Ngoài ra sau ngày bầu cử cần có kế hoạch khuếch trƣơng thắng lợi của
cuộc bầu cử và kết quả của việc kiểm điểm và báo cáo với cử tri về sự hoạt
động của các cấp. Hội đồng nhân dân trong khóa trƣớc, lấy những thắng lợi và
kết quả đó làm nội dung cho việc tuyên truyền trong nhân dân nhằm tăng