đảng cộng sản việt nam lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước từ 1986 1996 - Pdf 33

Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

VŨ THỊ HUẾ

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO CẢI CÁCH NỀN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ NĂM 1986
ĐẾN NĂM 1996
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI, 2013

SV: Vũ Thi Huế

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu tại trường Đại học. Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu:
"Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước
từ 1986 đến 1996". không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được công
bố trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Sinh viên



27

CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG 10 NĂM
(1986-1996)
2.1. Cải cách nền hành chính nhà nước những năm đầu đổi

27

mới từ 12/1986 đến 5/1991
2.2. Đảng lãnh đạo cải cách nền hành chính nhà nước Việt

44

Nam từ 6/1991 đến 6/1996
2.3. Một số kết quả và những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng

58

trong cải cách nền hành chính nhà nước 1986-1996
KẾT LUẬN

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

76

PHỤ LỤC


của người dân qua thụ hưởng trong cuộc sống hàng ngày - thì cũng phải
khách quan thấy rằng, cải cách nền hành chính tiến hành rất chậm, chưa đáp
ứng được yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; còn thiếu những thể
chế hành chính nhà nước định hướng cho cơ chế quản lý mới phát triển;
tổ chức bộ máy vừa cồng kềnh, vừa kém hiệu lực; phẩm chất và năng lực
SV: Vũ Thi Huế

1

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
của công chức còn không ít bất cập, còn chế độ công vụ chưa chuyển biến
kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế...
Khuyết tật của nền hành chính nhà nước đã tạo kẽ hở cho một bộ phận
công chức lợi dụng, thực hiện các hành vi lợi dụng của công, vi phạm quyền
dân chủ của nhân dân, cản trở thực hiện các mục tiêu mà Đảng đã dự kiến.
Trong khi đó, sức ép của hội nhập kinh tế quốc tế rất nặng nề và rất khẩn
trương, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nếu không muốn tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì Việt Nam phải
tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, trong đó cải cách nền hành chính nhà nước trở
thành một "mắt xích" trọng yếu để phát huy cao nhất năng lực nội sinh của
dân tộc, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, tạo ra khả năng cao nhất khai
thác nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp phục hưng dân tộc. Đồng thời,
cải cách nền hành chính còn liên quan trực tiếp đến yêu cầu mở rộng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa - một vấn đề cơ bản của định hướng xã hội chủ
nghĩa trong thời kỳ quá độ mà đảng cầm quyền phải quan tâm đầy đủ.
Trong bối cảnh đó, tổng kết, đánh giá lại quá trình lãnh đạo cải

chủ nghĩa Việt Nam.
Nguyễn Văn Linh (1998), Đổi mới để tiến lên.
Đỗ Mười (1991) , Xây dựng nhà nước của nhân dân - Thành tựu,
kinh nghiệm và đổi mới.
- Nghiên cứu của các nhà lý luận và các nhà tổ chức thực tiễn về tổ
chức bộ máy nhà nước, về hoạt động của Nhà nước, về nền hành chính
nhà nước...
Trần Trọng Đường (1998) , Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Lê Sĩ Dược (2000), Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương
trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.
Thang Văn Phúc (2001),Cải cách hành chính nhà nước - Thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp.
- Nghiên cứu của các nhà khoa học lịch sử về quá trình hình thành
của nền hành chính nhà nước, về sự lãnh đạo của Đảng đối với nền hành
chính nhà nước trong các thời kỳ đã qua.
SV: Vũ Thi Huế

3

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Trọng Phúc (1991), Về xây dựng và bảo vệ chính quyền
nhân dân trong những năm 1975- 1990.
Hồ Xuân Quang (1988), Một số quan điểm cơ bản của Đảng Cộng
sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân từ 1986 đến nay.
Nguyễn Trọng Phúc (1999), Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam

4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, tôi tập trung tìm hiểu quá trình hình thành và phát
triển quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách nền hành chính nhà
nước và việc tổ chức thực hiện đường lối đó trong thực tiễn từ 1986 đến
1996.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với đề tài, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cải cách nền hành
chính nhà nước từ 1986 đến 1996” đề tài đi sâu nghiên cứu và phân tích
những nội dung liên quan đến vấn đề cải cách nền hành chính nhà nước từ
1986 đến 1996.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp chuyên ngành khác
- Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân.
- Để thực hiện k h ó a luận, tác giả đã vận dụng, kết hợp hai
phương pháp chính là lịch sử và lôgíc.
+ Phương pháp lịch sử được quán triệt trong phân kỳ, trình bày
tiến trình phát sinh, phát triển của mỗi chủ trương, chính sách, là cơ sở
khoa học cho việc đúc rút các nhận xét và kết luận.
+ Phương pháp lôgíc được thể hiện trong trình bày từng chương,
tiết, đặc biệt là những vấn đề mang tính khái quát như đúc rút nhận xét và
tổng kết kinh nghiệm.
Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như đồng đại và
lịch đại, quy nạp và diễn dịch, thống kê, so sánh...
SV: Vũ Thi Huế

5

K35 GDCD

1.1.1. Thời kỳ 1945 - 1975
Từ 1945 đến 1975 là thời kỳ nền hành chính nhà nước cách mạng
mới ra đời, được xây dựng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng giải
phóng dân tộc và sau đó xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, với các
giai đoạn chính sau đây:
- Từ 1945 đến 1946: Đây là giai đoạn Đảng Cộng sản Việt Nam mới
bước lên địa vị cầm quyền, tiến hành xây dựng nền hành chính nhà nước
cách mạng trở thành công cụ cơ bản để điều hành công cuộc "kháng chiến"
và "kiến quốc". Mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước
cách mạng non trẻ đã phải đối phó với sự chống phá quyết liệt của thù
trong, giặc ngoài. Đặc điểm này chi phối rất lớn đến tổ chức bộ máy, cơ
chế vận hành của nền hành chính nhà nước cũng như phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với nền hành chính nhà nước.
Một là, Chính phủ lâm thời được thiết lập từ cuộc Cách mạng Tháng
Tám đã từng bước được hợp thức hóa sau cuộc Tổng tuyển cử (6-1-1946).
Sau Tổng tuyển cử, Đảng tiếp tục lãnh đạo bầu ra Chính phủ chính thức và
lãnh đạo bầu cử Hội đồng nhân dân địa phương và cơ sở (3-1946), kiện toàn
Ủy ban Hành chính các cấp. Đặc điểm của nền hành chính nhà nước giai
đoạn này là: 1) Hội đồng nhân dân chỉ được thiết lập ở 2 cấp: tỉnh và xã,
riêng khu vực đô thị thiết kế theo mô hình chính quyền một cấp hoàn chỉnh
nên Hội đồng nhân dân chỉ có ở cấp thành phố (hoặc thị xã); 2) ủy ban
SV: Vũ Thi Huế

7

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
hành chính được thiết lập ở 4 cấp: kỳ, tỉnh, huyện và xã.

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
Bốn là, trong bối cảnh thù trong giặc ngoài chống phá quyết liệt, sự
lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước nói chung và nền hành chính nhà
nước nói riêng được tiến hành một cách "kín đáo" và "khôn khéo", nhất là
từ sau khi Đảng rút vào hoạt động bí mật (11-11-1945). Tuy không có điều
khoản riêng trong Hiến pháp ghi nhận quyền lãnh đạo của Đảng, nhưng ý chí và
đường lối của Đảng đã được thể chế hóa xuyên suốt nội dung của Hiến pháp và
các văn bản pháp luật khác. Ngoài ra, Đảng còn lãnh đạo thông qua vai trò cá
nhân đảng viên tham gia trong cơ cấu nền hành chính nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở, mà dấu ấn rõ nét nhất là người đứng đầu nền hành chính
quốc gia - thiết chế Chủ tịch nước được Hiến pháp năm 1946 trao quyền rất
rộng: "Chủ tịch nước Việt Nam không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào, trừ
khi phạm tội phản quốc" (Điều 60) [18, tr.18].
- Từ 1947 đến 1954: Đây là giai đoạn Đảng lãnh đạo toàn quốc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nền hành chính nhà nước được
điều chỉnh nhằm đảm bảo thích ứng với yêu cầu chỉ đạo, điều hành cuộc
kháng chiến. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ đã đặt ra nhu cầu tăng
cường khả năng chỉ đạo tập trung, thống nhất của nền hành chính nhà
nước. Do đó, Hiến pháp năm 1946 chưa có điều kiện cụ thể hóa thành các
đạo luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn buộc phải sử dụng sắc lệnh để điều hành
đất nước, tăng cường quyền lực của người đứng đầu nền hành chính nhà
nước. Đối với cơ quan hành chính địa phương, để phù hợp với nhu cầu chỉ
đạo một đất nước trải dài từ Bắc đến Nam, từ cuối 1945 đã hình thành các
chiến khu với chức năng quân sự, đến khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ
được đổi thành các "khu" (từ 12-1946 đến 1-1948), rồi "liên khu" (từ 11948) với sự kiêm nhiệm chức năng hành chính và quân sự. Chính quyền
từ tỉnh xuống xã cũng hợp nhất giữa Ủy ban Kháng chiến và Ủy ban hành
chính thành Ủy ban Kháng chiến - Hành chính với chức năng hành chính SV: Vũ Thi Huế

chức năng của một chính quyền tổ chức điều hành cuộc kháng chiến ở miền
Nam. Đến tháng 6-1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
được thành lập, có tổ chức bộ máy từ Miền đến cơ sở, vừa điều hành kháng
chiến, vừa tổ chức lại đời sống nhân dân ở vùng giải phóng. Dưới sự lãnh
SV: Vũ Thi Huế

10

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
đạo trực tiếp của Trung ương Cục, các Khu ủy, Đảng bộ địa phương, tổ
chức bộ máy và cơ chế vận hành của chính quyền các cấp ở miền Nam được
điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của cuộc cách mạng.
Ở miền Bắc, sau năm 1954, Đảng đã lãnh đạo sửa đổi Hiến pháp
(1959) để tạo khuôn khổ pháp lý cho sự định hình một tổ chức bộ máy và
cơ chế vận hành của nền hành chính nhà nước phù hợp yêu cầu tình hình
mới. Hiến pháp năm 1959 tuy chưa có điều khoản riêng ghi nhận quyền
lãnh đạo của Đảng, nhưng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và
toàn xã hội được đảm bảo trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Nền hành chính nhà nước có điều chỉnh so với trước, nhất là giảm bớt quyền
hành của người đứng đầu nền hành chính nhà nước; thừa nhận quyền tự trị
về phương diện hành chính của một số địa bàn dân tộc thiểu số và gắn với
nó đã hình thành Khu tự trị Việt Bắc và Khu tự trị Tây Bắc; điều chỉnh địa
giới hành chính một số tỉnh. Đến năm 1959, “bộ máy quản lý hành chính
cấp Trung ương ở miền Bắc có 36 cơ quan thuộc Chính phủ; địa giới hành
chính địa phương được phân thành 25 tỉnh và 2 khu tự trị” [23, tr. 15].
Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ đã ban hành hàng
loạt quy định để điều chỉnh chế độ công chức và công vụ, như: Nghị định số


98.752

116.551

94.940

1963

1965

1968

1970

1958

1969

1961

103.940 130.091 150.310

lượng
(người)
Năm

1971

1973



Khóa luận tốt nghiệp
hành để đã tạo cơ sở cho sự hình thành một nền hành chính nhà nước thống
nhất. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12-1976) đã nhấn
mạnh yêu cầu: "Nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta
và nhân dân ta phải đặc biệt quan tâm là nhanh chóng xây dựng và củng
cố bộ máy chính quyền nhà nước các cấp ở miền Nam, tiếp tục hoàn thiện
bộ máy chính quyền nhà nước các cấp ở miền Bắc, kiện toàn Nhà nước
của cả nước" [10, tr. 131-132]. Nghị quyết Đại hội IV của Đảng cũng nhấn
mạnh:
Đảm bảo tốt sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một điều
kiện tiên quyết để tăng cường nhà nước, nâng cao hiệu lực của
Nhà nước. Mặt khác, Đảng không thể xây dựng chủ nghĩa xã
hội nếu không có Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng và quyền
làm chủ tập thể của nhân dân thể hiện tập trung ở Nhà nước,
được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của Nhà nước.
Phải thường xuyên kiện toàn bộ máy nhà nước. Nâng cao năng
lực tổ chức của Đảng trước hết chính là nâng cao năng lực của
Đảng trong việc xây dựng, kiện toàn và sử dụng, phát huy Nhà
nước như một công cụ sắc bén nhất để tổ chức thực hiện đường
lối chính sách của Đảng [10, tr. 148-149].
Hiến pháp năm 1980 đã thể chế hóa quyền lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước với điều khoản hiến định: "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên
phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ
trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà
nước, lãnh đạo xã hội" [18, tr. 76]. Đại hội V của Đảng (3-1982) tiếp tục khẳng
định: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, cải tiến phương
pháp lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với chính quyền là điều kiện quyết
định để phát huy vai trò và hiệu lực của Nhà nước” [11, tr. 117].

cáo của công dân (27-11-1981), Pháp lệnh về trừng trị các tội đầu cơ, buôn
bán hàng lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (30-6-1982), Điều lệ xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh (1-12-1978)... Trong khuôn khổ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung bao cấp, song Chính phủ cũng đã có một số văn bản
dưới luật thể hiện dấu hiệu đổi mới, phản ánh sự thể chế hóa quan điểm
SV: Vũ Thi Huế

14

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
của Hội nghị Trung ương sáu khóa VI của Đảng (9-1979) như: Quyết định
tiến hành cải cách giáo dục phổ thông (27-3-1981), Quyết định 25/CP (211981) về thực hiện "ba phần kế hoạch" trong các xí nghiệp quốc doanh,
Quyết định 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán sản phẩm và
vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của
Nhà nước.
Về chế độ công chức, công vụ, chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản dưới luật quy định lề lối làm việc, chính sách và chế độ
với cán bộ, như: Quyết định 169/HĐBT (29-1981) ban hành Bản Điều lệ về
chế độ làm việc và quan hệ công tác của Hội đồng Bộ trưởng; Nghị định
217/CP (8-6-1979) quy định về chế độ trách nhiệm, kỷ luật, chế độ bảo vệ
của công, chế độ phục vụ nhân dân của cán bộ, nhân viên và cơ quan nhà
nước; Nghị định 16/HĐBT (8-5-1982) về tinh giản biên chế hành chính
nhằm tạo ra bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, có hiệu lực; Nghị định
117/HĐBT (15-7-1982) về bản danh mục số 1 các chức vụ viên chức nhà
nước để làm căn cứ xây dựng chức danh đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ; Nghị
định 235/HĐBT về cải cách chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và
lực lượng vũ trang, xóa bỏ dần chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ,

phương, giữa quản lý nhà nước của Chính phủ và các bộ, ngành với quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn về phía Quốc hội, mặc dù Hiến
pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nhưng do "ôm đồm"
các quyền nên rốt cuộc không có điều kiện thực hiện những chức năng vốn
có của nó là lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước. Vì không thực hiện tốt chức năng lập pháp nên thiếu
những luật pháp cần thiết tạo khuôn khổ pháp lý cho nền hành chính nhà
nước vận hành, để lại những khoảng trống mà những cán bộ tha hoá, biến
chất trong các cơ quan công quyền lạm dụng, đẩy các tệ nạn trong bộ máy
nhà nước gia tăng. Vì buông lỏng chức năng giám sát tối cao, thậm chí gần
như lãng quên, nên những biểu hiện lạm quyền và sai phạm trong cơ quan
hành chính nhà nước ít bị ngăn chặn, phát hiện và đưa ra ánh sáng. Vì buông
lỏng vai trò của Quốc hội trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước, chính xác hơn là có thông qua tại các kỳ họp của Quốc hội một
cách hình thức, chiếu lệ, không được nghiên cứu cẩn trọng, nên dẫn tới các
cơ quan hành chính nhà nước quyết định tùy tiện những vấn đề lớn của
SV: Vũ Thi Huế

16

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
đất nước, nhiều khi gây ra hậu quả nghiêm trọng, mà các chủ trương
nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa...
là những ví dụ điển hình.
Hai là, Đảng hiểu và vận dụng nguyên tắc "tập trung dân chủ"
trong xây dựng nền hành chính nhà nước chưa thấu đáo.
Mặc dù đường lối của Đảng vẫn khẳng định phải quán triệt nguyên

không chỉ triệt tiêu khả năng tự chủ, sáng tạo vốn có của các đơn vị kinh
tế, mà còn biến cơ quan hành chính nhà nước trở thành một "tổ chức kinh
tế" với trách nhiệm nặng nề và không đủ khả năng thực thi nhiệm vụ quản
lý nhà nước. Càng ôm đồm, bao biện công việc của doanh nghiệp thì càng
đẩy nền hành chính nhà nước rơi vào quan liêu hóa nặng nề. Càng quan liêu
hóa thì càng giảm sút hiệu lực quản lý và khủng hoảng kinh tế - xã hội là hệ
quả tất yếu từ cách quản lý đó.
Bốn là, tổ chức bộ máy nền hành chính nhà nước cồng kềnh, kém
hiệu lực.
Do nhận thức giản đơn về các nguyên tắc tổ chức nhà nước theo
học thuyết Mác - Lênin và duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp,
nên tổ chức bộ máy nhà nước ngày càng phình to để đảm đương các chức
năng mà nó "ôm đồm" của doanh nghiệp và xã hội. Nếu như trước 1975,
Hội đồng Chính phủ có 21 bộ, 10 Ủy ban Nhà nước và 10 Tổng cục trực
thuộc, thì đến năm 1985 đã tăng lên tới 60 cơ quan trực thuộc, trong đó có
24 bộ, 9 Ủy ban Nhà nước, 27 Tổng cục và Cơ quan trực thuộc (với 800
vụ, viện và 691 liên xí nghiệp, tổng công ty nhà nước). Ở cấp tỉnh cũng
phình to lên 30-35 sở, ty. Mỗi quận (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) có
từ 20-25 phòng ban. Càng cồng kềnh thì hiệu lực và hiệu quả quản lý càng
giảm sút, gia tăng tình trạng quan liêu, cấp trên không nắm được tình hình
cấp dưới và cơ sở, cấp dưới báo cấp trên không chuẩn xác, nhưng lại thiếu
các cơ chế phát hiện, ngăn ngừa, làm cho tiêu cực trong bộ máy nhà nước
gia tăng. Tổ chức bộ máy quản lý cồng kềnh, nhưng chức năng không rõ
ràng, nên dẫn tới hai xu hướng không thích hợp với nền hành chính nhà
nước: phân tách nhiều bộ ngành quản lý những lĩnh vực chuyên môn hẹp
nên không có khả năng nắm và phối hợp mang tính liên ngành giữa các
SV: Vũ Thi Huế

18



SV: Vũ Thi Huế

19

K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp

Bảng 1.2: Thống kê diễn biến số lượng cán bộ, công chức những năm
1977 – 1986
Năm
Số

1977

1978

1984

1985

1986

872.828

955.828

1.991.510


K35 GDCD


Khóa luận tốt nghiệp
quản lý. Điều đó dẫn tới những diễn biến tự phát trong hoạt động lưu
thông, phân phối, nhất là móc ngoặc giữa cán bộ đang nắm nguồn hàng
nhà nước với tư thương... gây rối loạn nền kinh tế mà không có khung pháp
lý để ngăn ngừa hoặc xử lý. Do thiếu khung pháp lý cần thiết, nên khi đứng
trước những tình thế bức xúc, Nhà nước buộc phải sử dụng các biện pháp
hành chính để xử lý và lúc đó tất yếu vi phạm quyền con người và "nhiều vụ
rất nghiêm trọng, nhưng chưa được xử lý nghiêm minh, kịp thời" [21, tr. 67].
Tám là, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nền hành chính
nhà nước lạc hậu, chậm được đổi mới, tình trạng bao biện ngày càng
nặng nề.
Sự lẫn lộn giữa Đảng và Nhà nước dẫn đến tình trạng vừa bao
biện làm thay, vừa buông trôi khoán trắng cho Nhà nước làm
cho Nhà nước khó phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, vừa thụ động ỷ lại
vào sự lãnh đạo của cơ quan đảng, vừa lúng túng do dự không
dám nhận trách nhiệm vì các quyết định của mình [21, tr.71].
Đặc thù lãnh đạo của Đảng đối với từng cơ quan lập pháp, hành pháp,
tư pháp; giữa Trung ương và địa phương; giữa vai trò tập thể và chức trách
cá nhân; thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan lãnh đạo Đảng đối với
nhiệm vụ lãnh đạo nền hành chính... chưa được làm rõ. Đây là kẽ hở để một
bộ phận đảng viên lạm quyền, đối với những công việc mang tính công vụ
thì buông lỏng, đùn đẩy trách nhiệm, còn đối với những công việc mang
lại tư lợi thì lạm dụng. Càng bao biện chức năng của Nhà nước, thì càng
tạo kẽ hở để cho những đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng, nhất là
trong điều kiện thiếu khung pháp lý cần thiết để đặt đảng viên hoạt động dưới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status