®¹i häc quèc gia hµ néi
Trung t©m ®µo t¹o båi d-ìng gi¶ng viªn lý luËn chÝnh trÞ
======================
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VỚI CÔNG TÁC
PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN Ở NÔNG THÔN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG
HÀ NỘI - 2012
đại học quốc gia hà nội
Trung tâm đào tạo bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị
======================
NGUYN TH HI H
NG B TNH HI DNG VI CễNG TC
PHT TRIN NG VIấN NễNG THễN
T NM 2001 N NM 2010
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
M S: 60.22.56
NGI HNG DN: PGS.TS. ON NGC HI
1
2.2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam ......................................... 49
2.2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển đảng viên ở
nông thôn .............................................................................................................. 51
2.2.3. Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo công tác phát triển đảng viên ở
nông thôn .............................................................................................................. 56
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU TỪ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN Ở NÔNG THÔN
TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2010 CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI
DƢƠNG ...................................................................................................... 65
3.1. Nhận xét về công tác phát triển đảng viên ở nông thôn của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2010.............................................. 65
3.1.1. Về ưu điểm ................................................................................................ 65
3.1.2 Một số hạn chế .......................................................................................... 73
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu .............................................................. 79
KẾT LUẬN ................................................................................................. 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 87
PHỤ LỤC.................................................................................................... 92
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chỉ thị số 52CT/TƯ ngày 21/1/2002 của Bộ Chính trị khẳng định: kết
nạp Đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật trong
công tác xây dựng Đảng nhằm tăng cường thêm sức chiến đấu và bảo đảm sự
kế thừa phát triển của Đảng. Đảng là một cơ thể chính trị xã hội sống có quá
cấp, các lĩnh vực ở tất cả các thành phần kinh tế, các dân tộc, các giới, các
vùng miền của đất nước. Có như vậy Đảng mới có được một đội ngũ đảng
viên đều khắp nơi để đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của đảng đối với sự
nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, sau hơn 20 năm
thực hiện đường lối đổi mới, phát huy truyền thống của quê hương, Đảng bộ
tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng trong công tác phát triển đảng viên mới,
toàn Đảng bộ có hơn 90.000 đảng viên, sinh hoạt tại hơn bốn mươi nghìn chi
bộ, thuộc gần 800 chi, đảng bộ cơ sở ở 16 Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy. Các
thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ luôn nêu cao vai trò tiên phong gương
mẫu, không ngại hy sinh gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, kế tiếp nhau
gánh vác và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Đảng và nhân dân giao
phó, nên hàng năm bổ sung vào đội ngũ đảng viên một lực lượng đảng viên
trẻ có sức khỏe, có tri thức và đã tác động tích cực tới các mặt của công tác
xây dựng Đảng và thành tựu chung của công cuộc đổi mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển đảng viên nói
chung và công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn nói riêng còn bộc
lộ những hạn chế và gặp không ít những khó khăn đã ảnh hưởng tới năng lực
và sức chiến đấu của các chi bộ, của tổ chức cơ sở đảng. Vì vậy để thực hiện
thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không ngừng
tăng cường công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn bổ sung một
4
lực lượng hùng mạnh cho chi bộ đảng ở cơ sở, để tất cả các chi bộ thực sự là
hạt nhân lãnh đạo của Đảng làm cho mọi chính sách của Đảng đều được thi
hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng.
Với ý nghĩa đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài“Đảng bộ tỉnh Hải Dương với
công tác phát triển Đảng viên ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010” làm
Trần Thu Thủy với bài “ Kinh nghiệm phát triển đảng viên mười doanh
nghiệp quốc doanh”, tạp chí Xây dựng Đảng số 6, 2003; Nguyễn Văn Sáu với
bài “ Một số giải pháp nâng cao công tác phát triển Đảng”, Xây dựng Đảng
số 6, 2004; Nguyễn Minh Quang với bài “ Lai Châu với công tác xây dựng và
củng cố tổ chức cở sở Đảng”, Tạp chí cộng sản số 790, 2008
Hầu hết các tác giả đều đề cập và giải quyết đến các vấn đề phát triển
đảng nói chung và phát triển đảng trong sinh viên, thanh niên nói riêng và
công tác xây dựng Đảng vững mạnh ở tổ chức cơ sở Đảng. Đó là những bài
báo khoa học đi xâu nghiên cứu từng khía cạnh của công tác xây dựng Đảng,
phát triển đảng viên.
Một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ, đề tài khoa học nghiên cứu về
vấn đề này :
“Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nhân cách sinh viên (mặt văn hóa chính
trị)- Đề tài 93-98-081/ĐT (Phân viện Báo chí và tuyên truyền, Học viện
CTQG Hồ Chí Minh thực hiện, H, 12/1993)
“Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên ở các trường Đại
học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận án tiến sĩ của Nguyễn
Thị Mỹ Trang, (2001).
“Những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tư tưởng chính trị
của sinh viên. Thực trạng và giải pháp”, luận án PTS triết học của Nguyễn
Đình Đức, Hà Nội, (1996)
“Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng viên trong giáo viên phổ thông ở
tỉnh Tiền Giang hiện nay”, luận văn thạc sỹ của lê Quốc Sen (1998)
6
“Nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên mới trong học
viên hệ đào tạo sĩ quan ở các trường thuộc quân chủng phòng không – không
quân trong thời kỳ mới” , luận văn thạc sĩ của Lê Văn Lương (2002);
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010, và
rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu để vận dụng vào giai đoạn mới.
* Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển đảng viên
của Đảng bộ tỉnh Hải Dương nói chung và khu vực nông thôn nói riêng
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Hải Dương về phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn từ năm 2001 đến
năm 2010.
- Nhận xét kết quả, rút ra một số kinh nghiệm đẩy mạnh công tác
phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh ở khu vực nông thôn trong giai đoạn
2001 – 2010.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương..
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Luận văn chủ yếu tập trung làm rõ công tác phát
triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu vực nông thôn: Chủ
trương và sự chỉ đạo.
- Giới hạn thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010.
- Giới hạn không gian: Trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
8
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương và 6 tiết
Chương 1: Yêu cầu khách quan, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Hải Dương về công tác phát triển Đảng viên khu vực nông thôn từ
năm 2001 đến 2006
Chương 2: Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ở khu
vực nông thôn phù hợp với tình hình mới (2006 – 2010)
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình phát triển
đội ngũ đảng viên ở nông thôn từ 2001 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh
Hải Dương
10
Chƣơng 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN, CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG
VIÊN Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2006
1.1 Yêu cầu khách quan phát triển đội ngũ đảng viên
1.1.1 Đặc điểm nông thôn Hải Dương tác động đến công tác phát triển
đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
- Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý, Hải Dương là tỉnh nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ, trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, với diện tích tự nhiên 1.660,9 km2, chiếm
0,26% tổng diện tích tự nhiên cả nước, cách thủ đô Hà Nội 56 km. Các đường
giao thông quan trọng như đường quốc lộ 5A, 18 A, 183, đường sắt nối Hà
Nội - Hải Phòng, nối Quảng Ninh - Hà Nội một phần đi qua tỉnh. Đơn vị hành
chính tỉnh gồm Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam
Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh
Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang.
thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công
nghiệp. Đến hết tháng 10/2011 đã thu hút 350,2 triệu USD vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, trong đó cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 37 dự án ( tăng
9 dự án), tăng 39,2% so với cùng kỳ năm 2010. Ước tính vốn đầu tư thực hiện
của các dự án năm 2011 đạt 300 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 2010.
+ Đặc điểm xã hội, dân số
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2011, tỉnh Hải Dương dân số hơn
1.703.492 người. Trong đó, Mật độ dân số trung bình: 1.044,26 người/km2.
Dân số thành thị: 324.930 người. Dân số nông thôn: 1.378.562 người.
Nam: 833.459 người Nữ: 870.033 người. số người trong độ tuổi lao động xã
hội trong toàn tỉnh là 929.039 người, chiếm 55% dân số. Trên địa bàn tỉnh có
12
10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.646.426 người, chiếm 99,74%; các
dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu có 1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc
Tày có 469 người, chiếm 0,0028%; dân tộc Nùng có 75 người, chiếm
0,0045%; dân tộc Thái có 65 người, chiếm 0,0039%; dân tộc Mông có 17
người, chiếm 0,001%; dân tộc Dao có 27 người, chiếm 0,0016%; dân tộc Thổ
có 21 người, chiếm 0,0012% và các dân tộc khác chiếm 0,213%.
Trình độ dân trí: Tính đến năm 2011 đã phổ cập giáo dục THPT cho
12 huyện, thành phố với tổng số 263 xã, phường, thị trấn; số người trên 15
tuổi trở lên đã qua đào tạo là 41% , (Chủ yếu là đào tạo nghề 31,54%) trong
đó có trình độ đại học trở lên là 2,9%, tăng 1,62% so với 2004, số người tốt
nghiệp cao đẳng là 2,1% tăng 0,97% so với năm 2004 (1,13%), số người tốt
nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 5,8% tăng 2,58% so với 2004
(3,22%), số người có bằng chứng chỉ, công nhân kỹ thuật, nghiệp vụ chiếm
3,2%.
1.1.2. Thực trạng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên của
là một yêu cầu khách quan đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Đảng, là một
điều kiện đảm bảo cho Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng là xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác phát triển Đảng đối với sự
phát triển của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi vận dụng những quan
điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác –Lênin vào việc xây dựng Đảng cầm quyền
đã coi trọng công tác phát triển Đảng viên. Bác nói: “Trong công tác xây
dựng đảng, cái gốc là chi bộ…Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng.
Chi bộ tốt thì mọi chính sách của đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc
đều tiến bộ không ngừng. Trái lại chi bộ kém thì mọi công việc không trôi
chảy” [41, tr. 3 - 5]
14
Nói về vai trò, vị trí của người đảng viên, Bác viết: “Đảng là gồm các
đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của đảng do đảng viên làm. Mọi
nghị quyết đảng do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách đảng đều do đảng
viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của đảng viên
đều do đảng viên cố gắng thực hiện. Vì vậy, Đảng cần làm cho thành phần
đảng viên trong sạch, phải bồi dưỡng và hấp thụ vào Đảng những người tốt
trong giai cấp lao động. Phải nâng cao trình độ lý luận và chính trị của đảng
viên. Phải tăng cường tính kỉ luật của đảng viên. Phải phát triển tính hăng hái
và hoạt động chính trị của đảng viên’’[41, tr. 235 - 236].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò to lớn của đội ngũ đảng
viên. Người thường xuyên quan tâm tới giáo dục, bồi dưỡng độ ngũ đảng viên
kế tục cách mạng vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Vì theo Ngừơi đảng viên tốt thì
đảng mới mạnh. Đảng mạnh thì mới hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
Trong công tác phát triển Đảng , Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công
trách, nhiệm vụ được giao phó.
Đảng ta cũng chỉ rõ: Người đảng viên phải có trình độ hiểu biết về lý
luận, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước,
có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu
quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Trong quá trình phát triển và lãnh đạo, Đảng không ngừng nâng cao số
lượng, chất lượng đảng viên. Trung ương Đảng đã ra nhiều chỉ thị nêu rõ vị
trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đảng viên, nâng cao chất lượng đảng
viên. Bộ Chính trị nhấn mạnh: kết nạp đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên,
có ý nghĩa quan trọng của công tác xây dựng Đảng để tăng sức chiến đấu và
bảo đảm sự kế thừa phát triển của Đảng. Do đó luôn côi trọng chất lượng,
không chạy theo số lượng, trẻ hóa đội ngũ đảng viên.
16
Từ sự phân tích ở trên, chúng ta thấy người đảng viên có vai trò rất lớn
trong quá trình xây dựng Đảng. Do đó, công tác phát triển đảng viên cần thực
hiện nghiêm túc trong toàn Đảng và trong các tổ chức cơ sở Đảng.
- Thực trạng của đội ngũ đảng viên ở khu vực nông thôn tỉnh Hải
Dương trước 2001
Sau ngày đất nước được giải phóng, những hậu quả chiến tranh và các
tệ nạn của xã hội cũ đã làm cho toàn bộ vùng nông thôn Việt Nam nói chung
và tỉnh Hải Dương nói riêng gặp phải nhiều khó khăn về mọi mặt.
Đảng bộ các khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trải qua kháng chiến
ác liệt đã trưởng thành nhanh chóng về tư tưởng phẩm chất, về công tác lãnh
đạo, nhưng số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ còn nhiều
thiếu sót nhất là mất đoàn kết trong nội bộ, trình độ giác ngộ chính trị, năng
lực quản lý kinh tế của cán bộ đảng viên còn thấp, một số cấp ủy đảng chưa
thực sự quan tâm đến công tác xây dựng củng cố Đảng cũng như phát triển
đồng, dân số kế hoạch hóa gia đình, phong trào đền ơn đáp nghĩa…
Các đảng bộ ở khu vực nông thôn còn là nơi chăm lo đào tạo, bồi
dưỡng, lựa chọn đội ngũ cán bộ để đưa ra giới thiệu để bầu hoặc bổ nhiệm
vào các cơ quan trong hệ thống chính trị ở cơ sở; lãnh đạo và thực hiện việc
kiểm tra giám sát đối với chính quyền cơ sở, Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân; lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, ngăn ngừa tiêu cực, biểu
dương khen thưởng kịp thời các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt.
Bên cạnh đó, thực trạng về đội ngũ đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng ở
khu vực nông thôn còn nhiều yếu kém và bất cập, số lượng đảng viên còn quá
ít, nhiều thôn làng chưa có đảng viên. Tình trạng đảng viên có trình độ học
vấn thấp, trình độ chính trị thấp, tỏ ra “ngại” học chính trị, chủ trương chính
sách, pháp luật của nhà nước. Một số đảng viên vi phạm kỉ luật vẫn chưa bị
xử lý kip thời làm ảnh hưởng uy tín của người đảng viên cộng sản.
18
Từ thực tiễn nêu trên, có thể nhận thấy tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ
đảng viên ở khu vực nông thôn tỉnh Hải Dương trước năm 2001 có những đặc
điểm sau:
- Số lượng đảng viên của các đảng bộ khu vực nông thôn chiếm đại đa
số đảng viên trong toàn tỉnh; đảng bộ ở khu vực nông thôn trực tiếp tiến hành
các hoạt động lãnh đạo và xây dựng nội bộ Đảng, nơi gắn bó mật thiết với
nhân dân lao động.
- Thông qua các đảng bộ ở khu vực nông thôn, Đảng trực tiếp lãnh đạo
nhân dân lao động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của nhà nước, đóng góp kinh nghiệm quý báu cho Đảng.
- Các Đảng bộ ở khu vực nông thôn là hạt nhân lãnh đạo chính trị và
giải quyết mọi vấn đề phát sinh ở cơ sở theo quan điểm của Đảng, lập trường
giai cấp công nhân. Có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn
viên mới, đặc biệt là khu vực nông thôn.
Tiêu chuẩn đảng viên ở khu vực nông thôn được coi trọng như phải sản
xuất giỏi, đạo đức tốt…vì họ là người đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất vào công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, có tư duy kinh tế, dám nghĩ dám làm,
biết làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội.
Sau quá trình thực hiện chính sách phát triển đảng viên từ năm 1997
đến năm 2000, tỉnh đã đạt được những thành tích đáng kể:
Về phát triển cơ sở đảng
Năm 1997 có trên 60% Đảng bộ xã, thị trấn, phường đạt trong sạch
vững mạnh, đến năm 2000, có 551 cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh,
bằng 68,4% tổng số cơ sở đảng trong đó có 320 cơ sở thuộc khu vực nông
thôn, tăng 8,2% so với năm 1999, tăng 23,8% so với năm 1997, tăng 38% so
với năm 1995 [35, tr. 5]. Ngoài ra còn có rất nhiều đảng bộ xã trong sạch
20
được Tỉnh ủy tặng cờ. Điển hình là Đảng bộ các xã Hưng Thịnh, Tráng Liệt,
Cổ Bì, Hùng Sơn, Thanh Miện.
Về phát triển đội ngũ đảng viên
Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ đã tăng lên rõ rệt cả về số lượng và
chất lượng. Năm 1997 toàn tỉnh Hải Dương đã kết nạp được 2.142 đảng viên
mới, tăng 26,9% so với năm 1996. Trong đó nông dân có 824 đảng viên đạt tỉ
lệ 38% tổng số đảng viên mới. Do làm tốt công tác kết nạp đảng viên, khu vục
nông thôn tỉnh Hải Dương không có thôn, làng nào không có đảng viên. Năm
1999 toàn tỉnh đã kết nạp được 2.515 đảng viên mới tăng 4% so với năm
1998, trong đó nông dân có 901 đảng viên, và 1.131 đảng viên nữ đạt tỉ lệ
44%, là đoàn viên Thanh niên đảng Cộng sản Hồ Chí Minh 1.568 đạt tỉ lệ
62%; có trình độ cấp III là 2042 bằng 81%. Trong đó có trình độ Cao đẳng,
khiển trách 1.058 [50, tr. 25].
Sau khi có kế hoạch hướng dẫn của Bộ Chính trị, tỉnh ủy Hải Dương đã
thành lập ban chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6(lần 2)
đồng thời có kế hoạch chỉ đạo cấp ủy Đảng tổ chức triển khai quán triệt nhanh
tinh thần Nghị quyết và kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Từ đầu tháng 3/1999,
Ban thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng tình
hình tổ chức đảng và đảng viên nội dung sinh hoạt chính trị, tự phê bình và
phê bình trong Đảng. Kết quả bước đầu có sự chuyển biến trong các cấp ủy,
đảng viên và nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị, tạo sự nhất trí cao trong
cán bộ, đảng viên, sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân.
Thông qua kiểm điểm cán bộ, đảng viên thể hiện trách nhiệm cao, với ý
thức xây dựng chân thành thẳng thắn tự phê bình và phê bình, kiểm điểm cá
nhân và tập thể ở số đông cơ sở đảng đã gắn với việc thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở đã kết hợp giải quyết các vấn đề nổi cộm. Hầu hết các đảng viên
22
trong toàn Đảng bộ đã nghiêm túc chuẩn bị bản kiểm điểm nêu ưu, khuyết
điểm rõ ràng và tiếp thu góp ý của các đảng viên khác, quần chúng.
Đảng viên tham gia phân tích chất lượng (sau khi kết thúc kiểm điểm
đảng viên) là 66.519 bằng 86% tổng số đảng viên toàn tỉnh (30/6/2000). Đảng
viên được xếp loại đủ tư cách phấn đấu tốt là 50.362 bằng 75,5%; đảng viên
đủ tư cách nhưng còn hạn chế từng mặt là 1.068 bằng 1,6%; đảng viên cần
đưa ra khỏi đảng là 214 bằng 0,4% so với đảng viên dự phân loại. Trong số
đảng viên phải xem xét xử lý có 90 cấp ủy cơ sở(14 Bí thư, 19 Phó bí thư và
57 Chi, đảng ủy viên); Có 74 là chi ủy chi bộ thuộc (22 Bí thư, 15 Phó bí thư,
37 chi ủy viên), 904 đảng viên. Trong số 1.282 đảng viên cần xem xét, xử lý
đưa ra khỏi đảng đến ngày 30/11/2000 đã kết luận xử lý 982 trường hợp.
Trong đó: Khiển trách 343 đồng chí , cảnh cáo 244 đồng chí, cách chức