1
2
PHẦN MỞ ĐẦU
những tố chất mới năng động, sáng tạo, hiệu quả. Trong tương lai khi hệ
thống giáo dục đào tạo phát triển đúng quy luật, cạnh tranh bình đẳng, các
trường NCL sẽ phát triển mạnh và có những trường là mô hình đối chứng về
tổ chức quản lý, về hiệu quả đào tạo trong việc quản lý, sử dụng, phát huy
tài sản nhân lực vật lực trong giáo dục đào tạo.
Sau 10 năm thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010” tình
hình giáo dục đại học nước ta có một số chuyển biến tích cực. Quy mô phát triển khá
nhanh, số trường đại học, cao đẳng tăng lên, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân,
số sinh viên/1 vạn dân vào cuối năm 2010 đã đạt được mục tiêu đặt ra (200 sinh
viên/1 vạn dân), trong đó có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập và số sinh
viên do các trường ngoài công lập đào tạo chiếm khoảng 15 % số sinh viên cả nước
(mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2020). [13] [14].
Mặc dù các trường ĐHNCL đã có những đóng góp không nhỏ trong
sự nghiệp phát triển giáo dục đại học của đất nước, tuy nhiên cơ chế hoạt
động, mô hình quản trị điều hành trong các trường ĐHNCL vẫn còn
nhiều bất cập, chưa khai thác tối đa tiềm năng của hệ thống trường này
và chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Trong khi giáo dục đại học khu
vực và thế giới có những bước phát triển khá mạnh, thì nhìn chung giáo dục
đại học NCL Việt Nam vẫn đang lúng túng, hành lang pháp lý chưa chuẩn,
mô hình còn chắp vá, nội dung phương pháp đào tạo còn lạc hậu…, nói
chung chưa có bước đi vững chắc, chất lượng đào tạo còn yếu kém, chưa có
sự đột phá để phát triển. Nguồn nhân lực đại học phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn trong tình trạng vừa thừa vừa
thiếu, nhất là thiếu nhân lực chất lượng cao, có khả năng đi trước đón đầu.
Để khắc phục tình trạng yếu kém đó, trong Quyết định của Thủ tướng
xây dựng và phát triển nhà trường trở thành những cơ sở đào tạo có chất
lượng cao và có uy tín hơn đang là vấn đề trăn trở của các nhà quản lý giáo
dục đại học Việt Nam.
Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NĐCP về đổi mới cơ bản và toàn
diện giáo dục đại học Việt Nam ngày 2 tháng 11 năm 2005 tiếp tục khẳng
định vai trò quan trọng cảu giáo dục đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng
đầu, xã hội hóa giáo dục là bước đi hết sức quan trọng; trong chiếm lược
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đào tạo nhân lực chất lượng
cao là một trong 3 khâu đột phá để phát triển đất nước. Để đáp ứng yêu cầu
đó “cần đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa”. Đây là định hướng và quyết tâm lớn của Đảng,
Nhà nước ta trong phát triển giáo dục đào tạo. [14].
Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đào tạo, loại hình trường đại
học, cao đẳng ngoài công lập là sản phẩm của tư duy đổi mới giáo dục đào
tạo, ra đời từ những năm 80 thế kỷ XX và phát triển thành hệ thống các
trường ĐH, CĐ ngoài công lập (NCL) như ngày nay. Đây là một thành phần
mới trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam. Hệ thống các trường
NCL tuy chưa phát triển như mong muốn, nhưng đã có những nỗ lực vượt
khó khăn, tìm tòi cách đi, cách hoạt động, gánh vác một phần tải trọng giáo
dục đại học của cả nước, mở rộng cơ hội học đại học, học nghề của nhân
dân. Các trường đại học ngoài công lập gồm có các trường dân lập, bán
công và tư thục, hoạt động chủ yếu từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước,
thu hút các nguồn lực xã hội để làm giáo dục, tuân thủ pháp luật hiện hành,
phù hợp với Điều lệ Trường đại học Việt Nam. Là loại hình mới, thành phần
mới, tự chịu trách nhiệm về tài chính, các trường đại học NCL phải có
3
4
trong “Tự trị ĐH: Câu chuyện từ Australia”."Mô hình nào cho tự trị ĐH
Việt Nam" . Tác giả đã đưa ra 5 mô hình phổ biến: (i).Mô hình công ty
(business model): (ii). Mô hình đối tác truyền thống (traditional stakeholder
model): (iii). Mô hình ủy trị (trusteeship model): (iv). Mô hình collegial
model; (v). Mô hình cân bằng (equalizer model):
*Nghiên cứu về các trường đại học ở Singapore.
Giáo dục Singapore từ lâu đã được đánh giá là một trong những nền giáo
dục tiên tiến và đáng tin cậy nhất thế giới. Bên cạnh các trường công lập
danh tiếng, chính phủ Singapore quyết định thiết lập quy trình quản lý
nghiêm ngặt dành cho các đơn vị này, dưới sự giám sát chặt chẽ của Hội
đồng Giáo dục Tư thục Singapore (CPE) và hệ thống chứng nhận EduTrust
dành cho các trường tư thục có nhu cầu tuyển sinh sinh viên quốc tế.
• Nghiên cứu về các trường đại học ở Nhật Bản
Lữ Đạt – Chu Mãn Sinh (Chủ biên), Cải cách giáo dục ở các nước phát
triển, cải cách giáo dục ở Nhật Bản & Ôxtrâylia– Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 2010 đã nêu bật về mô hình quản lý giáo dục ở Nhật Bản: Mô hình
quản lý nhà nước về giáo dục của Nhật Bản mang nặng tính tập trung và thống
nhất quốc gia. Cơ quan trung ương về quản lý giáo dục là Bộ Giáo dục. Năm
1999, một cuộc họp nội các Nhật đã xác định việc chuyển đổi Đại học quốc
gia thành công ty quản trị Độc lập. Đến tháng 4 năm 2004, tất cả các trường
Đại học quốc gia ở Nhật đều chuyển đổi thành công ty Đại học quốc gia.
Tức là theo mô hình tự chủ Đại học tuyệt đối.
• Một số nghiên cứu khác
Nghiên cứu của Van Vught (1994), đã đưa ra hai mô hình "kiểm soát nhà
nước" và "giám sát nhà nước" đối với các trường Đại học. Tác giả đã phân tích
mô hình "kiểm soát nhà nước" là hình thức Nhà nước kiểm soát gần như tất cả
các hoạt động của hệ thống giáo dục Đại học. Mô hình này thường thấy ở
các nước Châu Á.Còn mô hình "giám sát nhà nước", điển hình như các
nước Anh, Mỹ, Australia nơi mà sự can thiệp của nhà nước đối với các
trường công nghệ thông tin (IT). Nói đến ERP, người ta nghĩ ngay đến giải
pháp quản lý tổng thể nguồn lực doanh nghiệp dựa vào việc chuẩn hóa qui
trình quản lý (ISO) trên nền tảng của công nghệ thông tin.
• Nghiên cứu “Quản lý trường đại học theo mô hình Balanced scorecard”
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Quý (2010) – Đại học Đà Nẵng về “ Quản
lý trường đại học theo mô hình Balanced scorecard” (tạp chí khoa học và
công nghệ, đại học Đà Nẵng – số 2(37).2010) tác giả đã phân tích: Mô hình
Balanced Scorecard - một mô hình quản lý kinh tế rất hiệu quả và phân
tích tính ứng dụng của nó trong lĩnh vực giáo dục đại học dưới bốn
bình diện: tài chính, sinh viên, học hỏi và phát triển, và các hoạt động nội
bộ nhằm thực hiện tốt mục tiêu của nhà trường.
• Nghiên cứu Quản lý đại học theo mô hình“University cooperation”
Nghiên cứu của GS. TSKH. Bùi Văn Ga (2008) – Giám đốc Đại học
Đà Nẵng, “các trường Đại học Việt Nam phải áp dụng mô hình quản lý
theo kiểu công ty (University cooperation) (Bùi, 2008): Một ví dụ cụ thể
là Đại học Queensland Australia (UQ) - một trong bốn trường đại học
nghiên cứu hàng đầu của Australia và được xếp hạng thứ 33 trên thế giới
vào năm 2007 - luôn khẳng định mình là doanh nghiệp 1 tỷ Úc kim
(a billion dollar enterprise) và điều đó cũng được quốc tế công nhận.
Chiến lược hoạt động của UQ được xây dựng dựa trên bộ chuẩn đầu ra,
tức là nhà trường luôn tìm hiểu và phân tích xem sinh viên, cộng đồng và
doanh nghiệp-đơn vị sử dụng ‘sản phẩm đào tạo’ của họ cần gì, để từ đó
trường xây dựng chiến lược hoạt động dựa theo các tiêu chí đó.
• Nghiên cứu về những nguyên tắc cơ bản của quản trị đại học đương đại
Nghiên cứu của tác giả Đào Văn Khanh, MBA trường ĐH RMIT
(Australia) đã "phân tích những nguyên tắc cơ bản của quản trị ĐH đương
đại, đồng thời đề xuất mô hình thích hợp cho các ĐH đa ngành ở Việt
Nam". Theo đó quan trọng nhất là tự chủ học thuật. Tác giả cho rằng: một
trường ĐH có thể không được tự chủ về tài chính hoặc nhân sự nhưng tự
chủ về học thuật là điều không thể chối cãi.
trường nhưng tránh thương mại hóa) dưới sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết
(state supervision) của nhà nước là mô hình hoạt động tối ưu nhất của các
trường ĐH trên thế giới hiện nay. [30]. [65].
Ngoài các lý thuyết về mô hình trường đại học nói trên còn có Lý thuyết
hỗn hợp là tổ hợp hai mô hình “kiểm soát nhà nước” và mô hình “tự chủ đại
học tuyệt đối”. [51].
3. Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về công tác quản trị các trường đại học NCL đang được
nhiều tác giả nghiên cứu và thực hiện với mức độ và hình thái khá khác
nhau giữa các trường. Điều này cho thấy việc thực hiện công tác quản trị
điều hành giáo dục trong các trường phụ thuộc khá nhiều vào động lực và
năng lực của cán bộ điều hành. Nhiều khía cạnh trong công tác quản trị
điều hành trong các trường đại học NCL đã được đề cập và phân tích trong
các nghiên cứu trước. Tuy nhiên, có thể tổng kết lại rằng: các nghiên cứu
trước đây chủ yếu là những nghiên cứu nhỏ, chủ yếu cho từng khía cạnh,
từng khâu và mới chỉ đề cập tới công tác quản trị trong từng lĩnh vực (chủ
yếu là quản trị tài chính và vốn sở hữu) mà chưa phân tích sâu sự tương
thích giữa quản trị tài chính, chuyên môn, nhân sự và những nhân tố khác
ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo trong quản lý giáo dục ở các trường
NCL. Trong khi đó, mức độ tương thích trong quản trị điều hành ở các
lĩnh vực này có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả giáo dục.
Mặc dù hai thuật ngữ quản trị và quản lý nhìn chung có sự gần gũi và
tương tác nhưng có thể thấy rõ sự khác biệt giữa quản trị ĐH (governance)
và quản lý nhà trường (management). Đây là điều mà bản thân các trường
ĐH Việt Nam thường lúng túng bởi chưa có sự phân định rõ ràng. Hoạt
động quản trị điều hành của các trường NCL ở Việt Nam cũng có nhiều
điểm không đồng nhất. Các nghiên cứu về hiệu quả quản trị điều hành tại
các cơ sở giáo dục đại học NCL còn rất ít. Vấn đề thu hút sự quan tâm nhiều
nhất của các trường ĐH NCL hiện nay là làm sao để dung hòa lợi ích giữa
chủ đầu tư và nhà giáo dục. Các tác giả trên chủ yếu là những nghiên cứu
Thứ tư, Nhà nước và các trường cần làm gì đề đổi mới quản trị trong
các trường đại học NCL ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2030 và những
năm tiếp theo?.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác quản trị trong các trường đại
học ngoài công lập ở Việt Nam (không bao gồm các Trường đại học 100%
vốn nước ngoài) tập trung vào bốn lĩnh vực cơ bản bao gồm: (i). Quản trị về
cơ cấu tổ chức, nhân sự; (ii). Quản trị về đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp
tác Quốc tế; (iii). Quản trị về kiểm định và đánh giá chất lượng; (iv). Quản trị
về tài chính trong các trường đại học ngoài công lập.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu, đánh giá thực
trạng công tác quản trị trong các trường đại học NCL ở Việt Nam giai đoạn
từ 2000 đến 2013 và đề xuất các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện công tác
quản trị trong các trường đại học NCL ở Việt Nam giai đoạn 2015 – 2030.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:(i).Phương pháp thu thập thông tin; (ii). Nhóm các
phương pháp tổng hợp, xử lý, trình bày thông tin và kết quả nghiên cứu;
(iii).Nhóm
Nhóm các phươ
phương
ương pháp phân tích, đánh giá, dự báo và quyết định
8. Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo. Nội dung
chính của luận án gồm 3 chương như sau:
9
10
xét cả ở cấp độ Quản trị trường đại học lẫn cấp độ quản lý trường đại học.
1.2.Nội dung quản trị trong các trường đại học ngoài công lập
1.2.1. Quản trị về cơ cấu tổ chức, nhân sự
Một trong những nội dung quan trọng trong quản trị trường đại học
ngoài công lập là quản trị về cơ cấu tổ chức, nhân sự. Nội dung quản trị các
trường đại học thể hiện mối quan hệ quyền lực giữa Nhà nước và các trường
đại học dựa trên mối tương quan giữa năng lực quản lý tập trung của nhà nước
và năng lực tự chịu trách nhiệm của các nhà trường.
1.2.2. Quản trị về đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Luật giáo dục quy định các trường Đại học được quyền quyết định
các hình thức tuyển sinh và số lượng tuyển phù hợp với điều kiện của trường
và quy định của Nhà nước; mở các ngành đào tạo đại học và chuyên ngành
đào tạo sau đại học đã có trong danh mục ngành đào tạo của nhà nước;
xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy và học tập cho các ngành
đào tạo của trường trên cơ sở quy định của Nhà nước; tổ chức biên soạn,
duyệt và thẩm định các giáo trình theo chuyên ngành và các tài liệu giảng
dạy, học tập của trường.
1.2.3. Quản trị về công tác kiểm định và đánh giá chất lượng
Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 65/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 01.11.2007
quy định 10 tiêu chuẩn về đánh giá chất lượng các trường đại học cụ thể là:
Tiêu chuẩn 1: Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học; Tiêu chuẩn 2:
Quy định về Tổ chức và quản lý; Tiêu chuẩn 3: Chương trình giáo dục; Tiêu
chuẩn 4: Hoạt động đào tạo; Tiêu chuẩn 5: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng
viên và nhân viên; Tiêu chuẩn 6: Người học; Tiêu chuẩn 7: Nghiên cứu
khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; Tiêu chuẩn 8:
Hoạt động hợp tác quốc tế; Tiêu chuẩn 9: Thư viện, trang thiết bị học tập và
cơ sở vật chất khác; Tiêu chuẩn 10: Tài chính và quản lý tài chính.
1.2.4. Quản trị về tài chính
Luật giáo dục quy định các trường đại học NCL được quyền quyết định
tính độc lập và phẩm chất của các thành viên HĐQT. Cơ cấu HĐQT là do
ĐHĐCĐ bầu ra, là người đại diện cho quyền lợi của các nhà đầu tư. Vai trò
HĐQT là lãnh đạo, xây dựng thể chế quản trị và giám sát Ban điều hành.
1.3.2.3. Vai trò của Ban kiểm soát
Ban kiểm soát trong các trường đại học NCL cũng đóng vai trò cực kỳ
quan trọng. Ban kiểm soát là đơn vị độc lập trong nhà trường và do ĐHĐCĐ bầu
ra. BKS chịu trách nhiệm trước Đại hội cổ đông để thực hiện việc giám sát
HĐQT, BGH trong việc quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường.
1.3.2.4. Vai trò của Ban Giám hiệu
Hầu hết các học giả về quản trị ĐH tiên tiến trên thế giới đồng ý rằng:
vai trò của Ban giám hiệu (BGH) đứng đầu là Hiệu trưởng chính là nhà quản
trị trường đại học. Chức năng, nhiệm vụ chính của Hiệu trưởng là thiết lập
và xây dựng mô hình quản trị liên quan đến các hoạt động chuyên môn của
nhà trường; thực thi các nghị quyết của HĐQT; trực tiếp điều hành các hoạt
động của nhà trường đảm bảo tính hiệu quả, tính hiệu lực, tính bền vững;
tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình với Nhà nước, với
HĐQT và với người học về tất cả các hoạt động của nhà trường.
1.3.2.5. Văn hóa và lịch sử trường đại học tác động đến quản trị trường đại học
Trường đại học là một tổ chức, vì vậy văn hóa trường đại học là nền văn hóa tổ
chức – nền văn hóa tổ chức đặc thù và được coi như “nhân cách” của nhà trường.
1.4. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị trường đại học
1.4.1.Tính hiệu quả (mục tiêu ngoài)
Tính hiệu quả là mục tiêu mà nhà nước và xã hội mong đợi và đòi hỏi các
trường đại học phải đáp ứng. Tính hiệu quả bao gồm: Chất lượng sinh viên
đào tạo; Phẩm chất sinh viên đào tạo; Chất lượng, quy mô đào tạo đại học.
1.4.2. Tính hiệu lực (mục tiêu trong)
Đây là tiêu chí để đo lường hoạt động quản trị của từng trường đại học,
một mặt nó phải góp phần để đạt được mục tiêu ngoài (mục tiêu của cả nước,
của xã hội), mặt khác nó phải đáp ứng được các mong muốn của bản thân.
thuộc vào phòng Thương mại tỉnh; 2)Trường của một nhóm cổ đông; và 3)
Trường của một nhóm cổ đông thành lập theo luật Hội 1901.Người ta gọi
KHUNG PHÁP LÝ & QUY ĐỊNH
CHUẨN KẾ TOÁN & KIỂM TOÁN
Điều lệ trường đại
học
LỊCH SỬ
VĂN HÓA
Chủ sở hữu
HĐQT
Ban kiểm soát
Ban Giám hiệu
Thị trường đầu vào
Thị trường đầu ra
Thị trường tài chính
Sơ đồ 1.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quản trị trường đại học
Nguồn: Tác giả tự thiết kế
Kết quả hoạt động
Hoạt động Quản trị điều hành
- Cơ cấu tổ chức nhân sự;
- Hoạt động về đào tạo và NCKH và HTQT;
- Hoạt động về kiểm đinh, đánh giá chất lượng đào
tạo;
- Hoạt động về tài chính;
•
•
•
Sự tiếp cận giáo dục
Chất lượng đào tạo
Hiệu quả đào tạo
Nhân tố tác động khác
•
•
•
•
Vai trò của nhà nước;
Vai trò của các doanh nghiệp;
Vai trò của HĐQT, BGH , BKS và
HĐKH
Văn hóa trường đại học.
để và đầy đủ.
2.1.2.2. Về đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Những hạn chế về hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác
Quốc tế bao gồm: công tác mở mã ngành đào tạo; hoạt động về tuyển sinh
và đào tạo; Hoạt động về học thuật; Hoạt động nghiên cứu khoa học; hoạt
động hợp tác quốc tế :
2.1.2.3. Về công tác kiểm định và đánh giá chất lượng
Những hạn chế, bất cập về hoạt động kiểm định, đánh giá chất lượng và
trách nhiệm xã hội bao gồm: (i). sự kiểm soát chặt chẽ của Trung Ương về
tuyển sinh; (ii). việc thiếu các biện pháp đánh giá kiểm soát trong và ngoài
về chất lượng; (iii). các cơ sở vẫn có ít kinh nghiệm trong quản lý.
15
16
2.1.2.4. Về tài chính
Chế độ tài chính ở các trường NCL, đặc biệt ở các trường dân lập trong
nhiều năm qua vận hành theo các quy chế trường đại học dân lập 196/TCCB
và 86/2000/QĐ-TTg. Ở cả hai quy chế này tiền lãi thu được không chia cho
các cá nhân như ở trường tư thục song trên thực tế, mỗi trường dân lập có
một cách chia khác nhau. Nội dung này đã được Nghị định 43/NĐCP cho
phép trường được quyền quyết định các khoản thu, mức thu và chi theo
hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo nguyên tắc
bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích lũy.
2.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế bất cập trong quản trị các
trường đại học ngoài công lập
2.2.1. Các nguyên nhân khách quan
2.2.1.1. Chính sách của nhà nước
Trường đại học là một tổ chức gồm nhiều tổ chức với những đặc thù
khác nhau là các khoa, phòng, ban, viện, trung tâm…tạo thành. Do đó, văn
hóa trường đại học có vai trò quan trọng không ngừng nâng cao chất lượng
đào tạo và uy tín trong phát triển của nhà trường. Vì vậy, mọi thành viên
trong mỗi trường đại học mà trước hết là các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý
phải thấy được khái niệm văn hóa nhà trường và vai trò to lớn của nó
trong việc thay đổi và phát triển của nhà trường.
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NGOÀI CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 – 2030
3.1. Quan điểm và phương hướng đổi mới nhằm nâng cao chất
lượng quản trị trong các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam
3.1.1. Quan điểm phát triển các trường đại học ngoài công lập ở Việt
Nam
Việc phát triển các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam trong thời
gian tới phải tuân theo một số quan điểm sau đây: (i),Thứ nhất, việc phát
triển các trường đại học ngoài công lập phải tuân thủ đường lối phát triển
chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam; (ii).Thứ hai, Chuyển từ mô hình
Nhà nước độc quyền sang mô hình đa dạng hóa loại hình sở hữu; (iii).Thứ
ba, cần phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tê và xu hướng đổi mới của đất
nước
3.1.2. Phương hướng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng quản trị
trong các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam
(i).Lựa chọn mô hình quản trị phù hợp; (ii). Xây dựng đội ngũ và môi
trường sư phạm; (iii). Tập trung nâng cao chất lượng đào tạo ngay từ khi bắt
đầu hoạt động/ hoặc tiếp tục duy trì và thường xuyên nâng cao chất lượng kể
cả đối với trường đã có bề dày năm tháng và ngày càng phải được nâng lên
ở tầm quốc gia và quốc tế; (iv).Tập trung xây dựng uy tín và thương hiệu
một cách bài bản và phù hợp với văn hóa Việt; (v). Bảo đảm quyền tự chủ
ít quyền tự chủ, và Bộ giáo dục và Đào tạo đóng một vai trò – về một số
phương diện – gần giống như HĐQT của các trường đại học phương tây.
Nghĩa là cung cấp ngân sách, xây dựng đường lối chiến lược phát triển, cơ
chế quản lý của các trường, bổ nhiệm Hiệu trưởng, thậm chí còn quyết định
thay cho các trường những việc thuộc lĩnh vực của các nhà quản lý chứ
không phải là chức năng của quản trị, như chương trình đào tạo, mức thu
học phí hay chỉ tiêu tuyển sinh từng năm. Một hệ thống như vậy có thể hiệu
quả trong điều kiện sơ khai của giáo dục đại học, khi số lượng các trường
còn ít. Nhưng ngày nay, đứng trước yêu cầu cấp bách cần đổi mới và hoàn
thiện mô hình quản trị đại học để phù hợp với lộ trình hội nhập với quốc tế
Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đổi mới
giáo dục đại học: Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của
Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai
đoạn 2006-2020 được xem là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển
toàn diện cho nên giáo dục đại học nước nhà; Chỉ thị 296/CT-TTG ngày
27/2/2010 của Thủ tướng chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai
đoạn 2010 -2012 đã chỉ ra rằng “ đổi mới quản lý giáo dục đại học là khâu
đột phá” để nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục đại học,
làm tiền đề triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục các yêu kém
trong ngành, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học. Ngoài ra còn
nhiều văn bản, hướng dẫn để cho các trường thực hiện.
3.2.1.3. Đảm bảo quyền bình đẳng giữa trường công lập và trường ngoài
công lập
Các cơ quan lãnh đạo Đảng và nhà nước cần khẳng định sự bình đẳng
giữa các loại hình trường đại học cả công lập và NCL. Trường đại học NCL
là một hình thức tất yếu của xã hội, không nên coi đó là các hoạt động kinh
tế thuần túy như các doanh nghiệp tư nhân khác, để từ đó có cơ sở xây dựng
khung pháp lý phù hợp nhằm tạo động lực cơ bản và lâu dài, đồng thời có
chính sách khuyến khích và hỗ trợ thỏa đáng cho sự ra đời và vận hành của
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của các nước
về quản trị trường đại học; căn cứ vào đánh giá thực trạng hoạt động quản trị
trong các trường đại học NCL ở Việt Nam, tác giả đề xuất Mô hình quản trị
trường đại học NCL như sau:
19
20
ĐHĐCĐ
(CHỦ SỞ HỮU)
HĐQT
(CẤP LÃNH ĐẠO VÀ GIÁM SÁT)
BKS
HIỆU TRƯỞNG
(CẤP QUẢN TRỊ VÀ ĐIỀU HÀNH)
Phó hiệu
trưởng 1
Phó hiệu trưởng
2
Phó hiệu
trưởng 3
trường đại học. Chính phủ có thẩm quyền pháp lý đến đâu và nên can thiệp
đến mức độ nào vào những vấn đề khác nhau của trường đại học. Trong khi
đó, về phía trường đại học lại có khả năng đến đâu trong việc hành động
theo các lựa chọn riêng để thực hiện sứ mạng của mình.
3.2.2.5. Các trường cần chủ động đổi mới mô hình quản trị cho phù hợp với
hoàn cảnh Việt Nam
Trong quá trình đổi mới và phát triển, trình độ quản trị của các trường
đại học từng bước được nâng cao, hình thức và quy mô đào tạo được đa
dạng hoá; chương trình, quy trình đào tạo được cải tiến; hệ thống văn bản
quản lý giáo dục đại học được hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, công tác quản trị
ở các viện, trường đại học vẫn còn nhiều vướng mắc. Chính vì vậy, các
trường đại học NCL cần thiết phải đổi mới theo xu hướng cho phù hợp với
hoàn cảnh của Việt Nam.
3.2.2.6.Tăng cường quan hệ giữa Nhà nước và Nhà trường
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Khi Chính phủ có tiếng nói lớn trong tổ
chức trường đại học, ảnh hưởng của sức mạnh chính trị đè nặng sẽ kìm hãm
sự phát triển của giáo dục trong trường, không có cơ hội cho sáng tạo và đột
phá, mọi hoạt động đi theo một mô típ chung chung và chậm tiến triển. Nhà
nước nên để cho các trường tự quyết định vận mệnh của mình, tạo điều kiện
cho những sáng kiến mới, mạnh dạn áp dụng, từ đó tìm ra phương pháp tối
ưu, ngày một hoàn thiện chương trình đào tạo. Nhà trường có vai trò giúp Nhà
nước trở thành cạnh tranh hơn, có vị thế hơn trên trường quốc tế.
3.2.2.7. Tăng cường quan hệ giữa Nhà trường và các Doanh nghiệp
Dịch vụ đào tạo là sản phẩm cơ bản của các trường đại học. Khách hàng
“trực tiếp” của các trường đại học chính là người học. Tuy nhiên, dịch vụ
đào tạo của các trường đại học chỉ là sản phẩm trung gian chứ không phải
sản phẩm cuối cùng. Xét trên khía cạnh cung cấp các dịch vụ đào tạo dài
hạn, người sử dụng lao động, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp, được coi là
khách hàng “gián tiếp” nhưng là khách hàng “cuối cùng”. Vì vậy, để thực
hiện mục tiêu đâò tạo theo nhu cầu xã hội thì tất yếu cần có sự hợp tác, chia
Trong tám giải pháp mà tác giả đề xuất nêu trên thì giải pháp : Đổi mới
quản trị về tổ chức, nhân sự là khâu đột phá và giữ vai trò quyết định đối với
mọi hoạt động của nhà trường. Có thể khảng định rằng: không có con người
có đủ năng lực và trình độ chuyên môn để làm việc thì không giải quyết
được bất kỳ việc gì. Chính con người sẽ làm đổi mới tất cả. Các hoạt động
của nhà trường có tốt hay không cũng chính là do con người. Vì vậy, cần
phải xác định rằng: Đổi mới quản trị về tổ chức, nhân sự là khâu đột phá
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà trường.
3.3. Một số kiến nghị với Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng quản trị
trong các trường đại học ngoài công lập ở Việt Nam
Để nâng cao chất lượng quản trị trong các trường đại học Ngoài công lập
ở Việt Nam, tác giả kiến nghị Nhà nước cần tập trung thực hiện một số việc
sau đây:
3.3.1. Thực hiện tốt chức năng quản lý
Nhà nước cần thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý nhà nước đối với
các trường đại học nói chung và NCL nói riêng để quản lý ngành đại học và
phục vụ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội.
3.3.2. Nhà nước cần tăng cường trao quyền tự chủ đầy đủ cho các trường
đại học
Đổi mới tư duy giáo dục đại học trong quản lý nhà nước để tiến đến trao
quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm cao của các trường đại học chính
là động lực của phát triển. Chỉ có như vậy, các trường đại học mới có thể
tự quyết định trong đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn hóa sâu về lĩnh
vực đào tạo của mình.
3.3.3. Nhà nước cần tập trung xây dựng các biện pháp kiểm soát chất
lượng trong và ngoài
Đã gần 7 năm qua, từ khi Bộ GDĐT có chủ trương buộc các cơ sở đào
tạo bậc đại học phải công bố chuẩn đầu ra. nhưng cho đến nay, vẫn chưa có
một trường đại học nào thảo mãn được tiêu chí trên. Vì vậy, chúng ta chưa
mà Giáo dục đại học NCL Việt Nam đang vấp phải; phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại; Góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH và
HĐH đất nước; đưa sự nghiệp Giáo dục của việt Nam sánh vai với các
nước trong khu vực và Quốc tế./.
Trên cơ sở những lý luận về quản trị trường đại học, những kinh nghiệm
của các nước về quản trị trường đại học; những đánh giá, phân tích về thực
trạng các hoạt động quản trị trong các trường đại học NCL ở Việt Nam và,
những đề xuất giải pháp để đổi mới quản trị trong các trường đại học NCL ở
Việt Nam, tác giả kết luận như sau:
1.Luận án đã cung cấp những cơ sở lý luận và những kinh nghiệm Quốc
tế về quản trị trường đại học NCL để phục vụ cho việc nghiên cứu và làm
rõ: khái niệm về quản trị trong các trường đại học NCL; vai trò và lợi ích
của quản trị trong các trường đại học NCL; nội dung quản trị trong các
trường đại học NCL; các nhân tố tác động đến quản trị trong các trường đại
học NCL; xác định được các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị trường đại
học và rút ra những bài học cho các trường đại học NCL ở Việt Nam.
2.Tổng quan nghiên cứu các đề tài trong và ngoài nước về quản trị
trường đại học đã giúp làm rõ các đối tượng nghiên cứu của luận án: nghiên
cứu về cơ cấu tổ chức nhân sự; nghiên cứu về công tác đào tạo, NCKH và
HTQT; nghiên cứu về công tác kiểm định, đánh giá chất lượng và nghiên
cứu về công tác tài chính của các trường đại học NCL.
3.Công tác điều tra, nghiên cứu thực trạng về công tác quản trị trong các
trường đại học NCL ở Việt Nam đã đánh giá được những mặt tích cực,
những thành quả và những hạn chế, bất cập trong công tác quản trị của các
trường và đã tìm ra được nguyên nhân của những thành tựu và những hạn
chế bất cập đó để có hướng khắc phục;
4.Luận án đã làm rõ việc đổi mới quản trị trong các trường đại học NCL là vấn
đề cốt lõi để nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực.
5. Luận án đã đề xuất các giải pháp đổi mới đồng bộ từ Trung Ương đến các