TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
---------***--------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XU HƯỚNG ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP BÁN LẺ CỦA VIỆT NAM
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa tiếng Anh
Ý nghĩa tiếng Việt
B2B
Business to Business
Doanh nghiệp tới doanh nghiệp
B2C
Business to Customer
PR
Public Relations
Quan hệ công chúng
ROI
Return on Investment
Tỉ lệ hoàn vốn đầu tư
SEO
Search Engine Optimization
Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm
TMĐT
WTO
Thương mại điện tử
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Tên
Biểu đồ 1.1
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá
35
thực tế phân theo thành phần kinh tế từ năm 2009 đến năm 2011
Cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Biểu đồ 2.2
theo giá thực tế phân theo ngành kinh doanh qua từ năm 2009 đến
36
năm 2011
Biểu đồ 2.3
Chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam
37
Biểu đồ 2.4
Mức độ thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng theo ngành
39
hàng do ảnh hưởng của lạm phát
Biểu đồ 2.5
Những yếu tố chính góp phần vào tăng trưởng của doanh nghiệp
52
Hình 2.3
Mẫu sự kiện được tổ chức trên mạng xã hội
52
Hình 2.4
Video quảng cáo trên MXH Youtube
53
Hình 3.1
Mô hình tiếp thị qua mạng xã hội dành cho doanh nghiệp lớn
85
Hình 3.2
Mô hình tiếp thị qua mạng xã hội dành cho các chiến dịch ngắn
86
hạn
các doanh nghiệp bán hàng cũng như quảng bá các sản phẩm dịch vụ. Đó chính là
mạng xã hội. Mạng xã hội đã thực sự thay đổi cách con người giao tiếp với nhau. Ở đó,
mọi người tự do thể hiện những tâm trạng, trạng thái của họ, đưa ra quan điểm về một
vấn đề nào đó được quan tâm hay bộc lộ các sở thích, nhu cầu của họ. Sự tương tác
mạnh mẽ trên mạng xã hội giúp con người kết nối bền chặt hơn khiến các thông tin
được lan tỏa với một tốc độ chóng mặt trên toàn cộng đồng. Đây cũng chính là những
cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra những chiến lược kinh doanh, quảng bá thương hiệu
cũng như các sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
7
Trên thế giới đã bắt đầu xuất hiện các thuật ngữ ám chỉ các hoạt động liên quan
đến việc ứng dụng mạng xã hội trong kinh doanh của các doanh nghiệp chẳng hạn như
social media (truyền thông xã hội), content marketing (marketing nội dung)… Không ít
các doanh nghiệp nước ngoài đã mở các chiến dịch truyền thông rầm rộ trên các trang
mạng xã hội nhằm thu hút sự chú ý của đông đảo cộng đồng mạng và đã dành được
những thành công không nhỏ từ những lợi ích mà mạng xã hội đem lại. Đó là lượng
người dùng khổng lồ đang không ngừng tăng lên, sự tiết kiệm chi phí, tốc độ lan tỏa
thông tin nhanh chóng… Tuy nhiên, ở Việt Nam, đây có thực sự là một trào lưu kinh
doanh của các doanh nghiệp mà nhất là các doanh nghiệp bán lẻ trong nước? Với khả
năng nắm bắt nhanh nhạy các xu thế Internet trên thế giới, các mạng xã hội nước ngoài
đã thâm nhập vào Việt Nam cùng với sự ra đời của các mạng xã hội trong nước đã
nhanh chóng thu hút được lượng người dùng đông đảo và cho thấy những tiềm năng,
lợi ích kinh tế có thể đem đến cho các doanh nghiệp Việt Nam như những gì mà mạng
xã hội mang lại cho các doanh nghiệp nước ngoài.
Vậy đối với các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam, mạng xã hội đã được khai
thác ở mức độ như thế nào? Các doanh nghiệp thực sự bắt kịp xu thế của thế giới hay
chưa? Những thuận lợi, khó khăn nào mà các doanh nghiệp bản lẻ của Việt Nam gặp
phải khi triển khai ứng dụng mạng xã hội trong kinh doanh? Những nghiên cứu về các
Quan sát, thống kê để thu thập số liệu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, đồ thị, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về mạng xã hội và hoạt động bán lẻ tại Việt Nam
9
Chương 2: Tình hình ứng dụng mạng xã hội đối với các doanh nghiệp bán lẻ của
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm phát huy hiệu quả việc ứng dụng mạng xã hội trong
kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Do đây là một đề tài tương đối mới về một lĩnh vực còn đang trong giai đoạn
phát triển ở Việt Nam, thời gian nghiên cứu và hiểu biết còn hạn chế nên khóa luận khó
tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những nhận xét, đóng góp ý
kiến chân thành, tích cực từ phía quý thầy cô và các bạn.
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ TẠI
VIỆT NAM
1.1. Khái niệm chung về mạng xã hội
1.1.1. Khái niệm mạng xã hội
Khoản 14, điều 1, Nghị định 97/2008/NĐ- CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng
dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet quy định: “Dịch vụ mạng xã hội trực
tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác,
chung, sự tham gia các nhóm, hội… Trên mạng xã hội, người sử dụng có thể cơ hội
được thể hiện cái Tôi của mình, có thể đưa ra tiếng nói riêng thông qua việc viết các
dòng trạng thái (status), blog (notes) hay cùng bạn bè thảo luận về một vấn đề được xã
hội quan tâm. Nhờ vào đó, các thành viên mạng xã hội có thể hiểu thêm về nhau và các
doanh nghiệp từ đó có thể nắm bắt thêm nhu cầu, thái độ, xu hướng, thị hiếu của khách
hàng để đưa ra các chiến lược kinh doanh, tiếp thị hợp lý.
1.1.2.
Lịch sử mạng xã hội
Tuy mới thực sự bùng nổ trong khoảng 10 năm trở lại đây nhưng những nhân tố
đầu tiên hình thành nên các mạng xã hội đã nhen nhóm từ những năm 70 của thế kỷ
trước.
Năm 1971: Email đầu tiên trên thế giới có nội dung “QWERTYUIOP” được gửi
đi giữa hai máy tính đặt cạnh nhau đánh dấu bước đi đầu tiên cho sự giao tiếp giữa con
người với nhau trong môi trường Internet và là nền móng để phát triển nên các mạng
xã hội như ngày nay.
Năm 1978: Hệ thống Trao đổi dữ liệu (Bulletin Board System hay BBS) được ra
đời. Hệ thống này được đăng tải trên các máy tính cá nhân, yêu cầu người dùng phải
quay số qua modem của máy chủ, trao đổi thông tin qua đường điện thoại tới những
người dùng khác. Đây là hệ thống đầu tiên cho phép người dùng truy cập và tương tác
với nhau dù tốc độ rất chậm bởi chỉ duy nhất một người dùng có thể sử dụng trong một
thời điểm. Một năm sau đó, phiên bản trình duyệt web đầu tiên được xây dựng với việc
sử dụng bảng thông tin Usenet. Usenet được tạo ra bởi Jim Ellis và Tom Truscott, cho
phép người dùng đăng các bài báo, bài viết dưới dạng “tin tức”. Sự khác nhau giữa
Usenet và các hệ thống trao đổi dữ liệu và diễn đàn là nó không chịu sự quản lý, kiểm
duyệt của admin hay server trung tâm nào. Đó là hệ thống diễn đàn mở mà người dùng
có thể thảo luận, đưa ra quan điểm về những vấn đề trong cuộc sống. Hiện nay, có một
số diễn đàn hiện đại hoạt động với ý tưởng tương tự như Usenet là Yahoo! Groups và
Google Groups.
Năm 2004, Mark Zuckerberg ra mắt TheFacebook khi còn ngồi trên ghế trường
đại học Havard với mục đích giúp kết nối, liên lạc giữa các sinh viên trong trường. Tuy
nhiên, với sự phát triển không ngờ, TheFacebook, sau đó đã được đổi tên thành
Facebook, đã vượt ra khỏi phạm vi trường học và trở thành mạng xã hội trực tuyến có
tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Dựa trên nền tảng lập trình Facebook
13
Platform, các thành viên của Facebook có thể tự tạo ra các ứng dụng mới cho các nhân
cũng như người dùng khác. Điều này đã đóng góp không nhỏ cho sự thành công vượt
bậc của trang mạng xã hội này.
Năm 2006, tiểu blog Twitter được ra mắt công chúng và nhanh chóng chiếm
được sự yêu thích của người dùng khi mạng xã hội này cung cấp sự tiện lợi đến không
ngờ cho những ai muốn chia sẻ, cập nhật các trạng thái của mình với bạn bè trên
Internet.
Năm 2008, mạng xã hội Facebook bắt đầu phát triển với tốc độ chóng mặt,
nhanh chóng vượt qua MySpace trở thành website mạng xã hội hàng đầu trên thế giới
về cả tiêu chí lượng người dùng lẫn số lượng truy cập.
Từ đó cho tới nay, các mạng xã hội trên thế giới nói chung cũng như các mạng
xã hội của từng quốc gia nói riêng đã không ngừng được ra đời và ngày càng có những
tính năng được cải tiến, thu hút lượng người dùng lớn tham gia. Sự phát triển không
ngừng của các mạng xã hội cũng đã đi cùng sự gia tăng của các hình thức quảng cáo,
chiến lược marketing giới thiệu sản phẩm, mua bán hàng hóa thông qua loại hình tương
tác trực tuyến đầy tiềm năng này, mở ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội kinh doanh
mới.
1.1.3.
Các mạng xã hội phổ biến trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1. Các mạng xã hội phổ biến trên thế giới
1.1.3.1.1. Facebook
300 triệu. Tháng 2 năm 2010, con số đó tăng lên 400 triệu người và nhanh chóng chạm
mốc 500 triệu người vào cuối năm đó. Tại thời điểm này, năm 2012, Facebook đã sở
hữu số lượng thành viên là hơn 1 tỉ người (Jason Keath, 2012).
Twitter
Twitter là một dạng micro-blog có khả năng cập nhật tin tức, trạng thái của
1.1.3.1.2.
người dụng một cách nhanh chóng do việc giới hạn số lượng ký tự trên mỗi tin nhắn.
Qua đó, các thành viên có thể theo dõi các nội dung được cập nhật từ một người khác
bằng cách “follow” (theo đuôi) người đó. Người khác cũng có thể theo đuôi bạn và
được gọi là “follower”. Mỗi “bài viết” trên Twitter được đăng tải theo thời gian thực
nhưng chỉ được gói gọn trong 140 ký tự. Người dùng sẽ đăng các mẫu thông tin ngắn
gọn này dưới dạng các “tweet” ngay trên website chính thức của Twitter hay thông qua
các thiết bị di động. Tin nhắn Tweet đầu tiên trên thế giới đã được Jack Dorsey gửi đi
vào ngày 21/3/2006, cũng theo đó đánh dấu sự ra đời của trang mạng xã hội hàng đầu
hiện nay. Chính sự ngắn gọn và khả năng lan truyền nhanh, Twitter nhanh chóng chiếm
được sự yêu thích từ phía người dùng.
15
Hiện nay, mỗi ngày đều có hàng triệu tin nhắn Tweet được gửi đi và nhờ đó
Twitter trở thành một trong những công cụ marketing xã hội vô cùng hiệu quả. Nhiều
doanh nghiệp, ca sĩ, ngôi sao điện ảnh trên thế giới và ngay cả tổng thống Mỹ Barack
Obama đã sử dụng Twitter như một công cụ tích cực, hiệu quả để quảng bá hình ảnh,
kết nối tới khách hàng, người hâm mộ.
LinkedIn
LinkedIn là trang mạng xã hội được Reid Hoffman thành lập vào tháng 12 năm
Zing Me là mạng xã hội thuộc sở hữu của công ty Viangame, được ra đời vào
tháng 6 năm 2009. Đây là mạng xã hội đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng công nghệ web
theo thời gian thực. Zing Me cũng chú trọng tới các tính năng cơ bản của các mạng xã
hội như trò chuyện trực tuyến, chia sẻ hình ảnh, file, nhạc, tạo nhóm, viết blog. Độ tuổi
trung bình của thành viên trên Zing Me tương đối thấp, đa phần là giới trẻ, học sinh,
sinh viên. Mạng xã hội thuần Việt này luôn sánh ngang với tầm ảnh hưởng của
Facebook tại Việt Nam, thậm chí có những thời điểm vượt lên so với Facebook để trở
thành mạng xã hội có số lượng người dùng lớn nhất Việt Nam. Hiện nay, số lượng
thành viên trên Zing Me là 8,2 triệu thành viên (We Are Social, 2011)
1.1.3.2.2.
Go.vn
Go.vn là mạng xã hội của Tổng Công ty Truyền thông đa phương tiện
VTC, được ra mắt phiên bản thử nghiệm với địa chỉ www.goonline.vn vào ngày 19
tháng 5 năm 2010. Đây là mạng xã hội đầu tiên ở Việt Nam được ra đời do Nhà nước
“đặt hàng” với mong muốn tạo ra một mạng xã hội thuần Việt mang những nội dung
lành mạnh và bổ ích cho cộng đồng, thu hút được sự tham gia của đông đảo thành viên
mạng Việt Nam cũng như cạnh tranh thông tin với các mạng xã hội nước ngoài. Mạng
xã hội Go.vn có nội dung chủ yếu tập trung vào giao tiếp, giải trí, giáo dục và tương tác
với người dùng được phân ra thành nhiều chuyên mục như goEdu, myGo, goBlogs,
goMobile cung cấp rất nhiều tư liệu về các lĩnh vực liên quan từ các bài giảng, công cụ
soạn bài điện tử, các phương pháp học tập cho tới các bài hát có bản quyền, video, hình
ảnh, game giải trí… giúp cư dân mạng Việt Nam thực sự có một sân chơi thuần Việt và
bổ ích.
1.1.4.
Đặc điểm của mạng xã hội
Đặc điểm đầu tiên và dễ nhận thấy nhất của mạng xã hội đó là sự tương tác
nghiên cứu để phát hiện khách hàng tiềm năng, đối thủ trực tiếp hay tiềm tàng… mà
không mất đến quá nhiều chi phí so với các hình thức điều tra, nghiên cứu truyền thống
khác.
Qua mạng xã hội, các mối quan hệ được thiết lập nhanh chóng và dễ dàng hơn
bất kỳ hình thức nào. Một người ở ngoài thế giới thực có tới vài trăm cho đến một
nghìn người bạn có thể coi là nhiều và sẽ mất nhiều năm để họ có thể làm quen được
với một số lượng bạn bè đông đảo như vậy. Tuy nhiên, điều này không còn là khó khăn
khi chúng ta tham gia vào mạng xã hội. Trong môi trường này, người dùng ban đầu sẽ
kết nối với những người bạn gần gũi nhất với họ nhưng những mối quan hệ khác sẽ
18
nhanh chóng được phát triển. Nhờ vào sự kết nối đơn giản mà những người có số
lượng bạn bè lên tới hàng nghìn trong một thời gian ngắn gia nhập mạng xã hội đã
không còn là một điều xa lạ. Điều đáng nói ở đây là việc các doanh nghiệp có thể tận
dụng những tính năng, ưu thế lớn đó của mạng xã hội để thiết lập nên những mối quan
hệ thân thiết với các khách hàng của mình. Dựa trên những gì thu thập được ở các
mạng xã hội, doanh nghiệp sẽ biết mình cần phải cải thiện những gì để đáp ứng những
nhu cầu của khách hàng, thực hiện chăm sóc khách hàng theo một phương thức ít tốn
kém và bám sát với thị hiếu chung của mỗi cá nhân. Từ đó, niềm tin của khách hàng
vào doanh nghiệp sẽ được nâng cao, giúp việc kinh doanh ngày càng phát triển hơn.
Ngoài những đặc điểm mang tính chất tích cực thì mạng xã hội cũng có một số
mặt còn hạn chế mà các cá nhân, doanh nghiệp cần chú trọng.
Vấn đề đầu tiên đó là vấn đề về thông tin cá nhân của người dùng trong mạng xã
hội. Khi đã tham gia vào mạng xã hội, người dùng sẽ phải cung cấp một số thông tin cá
nhân cơ bản và trong quá trình sử dụng mạng xã hội vào các mục đích cá nhân, người
dùng có thể tiết lộ nhiều hơn nữa những thông tin riêng của mình. Điều này đồng nghĩa
với việc họ cũng phải đối mặt với nguy cơ bị lợi dụng các thông tin cá nhân đã được
đăng tải lên đó. Với nhiều mục đích khác nhau, những thông tin đó sẽ được sử dụng
mạng xã hội thay đổi thói quen sử dụng Internet của đông đảo thành viên đã và đang
tham gia vào các trang mạng này. Còn những nhược điểm của mạng xã hội lại phần lớn
kế thừa từ những nhược điểm vốn có của các dịch vụ trên nền tảng web và cần phải có
những biện pháp khắc phục để các doanh nghiệp có thể khai thác lợi thế của mạng xã
hội để phát triển việc kinh doanh hiện tại.
1.1.5. Tình hình phát triển của các mạng xã hội trên thế giới và Việt Nam
Mạng xã hội đang trở thành một trào lưu đối với một phần đông những người sử
dụng Internet.
Theo điều tra của công ty Vinalink, Việt Nam đã có 20/28 loại hình mạng xã hội
trên thế giới. Trong Top 100 mạng xã hội lớn nhất Việt nam, có 90 MXH là của Việt
nam và 10 MXH là của doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, 10 mạng xã hội của nước
ngoài phủ tới 83% lượng người dùng Internet của Việt Nam và 90 mạng xã hội của
Việt Nam phủ tới 75% lượng người dùng Việt Nam. Như vậy có thể thấy rằng, các
mạng xã hội trong và ngoài nước đang có một sức hút rất lớn đối với cộng đồng sử
dụng Internet của nước ta. Xu thế này đang ngày càng phát triển, không chỉ ở Việt Nam
20
mà ngay cả trên thế giới, những con số sau sẽ cho thấy rõ hơn về tình hình phát triển
mạng xã hội trên thế giới và Việt Nam (Tuấn Hà, 2012).
Về số lượng người dùng
Theo một vài số liệu thống kê, 80% số người sử dụng Internet đã từng dùng các
tiện ích của khoảng 500 mạng xã hội trên thế giới và hàng nghìn trang web có chức
năng như một mạng xã hội.
Với hơn 7 tỉ người đang có mặt trên thế giới vào thời điểm hiện tại thì 2 tỉ người
trong số đó đã và đang sử dụng Internet. Trong 2 tỉ người đó thì hơn 1 tỉ người là thành
viên của các trang mạng xã hội. Mỗi ngày có hơn 600 triệu người đăng nhập vào các
tài khoản mạng xã hội của mình.
Theo đó, Facebook đang là mạng xã hội dẫn đầu về lượng người dùng trên toàn
• 95% người dân Việt Nam có độ tuổi từ 15 đến 24 truy cập Internet
• 73% người dùng Internet tại Việt Nam có độ tuổi dưới 35
• 66% người dùng Internet Việt Nam sử dụng Internet mỗi ngày.
Hơn nữa, 28% cư dân Internet Việt Nam có một tài khoản Facebook trong khi
27% có một tài khoản Zing. Mỗi 3 giây lại có một người dùng Việt Nam gia nhập
Facebook. 24% người sử dụng Internet Việt Nam có một tài khoản Youtube.
Thay đổi mạnh mẽ nhất trong bối cảnh kỹ thuật số tại Việt Nam trong năm nay
là sự thay đổi sức mạnh truyền thông xã hội. 12 tháng trước mới chỉ có 2,9 triệu người
sử dụng Facebook tại Việt Nam thì hiện đã có hơn 8,5 triệu người dùng – tăng trưởng
hơn 200%. Theo dữ liệu thống kê từ Facebook, lượng người dùng tại Việt Nam đã tăng
500.000 trong hai tuần đầu tháng 10/2012.
Cùng với đó, Zing Me, một sản phẩm mạng xã hội của Việt Nam cũng nằm
trong top dẫn đầu về lượng người dùng với con số 8,2 triệu tài khoản (We Are Social,
2011).
Về độ tuổi người dùng
Các cuộc điều tra của nhiều tổ chức trên thế giới đều cho thấy độ tuổi người
dùng mạng xã hội đều rất đa dạng nhưng tập trung phần lớn vào độ tuổi trẻ.
22
Biểu đồ1.1: Tỉ lệ phần trăm độ tuổi người dùng mạng xã hội tại Mỹ (Đơn vị:%)
(Nguồn: Neilsen (2011,) State of the Media: The Social Media Report Q3 2011 )
Từ biểu đồ trên, có thể thấy, người dùng mạng xã hội tại Mỹ có độ tuổi từ 25
đến 34 chiếm tỉ lệ cao nhất. Tỉ lệ cao tiếp theo tập trung vào những người có độ tuổi 18
đến 24 và 35 đến 44. Đây đều là những người thuộc lớp dân số trẻ, do còn đi học, đi
làm nên có nhiều cơ hội tiếp xúc với Internet, nhanh chóng tiếp cận với những trào lưu
mới trên thế giới nên phần lớn đều đăng ký các tài khoản mạng xã hội. Tỉ lệ phần trăm
độ tuổi người dùng mạng xã hội tại Châu Âu cũng cho thấy những con số tương tự.
bè trên mạng xã hội (Đơn vị: %)
(Nguồn: Insites Cousulting (2011), Social Media around the World 2011)
Như vậy, mọi người kết nối với nhau trên mạng xã hội đều dựa trên cơ sở những
mối quan hệ ngoài đời thực như bạn bè, đồng nghiệp, bạn của bạn… Điều này cho thấy
được nhu cầu của mọi người về sự kết nối nhiều hơn, nhanh hơn và tiện lợi hơn với
bạn bè, người thân thông qua các mạng xã hội. Nhờ môi trường tốt như vậy mà mọi sự
chia sẻ làm tăng sự gắn bó giữa các mối quan hệ cũng được cải thiện, tạo đà cho sự
tham gia ngày càng nhiều của lượng người sử dụng mạng xã hội.
Tất cả những con số thống kê trên đây cho thấy, mạng xã hội đang có sức thu
hút rất lớn đối với rất nhiều người sử dụng Internet trên toàn thế giới và cả ở Việt Nam
ở nhiều độ tuổi khác nhau và mức độ tăng trưởng rất nhanh. Điều này tạo ra một môi
trường đầy tiềm năng để các doanh nghiệp kinh doanh nói chung và doanh nghiệp bán
lẻ nói riêng để tiếp cận và khai thác.
1.2. Khái quát chung về hoạt động bán lẻ
1.2.1. Khái niệm hoạt động bán lẻ
Khoản 8, Điều 3, Nghị định 23/2007/NĐ- CP của Chính phủ quy định: “Bán lẻ
là hoạt động bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.”
Hoạt động bán lẻ đã hình thành từ rất lâu đời cùng với sự phát triển của lịch sử
loài người. Trải qua quá trình lâu dài như vậy, các nhà bán lẻ đã rút ra những kinh
24
nghiệm riêng để nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng, trong đó tập trung chủ yếu vào
các vấn đề sau:
- Phát triển thị trường mục tiêu: Không chỉ đơn thuần là đưa sản phẩm đến tay
người tiêu dùng cuối cùng mà các nhà bán lẻ cũng cần đưa được các sản phẩm của họ
đến đúng đối tượng khách hàng. Do đó việc xác định thị trường mục tiêu sẽ giúp nhà
bán lẻ biết được chính xác phân khúc khách hàng thực sự cần đến sản phẩm của mình
đưa ra các chương trình khuyến mại… chính là những công cụ để các nhà bán lẻ thu
hút sự chú ý từ phía khách hàng. Bên cạnh các hình thức quảng cáo trên truyền hình,
báo, tạp chí, các doanh nghiệp bán lẻ hiện nay đã có xu hướng sử dụng nhiều hơn các
công cụ khác như quảng cáo trên Internet trong các website hay thông qua các diễn
đàn, mạng xã hội…
- Xây dựng chính sách phân phối sản phẩm: Đây cũng là một yếu tố quan trọng
để doanh nghiệp có thể đưa sản phẩm tới tay khách hàng một cách thuận tiện và thành
công nhất. Nhà bán lẻ cần đảm bảo có một chính sách phân phối hợp lý để khách hàng
tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ với điều kiện thuận lợi nhất, phù hợp với tính chất các
sản phẩm của mình, tiết kiệm chi phí tối đa cho doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp
bán lẻ cần phải thân trọng khi quyết định lựa chọn địa điểm kinh doanh cùng với các
kênh phân phối khác để thu hút khách hàng đến với sản phẩm, dịch vụ của mình.
1.2.2. Các hình thức bán lẻ
Có thể nói, lựa chọn cách thức bán hàng phù hợp cũng góp phần cho thành công của
doanh nghiệp bán lẻ khi muốn đưa các sản phẩm của mình tới tay người tiêu dùng.
Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện rất nhiều hình thức, thể loại bán lẻ đa dạng từ
truyền thống cho tới việc mở rộng lên môi trường Internet.
1.2.2.1. Hình thức bán lẻ không qua cửa hàng
1.2.2.1.1. Bán hàng trực tiếp
Hình thức này xuất phát từ những người bán rong cách đây nhiều thế kỷ khi họ
đem các sản phẩm của mình trực tiếp giới thiệu tới mọi người họ gặp. Các sản phẩm
được cung cấp bởi những người bán lẻ trực tiếp thường là các hàng hóa tiêu dùng thiết
yếu như: mỹ phẩm, thực phẩm hay các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu khác. Hình thức
bán hàng trực tiếp này có ưu điểm là tiết kiệm chi phí thuê mặt bằng, cửa hàng. Người
bán có thể tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, vì vậy nắm bắt được nhu cầu của từng
khách hàng về các sản phẩm mình cung cấp, ghi nhận những phản hồi trực tiếp của họ
để từ đó cả thiện sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng.