Tìm hiểu một số quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Nhượng quyền thương mại (franchising) là một trong những khái niệm khá
mới mẻ trong khoa học pháp lý Việt Nam. Mặc dù nhượng quyền thương mại tại
các thị trường khác trên thế giới thì lại hết sức sôi động. Người tiêu dùng trên toàn
thế giới bây giờ đã không còn xa lạ gì với những chuỗi cửa hàng McDonald’s,
Lotteria hay hệ thống siêu thị Metro – đây là những thương hiệu sử dụng nhượng
quyền thương mại làm phương thức kinh doanh. Theo ước tính, nhượng quyền
kinh doanh thương hiệu ở châu Á đã đạt 50 tỷ USD/năm. Chi phí tính riêng ở
Trung Quốc sau thời điểm gia nhập WTO đã có 50 ngành hàng thực hiện kinh
doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại, tốc độ tăng trưởng lên đến
40%/năm. Đối với Việt Nam, trên con đường hội nhập WTO, việc nghiên cứu,
xem xét, đánh giá những phương thức kinh doanh thương mại đặc biệt như nhượng
quyền thương mại là rất quan trọng, góp phần hoàn thiện pháp luật về thương mại
ở Việt Nam.
Chính vì vậy, trong bài tập cuối kì này em đã quyết định lựa chọn đề bài:
“Tìm hiểu một số quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại” để có thể
hiểu rõ hơn về khái niệm mới mẻ này.
I. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại.
1. Khái niệm nhượng quyền thương mại.
Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh đã được hầu hết
các quốc gia trên thế giới biết đến và đặc biệt phát triển ở các quốc gia có nền kinh
tế thị trường phát triển. Mỗi quốc gia có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau thì sẽ có
góc độ nhìn nhận về khái niệm nhượng quyền thương mại khác nhau. Trên thế giới
đã có một số định nghĩa về nhượng quyền thương mại, còn riêng ở Việt Nam thì
Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 đã đề cập đến khái niệm này: “Nhượng
quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép
và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ theo cac điều kiện sau: 1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được
1




của bên nhượng quyền. Ngược lại, bên nhận quyền sẽ phải đồng ý chấp thuận một
số điều kiện mà bên nhượng quyền đưa ra.
2. Đặc điểm nhượng quyền thương mại.
Từ khái niệm nhượng quyền thương mại đã trình bày ở trên, có thể thấy hoạt
động nhượng quyền thương mại có những nét đặc trưng riêng biệt, cụ thể sau:
Thứ nhất, hoạt động nhượng quyền thương mại được thực hiện bởi các
thương nhân, gồm có bên nhượng quyền và bên nhận quyền thương mại có tư cách
pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau. Và sau khi nhận quyền thương mại thì bên
nhận quyền được tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên
cơ sở sự cho phép của bên nhượng quyền để khai thác lợi ích cho chính mình.
Thứ hai, hoạt động nhượng quyền thương mại chính là sự chuyển giao
“quyền thương mại” gắn liền với quyền sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo…) của bên
nhượng quyền cho bên nhận quyền, thể hiện ở chỗ bên nhượng quyền được nhận
một khoản tiền do bên nhận quyền chi trả cho chi phí tham gia mạng lưới kinh
doanh theo nhượng quyền, chi phí đào tạo, hỗ trợ…
Thứ ba, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền và bên
nhận quyền luôn tồn tại quyền kiểm soát và trợ giúp gắn bó và mật thiết. Đây là
một đặc điểm nổi bật của nhượng quyền thương mại với các hoạt động khác. Trong
quan hệ nhượng quyền thương mại, do tính chất của nhượng quyền thương mại là
mở rộng quy mô kinh doanh bằng cách chia sẻ kinh doanh cho các thương nhân
nhận quyền nên luôn phải đối mặt với những nguy cơ, rủi ro do bên nhận quyền
thực hiện không đúng cam kết. Chính vì vậy, để đảm bảo tính hệ thống cho hệ
thống nhượng quyền, không có cách nào khác là phải đặt ra quyền kiểm soát và trợ
giúp của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền, khiến bên nhận quyền phải
tuân thủ chặt chẽ mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền, thông qua đó giúp
bên nhượng quyền bảo vệ được thương hiệu của mình.
3. Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyền thương mại.
3

4


Thứ nhất, bên nhận quyền sẽ hạn chế được rủi ro trong kinh doanh khi gia
nhập thị trường. Thực vậy, một khi một doanh nghiệp lựa chọn một hình thức kinh
doanh đều phải lường trước những rủi ro trong kinh doanh. Khi thành lập một
doanh nghiệp mới với hình thức kinh doanh độc lập, tạo dựng cơ sở từ đầu thì ít
nhiều cũng hàm chứa nhiều khả năng rủi ro, thất bại. Song, lựa chọn hình thức
nhượng quyền thương mại sẽ giảm thiểu tối đa những rủi ro trong kinh doanh.
Xuất phát từ tính chuyển giao “quyền thương mại” cho bên nhận quyền thì bên
nhượng quyền sẽ chuyển giao cả về quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh
sản phẩm, dịch vụ dưới tên thương mại của bên nhượng quyền… Khi đó thì
thương hiệu đó vốn đã có chỗ đứng trên thị trường, có uy tín đối với khách hàng
nên việc nhận quyền phát triển trên thị trường đã có nền tảng nhất định. Và dưới sự
kiểm soát và trợ giúp của bên nhượng quyền thì bên nhận quyền vô hình chung sẽ
có một mạng lưới bảo vệ, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.
Thứ hai, bên nhận quyền sẽ giảm được chi phí gia nhập thị trường. Thực
vậy, sau khi được nhượng quyền thì bên nhận quyền sẽ không phải tốn kém nhiều
chi phí và thời gian trong việc xây dựng mô hình kinh doanh mới. “Sự nổi tiếng”
trên thị trường, chỗ đứng trong kinh doanh là một yếu tố quan trọng trong quá trình
kinh doanh, song với hình thức nhượng quyền thương mại thì nó đã được tạo lập
trước khi mô hình kinh doanh mà bên nhận quyền tạo lập. Đồng thời, bên nhận
quyền cũng sẽ được chuyển giao bí quyết kinh doanh, chiến lược, phương pháp
xây dựng, đào tạo nhân viên… Nếu một doanh nghiệp mới thành lập thì chi phí
cho những yếu tố trên chiếm một khoản chi phí khá lớn. Đây là ưu thế cao mà hình
thức nhượng quyền thương mại mới có được.
Như vậy nhượng quyền thương mại mà phương thức kinh doanh mang lại
nhiều ý nghĩa thiết thực cho cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Đây là mối
quan hệ hợp tác kinh doanh mang lại lợi nhuận cho cả bên đầu tư và đối tác kinh
doanh. Bên cạnh đó, chính hoạt động nhượng quyền cũng có tác động tích cực đến

được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện:

6


- Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được
ít nhất 1 năm (nếu thương nhân Việt Nam là bên nhận quyền sơ cấp từ bên nhượng
quyền nước ngoài thì thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức
nhượng quyền thương mại ít nhất 1 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại
quyền thương mại);
- Đã đăng kí hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật (Sở thương mại, Sở thương mại – du lịch cấp
tỉnh đối với hoạt động nhượng quyền thương mại mang tính nội địa, Bộ thương
mại đối với hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài).
- Hàng hoá, dịch vụ được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại là
hàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh.
Trường hợp hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh
doanh, Danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ
được kinh doanh sau khi được cơ quan quản lý ngành cấp Giấy phép kinh doanh,
giấy tờ có giá trị tương đương hoặc có đủ điều kiện kinh doanh.
Theo các quy định này thi điều kiện đặt ra đối với thương nhân nhượng
quyền khá khắt khe và phức tạp. Trong khi đó, đối với thương nahan nhận quyền,
điều kiện chủ thế này dường như đơn giản hơn và nhiều khi, pháp luật chỉ quy định
thương nhân nhận quyền được phép nhận quyền thương mại khi có đăng kí ngành
nghề kinh doanh phù hợp với hoạt động nhượng quyền thương mại.
2. Hợp đồng nhượng quyền thương mại.
2.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một tập hợp các thỏa thuận của các
bên chủ thể, trong đó các bên phải đề cập đến ít nhất một số vấn đề chủ yếu liên
quan đến: thứ nhất, sự chuyển giao các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp, sở

được sử dụng quyền thương mại của mình để kinh doanh trên danh nghĩa của
chính mình. Việc bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng
quyền thương mại của mình như thế nào phụ thuộc vào sự thỏa thuận cụ thể của
các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Các bên có thể chỉ thỏa thuận
8


chuyển giao quyền phân phối sản phẩm với quyền sử dụng tên thương mại, nhãn
hiệu hàng hóa để phục vụ cho hoạt động phân phối, các bên cũng có thể thỏa thuận
chuyển giao thêm cả quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
và chuyển giao công nghệ như quy trình sản xuất, bí quyết kinh doanh.
Tại Điều 11 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP cũng đã quy định về nội dung cần
có của một hợp đồng nhượng quyền thương mại tương đối đầy đủ và không có
nhiều sự khác biệt so với quy định của các nước trên thế giới. Song cũng cần lưu ý
về các nội dung này chỉ có thể xuất hiện trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
của các bên nếu các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam cho quan hệ hợp đồng
của mình.
2.3. Hình thức và thời hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Điều 285 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hợp đồng nhượng quyền
thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương”. Hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam là hoạt động
mới mẻ. Dưới góc độ pháp lý, trước năm 2005, chưa có một văn bản pháp luật nào
đề cập một cách trực tiếp tới nhượng quyền thương mại nên việc quy định rõ ràng
về mặt hình thức hợp đồng như trên cũng là cách thức để bảo vệ thương nhân trong
lĩnh vực nhượng quyền thương mại.
Theo Điều 13 Nghị định 35/2006/NĐ-CP thì “thời hạn hợp đồng nhượng
quyền thương mại do các bên thỏa thuận”. Việc quy định về thời hạn đối với hợp
đồng nhượng quyền thương mại có ý nghĩa làm giảm rủi ro trong một mức độ nhất
định đối với các bên trong hợp đồng này. Trong khi trên thế giới các nước thường
quy định những thời hạn cụ thể cho hợp đồng nhượng quyền thương mại tư hai đến

các nghĩa vụ: một là cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền
thương mại cho bên nhận quyền, hai là đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ
thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo
đúng hệ thống nhượng quyền thương mại, ba là thiết kế và sắp xếp địa điểm bán
hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của thương nhân nhận quyền, bốn là bảo đảm
quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền,
10


năm là đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng
quyền thương mại. Ngoài các nghĩa vụ này, trong Điều 8 Nghị định 35/2006/NĐCP còn quy định thêm về trách nhiệm cung cấp thông tin của bên nhượng quyền.
Những nghĩa vụ này nhìn chung hầu như cũng không có khác biệt gì đáng kể so
với pháp luật các nước khác.
- Về quyền của bên nhận quyền, trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền
thương mại thì bên nhận quyền phải chịu khá nhiều ràng buộc từ phía nhượng
quyền ở mọi thời điểm. Tuy nhiên bên cạnh đó bên nhận quyền cũng có những
quyền như sau: một là yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ
giúp kỹ thuật có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại, hai là yêu cầu
thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền
khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại. Hai quyền cơ bản nói trên của bên
nhận quyền chỉ được quy định trong Luật Thương mại 2005 mang tính chất định
hướng mà không có những quy định vạch ra giới hạn cụ thể hay những điều kiện
cụ thể để thực hiện quyền này.
- Về nghĩa vụ của bên nhận quyền, nghĩa vụ của bên nhận quyền đối với
bên nhượng quyền chính là những điều kiện mà bên nhận quyền phải đáp ứng khi
chấp nhận them gia quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại. Cụ thể là: một là
trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyền
thương mại, hai là đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp
nhận các quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao, ba là
chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ

đây. Song các hoạt động nhượng quyền thương mại đã mang lại khá nhiều hiệu quả
thiết thực, làm thay đổi và phát triển cho hệ thống kinh tế Việt Nam, hòa nhập
chung vào phong trào phát triển kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên các quy định của pháp luật dù đã đề cập đến đầy đủ các vấn đề
như chủ thế, đối tượng, hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hoạt động
nhượng quyền thương mại nhưng lại thiếu các quy định hướng dẫn, các quy định
của Luật Thương mại mới chỉ là mang tính định hướng, khá là chung chung. Mặt
12


khác đặt trong hệ quy chiếu với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ cũng như tính
phức tạp của hoạt động nhượng quyền thương mại thì những quy định của pháp
luật chưa đủ mạng và điều chỉnh được đầy đủ lĩnh vực này.
Các khái niệm trong quy định của Luật thì chưa thống nhất là đồng bộ. Ví dụ
như về khái niệm “hợp đồng nhượng quyền thương mại”. Các nhà làm luật không
đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng thương mại nói chung, nhưng Nghị định số
35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ lại nêu định nghĩa về các dạng đặc
biệt của hợp đồng nhượng quyền thương mại như “hợp đồng phát triển quyền
thương mại”, hoặc “hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp”. Đây là các dạng
biến thể của hợp đồng thương mại, thể hiện sự đa dạng về hình thức và phương
thức nhượng quyền thương mại nên việc đưa ra định nghĩa cụ thể về những loại
hợp đồng này trong luật là rất đúng đắn. Tuy nhiên, khi giải thích về nghĩa của cả
hai loại hợp đồng nói trên các nhà làm luật vẫn sử dụng thuật ngữ “hợp đồng
nhượng quyền thương mại” để làm cầu nối. Như vậy, việc pháp luật thương mại
không đưa ra định nghĩa về hợp đồng thương mại mà lại dùng chính thuật ngữ này
để giải thích cho các thuật ngữ khác có liên quan là chưa đảm bảo tính hệ thống và
tính chính xác cần phải có đối với các quy định pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật.
Đầu tiên chúng ta phải hoàn thiện quy định về khái niệm nhượng quyền
thương mại, từ cơ sở đó cần phải xây dựng một khái niệm nhượng quyền thương


14


KẾT LUẬN
Nhượng quyền thương mại là một công cụ hữu hiệu để các thương nhân có
thể thâm nhập vào những thị trường mới mẻ. Phương thức này sẽ giúp doanh
nghiệp tiết kiệm được chi phí và rủi ro khi đầu tư trực tiếp, lập chi nhánh, khảo sát
và nghiên cứu thị trường… Ngày nay trên thế giới khu vực kinh tế dịch vụ đang
chứng kiến hàng loạt các doanh nghiệp sử dụng phương thức này. Việt Nam là
quốc gia được đánh giá có nhiều tiềm năng cũng như nguồn lực để phát triển ở tầm
cao mô hình nhượng quyền thương mại.
Chính vì thế việc hoàn thiện và bổ sung những quy định pháp luật về hợp
đồng nhượng quyền thương mại để bảo vệ bên trong quan hệ nhượng quyền. Sự ra
đời của Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã khắc
phục và hạn chế được tối đa các rủi ro trong quá trình kinh doanh nhượng quyền
cũng như các tranh chấp có thể xảy ra.
Do tính chất mới mẻ nên song song với quá trình phát triển thì việc hoàn
thiện pháp luật về nhượng quyền thương mại cần được đặc ra cấp thiết hơn bao giờ
hết. Pháp luật có quy định cụ thể, chặt chẽ thì việc áp dụng trên thực tiễn mới thực
sự có hiệu quả. Thước đo để đánh giá sự phát triển và hiệu quả của phương thức
kinh doanh nhượng quyền thương mại thì yếu tố pháp luật điều chỉnh chính là yếu
tố tiên quyết.

15


DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trường đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Luật thương mại tập II


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status