PHỤ LỤC: BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU1
Đề tài: “Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của
người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ”
Đề tài hướng đến các mục tiêu sau:
-
Nhận biết thương hiệu sữa bột Nutifood
-
Đo lường lòng ham muốn thương hiệu
-
Chất lượng cảm nhận thương hiệu đối với thương hiệu Nutifood
-
Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu Nutifood
1 Thông tin đáp viên
Nghiên cứu được tiến hành trên 50 mẫu kết quả thu được là có 04 mẫu đáp viên hoặc
gia đình làm việc có liên quan đến ngành sữa, 2 mẫu đáp viên làm việc trong các cơ
quan truyền thông, báo chí, 4 mẫu các đáp viên đã từng tham gia các cuộc phỏng vấn.
Sau khi lọc sạch dữ liệu tác giả đã loại 10 mẫu trên ra khỏi phân tích.
công việc đáp
viên liên quan
đến ngành sữa
8%
Truyền thông,
nhân viên văn
20%
phòng
22%
Hình 5.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp đáp viên
1
Trích từ chuyên đề tốt nghiệp đại học của sinh viên Trương Thị Diệu Hoàng (Đại học An
Giang), GVHD: ThS. Võ Minh Sang năm 2009.
1
Trong 40 mẫu đạt yêu cầu trong nghiên cứu kết quả cho thấy nghề nghiệp của đáp viên
nhiều nhất là nội trợ (29%), thứ hai là nhân viên văn phòng2 (22%), thứ ba là giáo viên
(20%), kế đó là công nhân và những người buôn bán (13%), còn lại là làm các ngành
nghề khác (thợ uốn tóc). Xét về độ tuổi vì nghiên cứu chỉ tập trung vào những phụ nữ
đang có con nhỏ do đó tuổi của đáp viên chỉ tập trung trong khoảng 20 – 35 tuổi. Cơ
cấu tuổi của đáp viên được thể hiện qua biểu đồ:
30 - 35
47%
20 - 25
23%
25 - 30
30%
Hình 5.3 Biểu đồ thể hiện cơ cấu tuổi của đáp viên
Trong phần này kỹ thuật phỏng vấn trong nghiên cứu là các phỏng vấn viên không sử dụng Showcard mà sử
dụng phương pháp phỏng vấn viên hỏi và đáp viên trả lời bằng trí nhớ, bảng câu hỏi dùng trong phỏng vấn là câu
hỏi mở, nhãn hiệu đáp viên trả lời đầu tiên sẽ được ghi vào phiếu điều tra.
2
%
Abbott (15%). Các nhãn hiệu đầu tiên mà người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo là Dumex
và Fiso (chiếm 10%), Enfagrow với 7,5%, Gain IQ với 5%.
25
20
20
15
15
15
12.5
10
10
10
7.5
5
5
ro
g
fa
En
e
ur
s
En
o
is
Fr
n
ai
G
IQ
ti
Nu
s
lu
aP
i
Pe
việc văn phòng thì 33,3% họ nghĩ đến các sản phẩm của Nutifood, đồng mức 22,2% là
các sản phẩm của Abbott và Mead Johnson, đồng mức 11,1% là các sản phẩm của
Vinamilk và Dutch Lady. Đối với giáo viên 37,5% trong số họ nghĩ đến các sản phẩm
của Dutch Lady, các sản phẩm của Vinamilk và Nutifood dữ mức 25% và còn lại 12,5
% là sản phẩm của Abb
3
Nutifood
Dutch Lady
Abbott
Mead Johnson
Thợ uốn tóc
Nội trợ
Vinamilk
100%
16.7%
nhân viên văn phòng
giáo viên
Dumex
40%
40%
20%
0%
20%
40%
60%
80%
100%
Hình 5.6 Biểu đồ thể hiện sản phẩm của công ty được nghĩ đến
đầu tiên phân theo nghề nghiệp
Chúng ta có thể thấy rằng những người có nghề nghiệp khác nhau thì khả năng hiểu
biết cũng như nhận định vấn đề có thể khác nhau kết quả nghiên cứu cũng cho thấy với
những nghề nghiệp khác nhau thì nhãn hiệu được người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên
cũng khác nhau4.
“Ngoài nhãn hiệu nghĩ đến đầu tiên, nhãn hiệu nào người tiêu dùng sẽ nghĩ đến
tiếp theo?”
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu cô gái Hà Lan được người tiêu dùng biết đến
nhiều nhất với 27,5 % tổng số người tiêu dùng được hỏi, nhãn hiệu Nuti chỉ có 7,5 %
người tiêu dùng nghĩ đến. Ngoài ra, một số nhãn hiệu khác cũng được người tiêu dùng
nghĩ đến như Dutch Lady, Milo, Uc Gold nhưng ở chỉ chiếm 2,5% tổng số người tiêu
dùng được hỏi.
%
30
bo
Ab
co
a
iH
ga
n
La
lac
ie
D
ex
m
u
D
h
tc
du
dy
La
w
ro
ag
4
Công ty
Bảng 5.1 Tỷ lệ sản phẩm của công ty được người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo
2,50 %
Khác
Dumex
Nestle
7,50
2,50
Abbott
12,50
Mead jonhson
15,00
Nutifood
7,50
Dutch Lady
40,00
Người thân,
15%
Siêu thị 17.5%
Hình 5.8 Biểu đồ thể hiện cơ cấu các hình thúc truyền thông
Có thể nói sữa bột là một loại hàng hóa đặc biệt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
của trẻ do đó bên cạnh việc tham khảo ý kiến của người thân thì việc tư vấn của Bác sĩ
cũng đóng vai trò quan trọng trong nhận biết các nhãn hiệu sữa. Tuy nhiên sự tác động
này hiện nay chưa lớn lắm chỉ có 7,5% người tiêu dùng cho biết họ nhận biết các nhãn
hiệu sữa bột dành cho trẻ em thông qua các Bác sĩ. 12,5% cho biết họ biết các nhãn
hiệu thông qua báo chí5.
5
Báo chí có tác động tới nhận biết nhãn hiệu sữa chủ yếu là các tạp chí dành cho phụ nữ như tiếp thị và gia đình,
báo phụ nữ….
5
Bảng 5.2 Tác động của truyền thông theo nghề nghiệp
Hình thức truyền thông
Bác
sĩ
0.0%
Báo
chí
20.0%
16.7%
42.9%
26.3%
66.7%
0.0%
100.0%
40.0%
0.0%
100.0%
16.7%
0.0%
100.0%
28.6%
0.0%
100.0%
26.3%
5.3%
100.0%
Buôn bán
Công nhân
Nghề
nghiệp Giáo viên
25
20
20
15
15
15
%
15
10
10
10
5
5
5
2.5
2.5
0
ott
bb
an
uti
N
lus
P
eia
P
Hì nh 5.9 Bi ểu đồ thể hi ện nhãn hi ệu đang dùng
6
Kết quả điều tra thị trường năm 2007 của báo Sài Gòn Tiếp Thị được đăng tải trên địa chỉ
xnewsid=16974&fld=HTMG2007032116974.htm
6
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu được người tiêu dùng sử dụng nhiều nhất là
Dielac với 20% tổng số người người tiêu dùng được hỏi. Nhãn hiệu được người tiêu
dùng sử dụng ít nhất là các nhãn hiệu Ensure và Peiaplus với 2,5 %. Nhãn hiệu Nuti
của Nutifood 15% chỉ đứng sau Dielac và đồng tỷ lệ với nhãn hiệu Abbott (15%) và cô
gái Hà Lan. Bên cạnh các nhãn hiệu trên thì Các nhãn hiệu Dumex và Fiso cũng được
sử dụng nhiều (chiếm 10%), Enfagrow với 5%, Gain IQ với 5%. Có điểm đáng chú ý
là 95% những nhãn hiệu mà người tiêu dùng đang sử dụng là những nhãn hiệu mà họ
nghĩ đến đầu tiên. Điều này chứng tỏ rằng nhãn hiệu được người tiêu dùng nghĩ đến
đầu tiên có mối liên hệ chặt với quyết định mua hàng của họ7 những nhãn hiệu đó sẽ
được ưu tiên trong việc lựa chọn. Hiện nay một nhãn hiệu có nhiều dòng sản phẩm
khác nhau8 nhưng phần lớn người tiêu dùng chỉ biết được mình đang sử dụng nhãn
hiệu nào còn về cụ thể tên nhãn hiệu thì hầu như tiêu dùng không nghĩ đến do đó vai
Nutifood
Dutch Lady
Abbott
Mead Johnson
Dumex
Vinamilk
100%
10 - 15 trieu
16.7%
7 - 10 trieu
50%
30.8%
5 - 7 trieu
14.3%
4 - 5 trieu
23.1%
70%
14.3%
22.2%
2 - 3 trieu
0%
16.7%
23.1%
14.3%
42.9%
11.1%
3 - 4 trieu
16.7%
80%
90%
100%
Hình 5.10 Nhãn hiệu sử dụng xét theo thu nhập
15%
8%
13%
không biết
nhận biết
đúng
loại hình công ty
nhận biết
sai
Hì nh 5.11 Bi ểu đồ nhận bi ết công ty
Kết quả nghiên cứu cho thấy 79% người tiêu dùng hoàn toàn có thể biết được nhãn
hiệu của họ đang dùng thuộc công ty nào, chỉ có 13% số người tiêu dùng không biết
10
Kết quả kiểm định Chi – Square với mức ý nghĩa kiểm định 0,094 >0,05
Trong nghiên cứu này, doanh nghiệp nước ngoài được hiểu là các doanh nghiệp có trụ sở ở nước ngoài hoặc ở
Việt Nam nhưng có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp trong nước là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong
nước
11
8
2.7%
0.0%
0.0%
31.4%
0.0%
33.3%
2.9%
0.0%
0.0%
100.0% 100.0%
100.0%
Chỉ có những những người công nhân và giáo viên mới có nhận biết sai công ty sở hữu
sản phẩm họ đang sử dụng, không có đối tượng là những người buôn bán hoặc nhân
viên văn phòng nhận biết sai hoặc không biết sản phẩm họ đang sử dụng thuộc công ty
nào. Nguyên nhân là những người buôn bán họ rất quan tâm đến doanh nghiệp sản
xuất ra hàng hóa họ sử dụng do đó khả năng nhận biết của họ cao.
Về loại hình doanh nghiệp, phần lớn người tiêu dùng biết được sản phẩm họ đang
sử dụng là sản phẩm trong nước hay sản phẩm nước ngoài (kết quả chiếm 85% tổng số
người tiêu dùng được hỏi) chỉ có một phần nhỏ người tiêu dùng đoán sai về loại hình
doanh nghiệp12 ( số đối tượng này chiếm 15% tổng số người được hỏi) chủ yếu là
những người làm nghề nội trợ hoạch công nhân. Mặc dù tâm lý sướng ngoại cho rằng
sản phẩm ngoại mới có chất lượng tốt hơn hàng nội đã đang dần được thay đổi nhưng
chưa triệt để do đó còn một vài đối tượng sử dụng các loại sữa nội như Nuti, Peiaplus
của Nutifood nhưng lại cho rằng nhãn hiệu đó là của các doanh nghiệp nước ngoài.
Kết luận: đa số người tiêu dùng đều biết được công ty của nhãn hiệu họ đang sử dụng
và loại hình của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên vẫn còn một số ít người tiêu dùng không
biết hoặc nhận biết sai. Những người có nghề nghiệp khác nhau thì nhận biết của họ
cũng khác nhau.
Thời gian sử dụng
7.5%
4 - 5 tháng,
12.5%
2 - 3 tháng,
10%
Hình 5.12 Biểu đồ thể hiện thời gian sử dụng nhãn
hiệu đang dùng
Bảng 5.4 Thời gian sử dụng theo nhãn hiệu đang dùng
Abbott
Co gai
Ha Lan
-
12.5%
12.5%
-
50.0% 100.0%
Dumex
-
- 25.0%
-
-
50.0%
-
25.0% 100.0%
Enfagrow
-
-
- 50.0%
-
- 25.0%
- 100.0%
-
-
-
-
- 100.0%
16.7%
-
-
33.3% 100.0%
- 100.0%
50%
6 - 12 tuổi
50%
2 tuần - 1 tháng
3 - 6 tuổi
28.6%
7.1%7.1% 14.3%
1 - 3 tuổi 6.7% 13.3% 6.7%6.7% 13.3%
6 - 12 tháng tuổi
20%
20%
42.9%
13.3%
20%
1 - 2 tháng
2 - 3 tháng
40%
Như vậy, thời gian sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng có mối quan hệ với độ tuổi
của trẻ nhỏ nhất trong gia đình. Độ tuổi của trẻ nhỏ nhất càng cao thì thời gian sử dụng
nhãn hiệu đang dùng càng lâu. Với kết quả trên chúng ta có thể thấy rằng đối với mặt
hàng sữa bột dành cho trẻ em, người tiêu dùng rất ít khi thay đổi nhãn hiệu trong mua
sắm. kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có tới 77,5% số người được hỏi cho biết họ vẫn
tiếp tục sử dụng nhãn hiệu mà họ đang sử dụng. chỉ có 22,5% cho rằng họ sẽ chuyển
sang sử dụng nhãn hiệu khác khi bé sử dụng hết sản phẩm dở dang. Giả thích cho việc
không tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đang dùng, người tiêu dùng đưa ra 3 nguyên nhân
chính là: người tiêu dùng cho rằng giá nhãn hiệu họ đang sử dụng là quá cao13
(55,6%), nhãn hiệu họ đang sử dụng có chất lượng không tốt14 ( 33,3%), và nguyên
nhân cuối cùng là do trẻ không thích uống loại sữa đó (11,3%). Xét theo thời gian đã
sử dụng nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có chỉ có những trường hợp sử
dụng sản phẩm dưới 2 tháng mới cho biết họ sẽ ngưng không sử dụng nữa và chuyển
sang sử dụng nhãn hiệu khác.
> 6 tháng
100%
5 - 6 tháng
100%
4 - 5 tháng
100%
3 - 4 tháng
100.0
khong
co
Các nhãn hiệu đã từng sử dụng trước đây
Có 17,5% người tiêu dùng cho biết từ trước đến nay họ chỉ sử dụng một loại
sữa duy nhất, 82,5% cho biết họ đã từng thay đổi nhãn hiệu cho trẻ. Nhãn hiệu mà
trước đây họ đã từng sử dụng được thể hiện qua biểu đồ hình 5.15:
Nuti, 21.2%
Uc gold, 3.0% Abbott, 6.1%
co gai Ha Lan,
15.2%
Gain IQ, 3.0
Enfagrow, 12.1% Dumex, 12.1%
dielac, 27.3%
Hình 5.15 Biểu đồ các nhãn hiệu trước đây đã từng sử dụng
13
Nghiên cứu còn cho thấy những đối tượng này chủ yếu là đang sử dụng các nhãn hiệu của các doanh nghiệp
nước ngoài như Abbott, Mead Johnson vàDumex
14
Chủ yếu là những đối tượng đang sử dụng các nhãn hiệu như Dielac, Nuti, cô gái Hà Lan
11
chieu cao
be tang can
37%
5%
cham
5%
Hình 5.16 Biểu đồ thể hiện lý do không tiếp tục sử dụng
Song Song với các nguyên nhân dẫn đến việc người tiêu dùng không muốn sử dụng lại
các nhãn hiệu trước đây đã sử dụng, nhóm đối tượng cho biết họ sãn sàng sử dụng lại
đưa các lý do: Giá cả phù hợp hơn nhãn hiệu đang sử dụng 42%, chất lượng các sản
phẩm đó tốt hơn sản phẩm đang sử dụng (25%), phù hợp với khẩu vị của trẻ hơn (
17%), bé tăng cân nhanh hơn sản phẩm hiện tại (8%), và 8% cho rằng họ muốn sử
dụng lại sản phẩm cũ vì lý do muốn thay đổi qua lại gữa các loại sản phẩm.
hop voi khau vi
tre
17%
thay doi qua
lai giua cac
loai
8%
be tang can
nhanh
chat luong tot
8%
25%
Người tiêu dùng có thói quen đi mua sắm tại các siêu thị thay vì tại các chợ hay các
của hàng bán lẻ truyền thống đặc biệt là mặt hàng sữa. theo một nghiên cứu cuối năm
2008 của báo Sài Gòn tiếp thị thì khi mua sữa kênh phân phối siêu thị chiếm áp đảo
với 45%, các tiệm tạp hóa 20% rồi mới tới các của hàng chuyên17 … , một loại phương
tiện thông tin đại chúng thông dụng nhất mà chúng ta tưởng rằng sẽ hiệu quả nhất là
TV nhưng chỉ có 19% người tiêu dùng cho biết họ nhìn thấy logo đó trên TV. Băng
rôn, bảng hiệu, nhà chờ xe Buýt cũng là những phương thức truyền thông mà nhiều
doanh nghiệp nhắm tới nhưng chỉ có 9% người tiêu dùng sữa ở quận Ninh Kiều của
thành phố Cần Thơ cho biết họ biết được hình ảnh logo sản phẩm của Nutifood thông
qua kênh này, lý giải cho điều này người tiêu dùng cho biết tại quận Ninh Kiều
Nutifood rất ít sử dụng các kênh này trong công tác truyền thông dẫn đến họ ít thấy
hình ảnh logo qua kênh truyền thông này. Hai kênh được người tiêu dùng biết đến ít
nhất là báo và các tạp chí với 3%, thông qua bạn bè, người thân 3%.
15
Dẫn theo />Xem thêm hình ảnh logo ở phụ lục trong phần bảng hỏi phỏng vấn
17
Số liệu được dẫn theo http;//www.sgtt.com.vndetail27.aspxnewsid=46741&fld=HTMG2009021046741.htm
16
13
tren hop san bao va tap chi
pham
3%
35%
ban be, nguoi
9%
khong biet
22%
Nutifood
66%
hình 5.20 Biểu đồ thể hiện sự nhận biết công ty
Với kết quả này chúng ta có thể thấy rằng công tác xây dựng thương hiệu công ty song
song với việc xây dựng thương hiệu nhãn hiệu của công ty cổ phần cổ phần thực phẩm
dinh dưỡng Đồng Tâm còn tương đối kém hiệu quả dẫn đến hiện tượng người tiêu
dùng chỉ nhận biết được sản phẩm và cho rằng công ty không phải là chủ sở hữu của
các nhãn hiệu đó. Bên cạnh đó vẫn tồn tại 22% người tiêu dùng đã biết đến logo nhưng
hoàn toàn không biết logo sản phẩm đó của công ty nào và 3% nhận định sai chủ sở
hữu của logo. Xét theo nghề nghiệp nghiệp, kết quả cho cho thấy 66,7% những người
nội trợ biết được logo đó là của Nutifood nhưng 100% trong số họ đều chưa biết
Nutifood và công ty cổ phần thực phảm dinh dưỡng Đồng Tâm là một doanh
nghiệp.14,3% giáo viên biết công ty cổ phần thực phảm dinh dưỡng Đồng Tâm và
87,5% biết được logo sản phảm đó là của Nutifood, số còn lại không biết hoặc biết sai
về công ty sở hữu logo.
18
Trong bảng câu hỏi phỏng vấn câu này không nêu tên công ty là Nutifood mà nêu tên là công ty cổ phần thực
phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm, mục đích của tác giả là để đo lường sự nhận biết thương hiệu công ty và sự nhận
biết thương hiệu sản phẩm
14
50%
50%
50%
50%
20%
40%
60%
80%
khong biet
Nutifood
100%
Hình 5.21 Biểu đồ sự nhận biết công ty theo nghề nghiệp đáp viên
Kết luận: phần lớn người tiêu dùng đều đã nhìn thấy logo sản phẩm của Nutifood. Họ
thấy chủ yếu trên bao bì của sản phẩm. Trong số họ phần dông chưa từng biết đến
công ty cổ phần cổ phần thực phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm mà chỉ biết công ty
Nutifood, họ cho rằng 2 công ty trên là 2 doanh nghiệp riêng biệt.
3.2 Nhận biết các nhãn hiệu thuộc công ty
Theo như kết luận trên một câu hỏi được đặt ra là “ như vậy người tiêu dùng sữa tại
quận Ninh Kiều có biết các sản phẩm của Nutifood hay không? Đã từng sử dụng
chúng chưa? Và điều gì ấn tượng với họ khi nói đến Nutifood?”
HÌnh 5.22 Biểu đồ thể hiện quan hệ giữa nhận biết logo và các sản phẩm
Xét Trong số những người biết các sản phẩm của Nutifood có 51,6% cho biết họ đã
từng sử dụng các sản phẩm của Nutifood và 48,4% cho biết họ chưa từng sử dụng sản
phẩm của Nutifood, xét trên tổng thể có 40% số người tiêu dùng đã từng sử dụng sản
15
phẩm của Nutifood, đây là kết quả đáng mừng đối với công ty Nutifood19. Tuy nhiên
đáng chú ý là có 40% người tiêu dùng đã từng sử dụng sản phẩm của Nutifood nhưng
hiện tại chỉ có 15% số lượng người tiêu dùng vẫn dang sử dụng số còn lại đã chuyển
sang sử dụng nhãn hiệu khác. Tuy nhiên có 57% người tiêu dùng trong nhóm đối
tượng đã chuyển sang sử dụng nhãn hiệu khác cho biết trong tương lai họ sẽ sử dụng
lại các các nhãn hiệu của Nutifood, đây chủ yếu là những đối tượng trước đây sử dụng
các sản phẩm của Nutifood sau đó chuyển sang sử dụng các nhãn hiệu của nước ngoài
như Dumex, Abbott… nhưng vì họ cho rằng giá của các loại sữa này quá cao trong khi
giá của Nutifood thì phù hợp hơn.
Đối với những đối tượng đã từng sử dụng sản phẩm của Nutifood kết quả nghiên cứu
cho thấy có đến 43% không có ý kiến khi nói đến ấn tượng của thương hiệu trong họ,
trong khi đó có 18% cho biết họ ấn tượng với những đoạn quảng cáo của Nutifood,
13% cho rằng họ ấn tượng với vị ngọt của sản phẩm, số còn lại ấn tượng với kiểu
dáng, mẫu mã bao bì sản phẩm (13%) và giá của sản phẩm cũng là một ấn tượng đối
với họ (13%).
quang cao an
tuong
18%
vi ngot
13%
phẩm của Nutifood trên là khá lớn.
16
qua khả năng sãn sàng mua hàng của người tiêu dùng20. Trong nghiên cứu phần này
bao gồm các câu hỏi C20, C21.
4.1 Mức độ yêu thích thương hiệu
Với số điểm từ 1 đến 5 thể hiện cho sự yêu thích thương hiệu Nutifood của người tiêu
dùng kết quả thống kê cho thấy có 31,1% người tiêu dùng rất không thích thương hiệu
Nutifood, 18,8% người tiêu dùng thể hiện quan điểm không thích đối với thương hiệu
Nutifood, 40,6% người tiêu dùng thể hiện quan điểm bình thường với thương hiệu,
34,4% cho biết họ thích thương hiệu Nutifood, 31,3% cho biết họ rất thích. Với số
điểm tối đa là 5 điểm kết quả điều tra múc độ ưu thích của người tiêu dùng tại quận
Ninh Kiều đạt 3,16 điểm, với số điểm trên ta có thể kết luận rằng đối với những người
đã từng biết đến các nhãn hiệu của Nutifood tại quận Ninh Kiều thì nhãn hiệu
Nutifood chưa được nhiều người yêu thích mặc dù tỷ lệ mà họ sử dụng sản phẩm này
là khá cao.
Xét theo thu nhập: kết quả cho thấy 100% người tiêu dùng có thu nhập của gia
đình từ 10 đến 15 triệu đồng rất không thích, 66,7% người có thu nhập gia đình từ 7
đến 10 triệu thể hiện quan điểm bình thường số còn lại cho biết họ không thích. ở
những đối tượng có thu nhập của gia đình từ 5 đến 7 triệu thì có 58,3% cho biết họ
thích thương hiệu Nutifood, 33,3% cho biết họ bình thường trước thương hiệu
Nutifood số còn lại cho biết họ không thích. Chỉ có những người có thu nhập của gia
đình từ 4 đến 5 triệu mới cho biết họ rất thích thương hiệu Nutifood ( chiếm 20% tổng
số đối tượng thuộc nhóm này).
100%
10 - 15 trieu
33.3%
thich
25%
rat thich
50%
100%
1 - 2 trieu
0.0%
rat khong thich
66.7%
20.0%
40.0%
60.0%
80.0%
100.0%
Hình 5.24 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích theo thu nhập
Kết luận: thu nhập của gia đình có ảnh hưởng đến mức độ yêu thích của người tiêu
20.0%
40.0%
20.0%
20.0%
0.0%
100.0%
2.4
Công
nhân
0.0%
25.0%
75.0%
0.0%
0.0%
100.0%
2.75
Giáo
viên
0.0%
0.0%
42.9%
57.1%
0.0%
100.0%
3.57
NV văn
phòng
điểm trên ta có thể kết luận rằng khả năng tiêu dùng các sản phẩm của Nutifood của
người tiêu dùng tại quận Ninh Kiều khi đi mua sữa chưa cao.
Xét theo nghề nghiệp: điểm số trung bình của người Nội trợ là 2,2 điểm, công nhân là
2,5 điểm, Giáo viên 3,29 điểm, nhân viên văn phòng 3,13 đểm và nội trợ là 3,25 điểm
với số điểm trên ta thấy không có sự khác biệt trong việc quyết định mua sản phẩm
của Nutifood giữa các nhóm đối tượng có nghề nghiệp khác nhau24.
Xét theo thu nhập của gia đình: kết quả phân tích cho thấy điểm số của nhóm người
gia đình có thu nhập mỗi tháng từ 1 đến 2 triệu là 2,5 điểm, nhóm có thu nhập từ 2 đến
3 triệu mỗi tháng là 3,5 điểm, nhóm gia đình có thu nhập mỗi tháng từ 3 đến 4 triệu là
2,5 điểm, nhóm có thu nhập từ 4 đến 5 triệu là 3,4 điểm, nhóm có thu nhập từ 5 đến 7
triệu là 3,5 điểm, nhóm có thu nhập từ 7 đến 10 triệu là 2,1 điểm, nhóm có thu nhập từ
10 đến 15 triệu là 1 điểm.
23
24
Kết quả Chi – Square là 0,37 > 0,05 kết quả ANOVA là 0,151>0,05
Kết quả Chi – Square là 0,578 > 0,05 kết quả ANOVA là 0,387>0,05
18
Điểm
4.00
3.00
3.50
3.40
10 - 15
trieu
Hình 5.25 Biể u đồ thể hiện xu hướng tiêu dùng thương
hiệ u the o thu nhập
Với kết quả trên chúng ta thấy rằng thu nhập mỗi tháng của gia đình cũng có mối liên
hệ trong quyết định xu hướng tiêu dùng thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng
quận Ninh Kiều. qua đó chúng ta cũng thấy rằng thu nhập mỗi tháng của gia đình khác
nhau thì khả năng sẵn sàng mua các sản phẩm của thương hiệu của Nutifood cũng
khác nhau25.
5. Chất lượng cảm nhận thương hiệu
5.1 Cảm nhận chất lượng sản phẩm
Sữa là một hàng hóa đặc biệt đối với trẽ em do đó chất lượng sản phẩm sữa phải đảm
bảo yêu cầu: sản phẩm cung cấp nhiều dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe, không chứa
Melamine, mùi vị sữa thơm, uống ngon và tiện dụng… với mức điểm tối đa là 5 diểm
cho mỗi phát biểu được cho là hoàn toàn đúng kết quả thống kê cho thấy số điểm trung
bình mà người tiêu dùng quận Ninh Kiều cho cho các phát biểu về chất lượng sản
phẩm sữa như được trình bày trong bảng 5.6
Bảng 5.6 Cảm nhận chất lượng sản phẩm của Nutifood
Phát biểu
Sản phẩm của Nutifood cung cấp nhiều chất dinh dưỡng
Dùng sản phẩm của Nutifood thấy sức khỏe rất tốt
Sản phẩm của Nutifood không chứa Melamine
Sản phẩm của Nutifood rất tiện dụng
Sản phẩm của Nutifood uống rất ngon.
Trung bình:
Điểm số
75%
5
4
37.5%
Hoan toan phan doi
6.3%
Phan doi
Trung hoa
50%
43.7%
Dong y
50%
2
0%
25%
50%
6.3%
phẩm thấy rằng những người trung hòa hoặc không thích thương hiệu Nutifood thì họ
cho rằng chất lượng sản phẩm của Nutifood là bình thường (với 3,33 điểm). Bên cạnh
đó những người yêu thích sản phẩm Nutifood thì cho rằng chất lượng sản phẩm của
Nutifood là tương đối tốt28. riêng với phát biểu cho rằng sản phẩm của Nutifood không
chứa Melamine thì không có sự khác biệt giữa nhóm đối tượng yêu thích, hoặc không
yêu thích thương hiệu Nutifood, tất cả đều cảm nhận rằng Nutifood là một sản phẩm
sạch với thành phần chất hóa học trên.
5.2 Cảm nhận chất lượng khác
Các yếu tố cấu thành lên chất lượng của thương hiệu ngoài các yếu tố về chất lượng
sản phẩm còn có các yếu tố về chất lượng khác như kiểu dáng bao bì đẹp, giá cả phù
hợp , mẫu mã đa dạng … do đó việc nghiên cứu về cảm nhận của các yếu tố này là
một phần của nghiên cứu về chất lượng cảm nhận thương hiệu.
5.3 Chất lượng bao bì sản phẩm
Cũng giống như trong cảm nhận chất lượng sản phẩm, chất lượng cảm bao bì sản
phẩm cũng được đo lường bằng điểm số với mức điểm tối đa là 5 điểm kết quả là với
phát biểu cho rằng bao bì sản phẩm rất đẹp người có số điểm trung bình là 3,66 điểm,
có 46,9 % người tiêu dùng cho biết họ đồng ý với phát biểu trên và 9,4% cho rằng họ
hoàn toàn đồng ý không có trường hợp nào cho phản đối cho rằng bao bì các sản phẩm
của Nutifood là không đẹp. Xét theo nghề nghiệp ta thấy điếm số của công nhân là
4,25, những người làm nghề buôn bán là 3,8 nhân viên văn phòng 3,38 điểm Giáo viên
3,43 điểm và nội trợ là 3,75 điểm như vậy công nhân là đối tượng có cảm nhận về bao
bì sản phẩm là đẹp nhất nhưng nhìn chung số điểm của người tiêu dùng cho về chất
lượng bao bì sản phẩm không có chênh lệch lớn.
27
Chú thích hình 5.26: 1 = sản phẩm của Nutifood cung cấp nhiều chất dinh dưỡng
2 = dùng sản phẩm của Nutifood thấy sức khỏe rất tốt
3= sản phẩm của Nutifood không chứa Melamine
4= mùi vị của Nutifood rất thơm
Xét về mối tương quan giữa chất lượng cảm nhận sản phảm và cảm nhận đối với bao
bì sản phẩm kết quả cho thấy có đến 50% số người cho rằng sản phẩm của Nutifood
không tốt lại đồng ý với ý kiến cho rằng bao bì sản phẩm của Nutifood đẹp, bên cạnh
đó cũng có 50% những người cảm nhận chất lượng sản phẩm của Nutifood tốt lại hoàn
toàn trung hòa với ý kiến cho rằng bao bì sản phẩm của Nutifood mặt khác kết quả
thống kê cũng cho thấy không có sự khác biệt về cảm nhận bao bì sản phẩm giữa
những người cảm nhận chất lượng sản phẩm Nutifood tốt hay không tốt29.
Kết luận: Người tiêu dùng tại quận Ninh Kiều cảm nhận rằng thiết kế bao bì sản phẩm
của Nutifood là tương đối đẹp mắt và nghề nghiệp của họ không có ảnh hưởng đến sự
cảm nhận trên, hay nói cách khác không có sự khác biệt giữa những người có nghề
nghiệp khác nhau về chất lượng bao bì của sản phẩm bên cạnh đó chất lượng cảm nhận
sản phẩm và cảm nhận bao bì không có mối tương quan với nhau.
5.5.4 Chất lượng giá
Kết quả cho thấy số điểm trung bình mà người tiêu dùng cho về chất lượng giá các sản
phẩm của Nutifood là 3,63 điểm, chỉ có 3,1% người tiêu dùng cho rằng hiện tại giá
của các sản phẩm Nutifood là chưa hợp lý và họ cho rằng mức giá hiện tại của
Nutifood là khá cao, trong khi đó có 46,9 % cho rằng giá của sản phẩm Nutifood là
phù hợp và có 9,4% cho rằng rất phù hợp. xét theo thu nhập ta thấy chỉ có những
người có thu nhập hàng tháng của gia đình từ 1 đến 2 triệu mới cho rằng giá của sản
phẩm Nutifood là khá cao ( điểm số trung bình 2,5 điểm). trong khi đó những người có
thu nhập của gia đình từ 4 đến 5 triệu thì cho rằng giá sản phẩm Nutifood là hợp lý cao
nhất (điểm bình quân nhóm này là 4,2 điển). các nhóm đối tượng còn lại điểm số trung
bình giao động từ 3,5 đến 4 điểm.
hoàn toàn
đồng ý, 9.4
phản đối,
3.1
trung hòa,
đồng ý
44%
Hoàn toàn
đồng ý
0%
Trung hòa
56%
Hình 5.29 Biểu đồ thể hiện mẫu mã sản phẩm đa dạng
Về tính dễ dàng khi lựa chọn các sản phẩm của Nutifood kết quả nghiên cứu cho thấy
chỉ có 19% người tiêu dùng đồng ý với ý kiến cho rằng rất dễ dàng trong khi lúc lựa
chọn sản phẩm của Nutifood, cá biệt có 3% phản đối ý kiến trên bên cạnh 78% trung
hòa, phần lớn trong số họ dều cho rằng vì sự đa dạng sản phẩm của Nutifood và các
nhãn hiệu khác là tương đối như nhau, do đó lựa chọn sản phẩm của Nutifood hay các
thương hiệu khác giống nhau do đó không thể kết luận rằng sản phẩm của Nutifood dễ
lựa chọn.
dong y
19%
phan doi
3%
trung hoa
78%
Hình 5.30 Biểu đồ thể hiện tính dễ dàng khi lựa
chọn sản phẩm
22
37.5%
37.5%
31.25%
40%
trung hòa
đồng ý
37.5%
60%
80%
100%
Hình 5.31 Biểu đồ thể hiện lòng trung thành trong sử dụng sản phẩm
Xét về mức độ yêu thích thương hiệu và lòng trung thành trong sử dụng thương hiệu
kết quả cho thấy 54,5% khách hàng yêu thích thương hiệu Nutifood cho rằng họ là
khách hàng trung thành của Nutifood số còn lại có ý kiến trung hòa chỉ có 9,1% cho
rằng họ không phải là khách hàng của Nutifood trong khi đó có 45,5% trong số họ cho
biết Nutifood luôn là sự lựa chọn đầu tiên của họ và 36,4% cho rằng họ sẽ không mua
sản phẩm của thương hiệu khác nếu của hàng đó không có bán sản phẩm của Nutifood.
Xét về mối quan hệ giữa cảm nhận chất lượng sản phẩm và lòng trung thành trong tiêu
dùng sản phẩm kết quả nghiên cứu 60% người tiêu dùng có cảm nhận chất lượng sản
phẩm Nutifood tốt cho rằng họ là khách hàng trung thành của Nutifood. Cũng với tỷ lệ
đó họ cho rằng Nutifood là sự lựa chọn đầu tiên với họ bên cạnh đó có 10% phản đối ý
kiến trên. 40% cho rằng họ sẽ không mua sản phẩm của các thương hiệu khách nếu
của hàng đó không có bán sản phẩm của Nutifood và có 10% người tiêu dùng phản đối
Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Thị Trường chiến lược cơ cấu, cạnh tranh về giá trị gia tăng, định vị và phát triển
doanh nghiệp, NXB Trẻ 2006 trang 169.
24