ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM BÌNH
Tổ chức quản lý công tác lưu trữ của các
Tổng Công ty 91
LUẬN VĂN THẠC SĨ LƯU TRỮ HỌC
HÀ NỘI, 2005
Phần mở đầu
1. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đề ra chủ trương xây dựng và
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này lại được khẳng định rõ
trong Hiến pháp năm 1992 là “Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. [12, 142].
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đó đã không còn phù hợp với xu thế và
tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta cũng như của cả thế giới hiện nay.
Việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần
kinh tế; thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật; mở rộng hợp tác kinh tế, khoa
học – kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới để phát triển vững mạnh kinh tế đất
nước và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Nhà nước Việt Nam
công nhận quyền tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, quyền tự do cạnh tranh
lành mạnh, tính sinh lợi hợp pháp và đảm bảo quyền bình đẳng của tất cả các doanh
nghiệp trước pháp luật.
nguyên nhân của những thua lỗ của nhiều doanh nghiệp, có khi là bị phá sản nếu
như được quản lý và sử dụng bởi những nhà lãnh đạo doanh nghiệp còn hạn chế về
kiến thức quản lý và kinh doanh. Tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của
các doanh nghiệp chứa đựng nhiều giá trị, có ý nghĩa không chỉ đối với doanh
nghiệp mà còn đối với cả quốc gia cần được bảo quản để phục vụ cho công tác
nghiên cứu sau này.
Một điều đã khiến cho những người nghiên cứu, những ai có quan tâm đến sự
nghiệp phát triển của ngành lưu trữ nói riêng và sự an toàn của di sản văn hoá dân
tộc nói chung là các doanh nghiệp chưa tổ chức quản lý tốt tài liệu hình thành trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình. Tại nhiều doanh nghiệp, tài liệu sau khi
hết giá trị hiện hành đều không được các doanh nghiệp quan tâm, chưa được tổ chức
bảo quản vì không có kho. Trừ một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn và các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tổ chức quản lý tài liệu và bước đầu tổ chức
2
khai thác sử dụng chúng, hiện vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp chưa xem trọng vai
trò, tác dụng của văn bản, tài liệu đối với hoạt động của doanh nghiệp mình. Các
doanh nghiệp tự tổ chức quản lý và sử dụng tài liệu theo cách riêng của mình, không
được thống nhất về chuyên môn nghiệp vụ và không theo một định chế nào. Đáng
suy nghĩ hơn là nhiều doanh nghiệp chỉ xem trọng tài liệu khi chúng còn giá trị phục
vụ cho các “thương vụ”, sau đó nhiều tài liệu bị hư hỏng, thất lạc, không được tổ
chức bảo quản hoặc bị đem tiêu huỷ mà không có sự can thiệp của các cơ quan quản
lý nhà nước.
Thời gian qua, công tác lưu trữ của Việt Nam chỉ mới quan tâm và quản lý được
TLLT của các cơ quan nhà nước và của các tổ chức chính trị – xã hội. Còn đối với
tài liệu của các doanh nghiệp thì chưa có một quy định, hướng dẫn cụ thể nào về mặt
nghiệp vụ từ thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả sao cho phù
hợp với đặc điểm của khối tài liệu này. Rõ ràng là chúng ta không thể áp đặt những
thể đồng nhất chúng được.
Các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam hiện nay chiếm đa số trong tổng số
doanh nghiệp Việt Nam. Không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các doanh
nghiệp này đối với sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước trong thời gian qua và trong
tương lai. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp dân doanh, cụ thể là các doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được thành lập với
quy mô nhỏ, hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ nên phần lớn đêu không tổ
chức công tác lưu trữ. Đối với các doanh nghiệp dân doanh có quy mô lớn, hoạt
động sản xuất kinh doanh thành đạt, có chú trọng đến công tác công văn giấy tờ,
nhưng với lý do bảo vệ bí mật kinh doanh nên đều hạn chế sự tiếp cận của “người
ngoài” với tài liệu của doanh nghiệp mình. Điều quan trọng hơn nữa là ngoài Luật
Kế toán, Điều 94 của Luật Doanh nghiệp và Quyết định số 218/2000/QĐ-BTC ngày
29-12-2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ Lưu trữ tài liệu kế
toán có quy định việc lưu trữ một số tài liệu của các doanh nghiệp mà chủ yếu là tài
liệu kế toán thì cho đến nay, Nhà nước chưa ban hành các văn bản quy định về công
tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp nói chung, của các doanh nghiệp dân
doanh nói riêng. Có thể nói, việc nghiên cứu một cách sâu sắc và đầy đủ công tác
lưu trữ của các doanh nghiệp dân doanh hiện nay là còn thiếu các căn cứ pháp lý và
điều kiện thực tế.
4
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm doanh nghiệp liên doanh
và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì hiện nay được xem là “vùng nhạy cảm”,
“vùng cấm” đối với các nhà nghiên cứu, thậm chí là đối với các cơ quan chức năng.
Chúng ta đều biết, mục đích của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài là nhằm tạo
nguồn vốn từ kinh tế đối ngoại để tích luỹ ban đầu; tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện
đại, công nghệ tiên tiến; học tập kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển; đổi
mới cơ cấu kinh tế đất nước và tham gia vào sự phân công lao động thế giới. Trong
Thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn giải quyết hai mục tiêu chủ yếu sau:
- Một là khái quát được tình hình thực tiễn về tổ chức quản lý TLLT của các TCT
91
- Hai là trên cơ sở thực trạng của công tác quản lý TLLT của các TCT 91 đề xuất
một số giải pháp nhằm tổ chức tốt công tác quản lý TLLT của các doanh nghiệp này,
đặc biệt là đưa ra một mô hình mới đảm bảo bảo quản, tổ chức khai thác sử dụng
khối TLLT này một cách hiệu quả nhất. Đây có thể là cơ sở cho việc tiến hành
những bước nghiên cứu tiếp theo để tìm các biện pháp quản lý tài liệu của các loại
hình doanh nghiệp khác, trước tiên là các doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới
các hình thức khác nhằm góp phần bảo vệ, làm đầy đủ và tăng giá trị Phông lưu trữ
Quốc gia Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hiện nay Nhà nước Việt Nam thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của các loại
hình doanh nghiệp sau:
- Doanh nghiệp nhà nước;
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Các công ty gồm có công ty trách nhiệm hữu hạn, công cổ phần và công ty
hợp danh;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm có doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các TCT 91 là các doanh
nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hình thức TCT nhà nước. Hiện có tất cả 18 TCT
6
91 nhưng chỉ có 16 TCT có trụ sở tại Hà Nội, còn TCT Lương thực Miền Nam và
TCT Cao su Việt Nam có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì thế tác giả
cũng chỉ có điều kiện điều tra, khảo sát các TCT ở Hà Nội, trong đó tập trung khảo
sát sâu tại các TCT Xi măng Việt Nam, TCT Dầu khí Việt Nam, TCT Điện lực Việt
nghiên cứu tác giả còn sử dụng nhiều các phương pháp cụ thể khác như: phương
pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp logich, phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích, phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn.
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác công văn giấy tờ của các doanh nghiệp nói chung là vấn đề mới ít được
các nhà nghiên cứu lưu tâm đến trong mấy năm gần đây. Như vậy, có thể nói đây là
lĩnh vực còn mới mẻ, có rất nhiều vấn đề đang được đặt ra cần nghiên cứu, giải
quyết. Một lý do quan trọng nữa là việc khảo sát đối tượng để phục vụ nghiên cứu
có nhiều rào cản khiến cho nhiều đề tài nếu có đặt ra cũng khó có điều kiện thực
hiện. Tuy nhiên, trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến lĩnh vực này, dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng chưa được thống nhất và
toàn diện. Cụ thể, đối với loại hình doanh nghiệp nhà nước có đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ “Các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản của các doanh nghiệp
nhà nước” của nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Học Viên Hành chính quốc gia do
PGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm chủ nhiệm đề tài và hoàn thành vào năm 2003. Đề
tài là công trình nghiên cứu khoa học có quy mô lớn nhất so với các công trình
nghiên cứu khác trong lĩnh vực công tác công văn giấy tờ của các doanh nghiệp.
Nhóm tác giả đã đi sâu khảo sát hệ thống văn bản hình thành trong hoạt động của
các doanh nghiệp nhà nước, tìm hiểu thực trạng ban hành và sử dụng văn bản, phân
tích nguyên nhân của những hạn chế trong công tác này và đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản và thủ tục hành chính trong điều hành hoạt động
của các doanh nghiệp nhà nước. Chỉ dưới góc độ ban hành và sử dụng văn bản, đề
tài đã cho chúng ta thấy một thực trạng yếu kém của công tác này của các doanh
nghiệp nhà nước dù rằng từ trước đến nay chúng ta đều có chung suy nghĩ là công
tác văn thư, công tác lưu trữ trong loại hình doanh nghiệp này là tốt so với các loại
hình doanh nghiệp khác. Một hệ quả tất yếu là công tác lưu trữ trong các doanh
nghiệp này là vấn đề cần phải được nghiên cứu để có hướng giải quyết kịp thời.
8
9
Công tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp cũng đã được sinh viên của Khoa
Lưu trữ học và Quản trị văn phòng chọn làm hướng viết khoá luận tốt nghiệp của
mình. Mặc dù đây là lĩnh vực mới, có tính hấp dẫn nhưng do khó có điều kiện tiếp
cận để khảo sát nên số lượng sinh viên nghiên cứu về vấn đề này không nhiều. Cụ
thể đó là khoá luận tốt nghiệp của Vũ Bá Dụ: “Tìm hiểu công tác xây dựng và quản
lý văn bản ở một số TCT 91”, khoá luận tốt nghiệp của Hoàng Thị Thu Thuỷ: “Hệ
thống văn bản và công tác văn thư lưu trữ trong một số công ty TNHH”. Đặc biệt có
hai khoá luận tuy chỉ mới nói đến đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp liên doanh
và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài mà tác giả đã được đánh giá là những người
“dũng cảm”, mặc dù mức độ khảo sát chưa phải là sâu và toàn diện. Lý do là việc
tiếp cận để khảo sát, nghiên cứu loại hình doanh nghiệp này rất khó, không phải ai
cũng có thể làm được. Đó là khoá luận của Vũ Thị Tuệ Phương: “Bước đầu tìm hiểu
hệ thống văn bản ở công ty liên doanh YAMAHA MOTOR Việt Nam” và khoá luận
của Nguyễn Thị Ngọc: “Công tác quản lý văn bản và lưu trữ hồ sơ tàiliệu ở một số
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trên địa bàn Hà Nội”. Tuy với số lượng không
nhiều nhưng đối tượng khảo sát có thể nói là gần đủ các loại hình doanh nghiệp hiện
có của Việt Nam. Tuy nhiên, các luận văn trên bước đầu chỉ là nêu lên kết quả khảo
sát hệ thống văn bản, công tác văn thư lưu trữ của các doanh nghiệp và một số nhận
xét kiến nghị cá nhân.
Gần đây nhất còn có công trình nghiên cứu – luận văn thạc sĩ: “Xác định giá trị
tài liệu hành chính hình thành trong hoạt động của các TCT 100% vốn nhà nước”
của tác giả Lã Thị Hồng. Để đưa ra các nguyên tắc, phương pháp, các cơ sở pháp lý,
cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và xây dựng danh mục thành phần tài liệu hành chính
của các TCT 100% vốn nhà nước, tác giả luận văn đã phân tích một cách sâu sắc và
đầy đủ thành phần, nội dung và ý nghĩa về nhiều mặt TLLT của các doanh nghiệp
nhà nước. Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu và có giá trị tham khảo lớn
định của Chính phủ về việc thành lập và phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của
các TCT 91;
11
- Các văn bản do một số TCT 91 ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của các phòng ban, về quy chế hoạt động của HĐQT, về công tác văn thư
và công tác lưu trữ của doanh nghiệp; các sổ đăng ký công văn đi - đến, các mục lục
hồ sơ.
- Các báo cáo kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học, nhiều bài viết khác
đăng trên các báo và tạp chí chuyên ngành.
8. Đóng góp của đề tài
Đề tài nếu được triển khai và thực hiện tốt sẽ có những đóng góp sau:
- Đóng góp đầu tiên của đề tài là cho chúng ta hiểu được đặc điểm về tổ chức và
hoạt động của các TCT 91, giá trị tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của
các doanh nghiệp này. Đồng thời thấy được thực trạng công tác lưu trữ của các
doanh nghiệp này.
- Thông qua việc đề xuất một số giải pháp để tổ chức công tác lưu trữ của các
doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các TCT 91, tác giả mong muốn đề tài có thể trở
thành tài liệu tham khảo cho các các cơ quan chức năng, đặc biệt là Cục Văn thư lưu
trữ Nhà nước để có hành động thiết thực ngay từ bây giờ nhằm bảo vệ khối tài liệu
này trước nguy cơ ngày càng bị hư hỏng, thất thoát.
9. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của đề tài được chia
thành 3 chương
12
TLLT của doanh nghiệp ở gia đoạn lưu trữ lịch sử, đảm bảo nguyên tắc bảo quản tập
trung, thống nhất tài liệu Phông lưu trữ Quốc gia Việt Nam. Đó là thành lập Trung
tâm lưu trữ Kinh tế Quốc gia. Vì đây là mô hình mới, được đề xuất chỉ mới trong
phạm vi một luận văn tốt nghiệp cao học nên chúng tôi thấy cần phải phân tích cơ sở
pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc tổ chức bảo quản tài liệu của các doanh nghiệp
này theo mô hình được đề ra.
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã gặp không ít khó khăn khi tiến hành
điều tra, khảo sát tại một số TCT 91. Đây cũng là trở ngại chung của nhiều đối
tượng khi muốn tiếp cận với tài liệu của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhờ sự giúp
đỡ nhiệt tình của một số lãnh đạo Văn phòng và cán bộ phụ trách công tác văn thư
lưu trữ của các TCT 91 như: TCT Xi măng Việt Nam, TCT Bưu chính Viễn thông
Việt Nam, TCT Điện lực Việt Nam....chúng tôi đã có những thông tin, tài liệu quý
báu để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Do trình độ và kinh nghiệm bản thân tác giả
còn nhiều hạn chế, nên mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn còn có
nhiều thiếu sót. Hơn nữa, trong luận văn có nhiều nhận định mang tính chủ quan
nhưng chủ ý của tác giả cũng chỉ là mong muốn ngành Lưu trữ Việt Nam có một vị
trí tương xứng trong xã hội. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
nhà nghiên cứu, của bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề này với hy vọng các
công tình nghiên cứu tiếp theo sẽ đạt được chất lượng cao hơn.
Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn, giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của
PGS. TSKH Nguyễn Văn Thâm. Nhân đây, tôi xin được chân thành cảm ơn Thầy,
cảm ơn các cơ quan và các cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nôi, ngày
tháng
năm 2005
hơn nữa vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là việc cần tạo ra một hệ thống các doanh
nghiệp lớn tại các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, Đảng đã đưa chủ
trương hình thành một số tổ chức kinh tế lớn – các TCT nhà nước với mức tích tụ,
tập trung cao về vốn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Việc
thí điểm thành lập các TCT nhà nước với quy mô lớn càng nhằm xoá bỏ dần chế độ
15
Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước, tiến đến loại
bỏ những TCT mang tính hành chính trung gian. Hơn nữa, các TCT nhà nước có
quy mô lớn sẽ là mô hình thí điểm để có thể hình thành các Tập đoàn kinh doanh
chuyên ngành hoặc đa ngành có tầm vóc quốc tế, quốc gia hoặc khu vực, địa bàn...
Thực hiện các chủ trương trên của Đảng, ngày 7-3-1994 Thủ tướng Chúnh
phủ ký Quyết định 90-TTg về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và Quyết
định 91-TTg về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh. Các TCT được thành
lập theo Quyết định 91-TTg (gọi tắt là Quyết định 91) của Thủ tướng Chính phủ là
các TCT đặc biệt quan trọng, trực thuộc Chính phủ và do Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập, giải thể, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức
danh quản lý, điều hành quan trọng cũng như phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt
động. Các TCT này được gọi tắt là các TCT 91 và là cơ sở để thí điểm thành lập các
tập đoàn kinh doanh, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những
yêu cầu cần thiết cho thị trường trong nước và có triển vọng mở rộng quan hệ kinh
doanh ra nước ngoài.
Như vậy, TCT 91 trước tiên là doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của
Luật Doanh nghiệp nhà nước, được tổ chức dưới hình thức TCT và thuộc loại hình
TCT nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp nhà nước
năm 2003. Theo khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thì: “TCT
hoạt động trên cơ sở liên kết “các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau
về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị .....
nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất
thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của
các đơn vị thành viên và của toàn TCT; đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế”[26, 478].
Ngoài ra, các TCT 91 có thể hoạt động kinh doanh đa ngành song nhất thiết phải có
định hướng ngành chủ đạo, mỗi công ty được tổ chức công ty tài chính để huy động
vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển của nội bộ công ty hoặc liên doanh với các đơn
vị kinh tế khác.
Trong 10 năm qua, với chủ trương thành lập thí điểm một số TCT lớn, về lâu dài
sẽ là các tập đoàn kinh doanh có thế và lực mạnh để hổ trợ cho các doanh gnhiệp
nhà nước còn lại và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển,
17
Đảng và Nhà nước đã tập trung ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi từ vốn đến các chính
sách về thuế và đất cho doanh nghiệp nhà nước nói chung, các TCT 91 nói riêng.
Những ưu tiên này để tạo cho các doanh nghiệp nhà nước những bước đầu tiên quen
dần với cơ chế thị trường, tạo đà cho phát triển sau này. Tuy nhiên, do một thời gian
dài đã quen với tính thụ động, hoạt động sản xuất kinh doanh luôn theo kế hoạch,
chỉ tiêu được giao nên thời gian đầu các doanh nghiệp nhà nước đã gặp không ít khó
khăn. Thậm chí nhiều doanh nghiệp thành viên làm ăn thua lỗ triền miên, gây hao
hụt vốn của Nhà nước. Một số TCT 91 đã biến những ưu tiên của Nhà nước thành
thế độc quyền trên thị trường, tạo nên những bất bình đẳng trong môi trường kinh
doanh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, trái với quy
định tại điều 22 của Hiến pháp năm 1992: “Các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế......đều bình đẳng trước pháp luật” [11,144]
Trước tình hình đó, Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 24/9/2001 Hội nghị lần thứ
ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX “Về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới,
túc thực hiện nội dung và phấn đấu đẩy nhanh lộ trình thực hiện Đề án tổng thể sắp
xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đẫ được phê duyệt”. Kết quả là từ chỗ doanh
nghiệp rất phân tán, dàn trải trong các ngành, lĩnh vực đã tập trung được vào một số
lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Năm 2001 cả nước có 5651 doanh nghiệp nhà
nước. Sau 4 năm thực hiện đổi mới và sắp xếp lại, đến đầu năm 2005 còn 3264
doanh nghiệp nhà nước. Mục tiêu phấn đấu là đến giữa năm 2006 còn lại 1800
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. (Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới phát triển doanh
nghiệp – Văn phòng Chính phủ). Quy mô vốn của doanh nghiệp được tăng lên đáng
kể. Năm 2001 vốn bình quân của doanh nghiệp nhà nước khoảng 24 tỷ đồng, đến
đầu 2005 đã tăng lên 63,6 tỷ đồng 1.
Sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm và củng cố thế lực trên thị trường trong
nước cũng như thị trường thế giới, đồng thời thực hiện mục tiêu các Nghị quyết của
Đảng đề ra, một số TCT 91 như TCT Bưu chính Viễn thông, Điện lực, Dầu khí,
Than, Dệt may đã xây dựng đề án thành lập tập đoàn kinh doanh trình Chính phủ
phê duyệt. Ngày 23-3-2005 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 58/2005/QĐ-CP
phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Theo kế
1
Năm 2005: Cổ phần hoá 1460 doanh nghiệp. Diễn đàn Doanh nghiệp. Số 16 ngày
25/2/2005
19
hoạch, đến giữa năm 2006 sẽ có 5 tập đoàn kinh doanh thí điểm ra đời. Đó là các tập
đoàn Dầu khí, Bưu chính -Viễn thông, Điện lực, Than và Dệt may. Đây là giai đoạn
nhiều gian nan thử thách của Chính phủ Việt Nam và của các TCT 91 vì so với các
tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia của nhiều nước trên thế giới thì các tập đoàn kinh
doanh của Việt Nam còn non trẻ và quy mô thua kém về nhiều mặt. Nhưng qua đó
riêng TCT Đường sắt Việt Nam mới được thành lập chưa đầy 2 năm theo Quyết
định số 34/2003/QĐ-TTg ngày 04/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành
lập Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Các TCT 91 thường được ví như “những quả
đấm thép của nền kinh tế quốc dân” vì chỉ được thành lập tại các ngành, lĩnh vực
then chốt, đóng vai trò chủ đạo trong toàn nền kinh tế, nắm giữ lực lượng vật chất
quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Hiện nay, 18 TCT 91 với hơn 600 doanh nghiệp thành viên nắm giữ số vốn là
143.000 tỷ đồng trong tổng số 214.000 tỷ đồng vốn, chiếm 70% tổng số vốn của
toàn bộ khối doanh nghiệp nhà nước. Bình quân vốn của mỗi TCT 91 là hơn 7.944
tỷ đồng. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn thì các TCT 91 vẫn còn hạn chế về vốn
dẫn đến yếu về lực và tất nhiên là cả về khả năng cạnh tranh so với các tập đoàn
kinh tế khu vực và thế giới trong xu thế hội nhập hiện nay. Bên cạnh vốn do các
TCT tự huy động hoặc được bổ sung từ lợi nhuận, hàng năm, Nhà nước phải bổ
sung vốn cho các TCT 91 những khoảng kinh phí rất lớn. Để chứng minh cho nhận
định này, chúng ta có thể so sánh các con số sau đây.
Năm 2002:
Tổng số vốn của tất cả các TCT 91 là
75.000 tỷ đồng
Vốn bình quân của mỗi TCT 91 là
4.450 tỷ đồng 2
2
Sắp xếp lại các TCT nhà nước. Thời báo Kinh tế Việt Nam. Số 69 ngày 10-62002.
21
22
trong nhiều dự án liên doanh với nước ngoài chính là các đơn vị thành viên của các
TCT 91. Ví dụ: “Hiện nay, TCT Dầu khí Việt Nam có 20 đơn vị thành viên tham gia
vào 25 liên doanh hoạt động trên nhiều lĩnh vực công nghiệp dầu khí tại Việt Nam
với các đối tác trong và ngoài nước, góp vốn và thực hiện giám sát quản lý 26 hợp
đồng tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí củacác nhà đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam” [7, 35]. Điều này đã góp phần thực hiện thành công chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài của Đảng và Nhà nước. Đi cùng với vốn của các nhà đầu tư nước ngoài
là việc chuyển giao các công nghệ tiên tiến cũng đã được các TCT 91 đưa vào áp
dụng và cải tiến một cách sáng tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo ra
nhiều sản phẩm có chất lượng được thị trường trong nước và thị trường thế giới chấp
nhận.
Cần nhấn mạnh rằng, hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
mới đòi hỏi lượng vốn rất lớn mà các doanh nghiệp nhà nước riêng lẻ hoặc doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không thể có khả năng huy động được.
Chính các TCT 91 mới có khả năng này và kết quả là đã cải thiện được trình độ
khoa học kỹ thuật và công nghệ vốn lạc hậu của doanh nghiệp Việt Nam.
- Do nắm giữ hầu hết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đất nước,
các dự án đầu tư lớn phần lớn là tập trung ở các TCT 91 nên các TCT 91 còn là công
cụ để Chính phủ thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội. Các TCT 91 là
những doanh nghiệp có quy mô lớn nhất Việt Nam, chiếm tỷ trọng lớn trong thị
phần nội địa: 94% sản lượng điện, 97% sản lượng than, 63% sản lượng thuốc lá,
59% sản lượng xi măng, 50% sản lượng giấy, chi phối thị trường dầu thô, viễn
thông3...., là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua các TCT
91 Chính phủ kiềm chế tăng giá, chỉ tiêu lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền
kinh tế và.góp phần ổn định trật tự, an ninh xã hội. Những biến động về giá các sản
phẩm của các TCT này đều gây ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế đất nước và tình hình
chính trị xã hội. Nhiều dự án lớn phải dừng lại hoặc chậm tiến độ thực hiện do việc
- Ban kiểm soát;
- Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc;
- Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc – các phòng ban chức năng;
- Các doanh nghiệp là các đơn vị thành viên
1.2.1. Hội đồng quản trị
24