Tính toán thiết kế lò đốt rác y tế chất thải rắn y tế sinh ra của bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh - Pdf 33

Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá tại các thành phố và
các khu đô thị Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và đang có xu hướng tiếp tục tăng mạnh mẽ
trong những năm tới. Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều loại
chất thải khác nhau sinh từ các hoạt động của con người có xu hướng tăng lên về số
lượng, từ nước cống, rác sinh hoạt, phân, chất thải công nghiệp đến các chất thải độc hại,
như rác y tế. Nếu ta không có phương pháp đúng đắn để phân huỷ lượng chất thải này thì
sẽ gây ô nhiễm môi trường do vượt quá khả năng phân huỷ của tự nhiên.
Chất thải rắn hiện nay trở thành vấn đề bức xúc trong cuộc sống đô thị và ảnh
hưởng xấu của nó đến xã hội. Bên cạnh các vấn đề quan tâm, ta cũng cần quan tâm đến
lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh.
Chất thải rắn y tế (CTRYT) là loại chất thải nguy hại. Trong thành phần CTRYT
có các loại chất thải nguy hại như: chất thải lâm sàng nhóm A,B,C,D,E. Các loại chất thải
này đặc biệt là chất thải nhiễm khuẩn nhóm A, chất thải phẫu thuật nhóm E có chứa nhiều
mầm bệnh, vi khuẩn gây bệnh có thể thâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều con
đường và nhiều cách khác nhau. Các vật sắc nhọn như kim tiêm… dễ làm trày xước da,
gây nhiễm khuẩn. Đồng thời, trong thành phần chất thải y tế còn có các loại hoá chất và
dược phẩm có tính độc hại như: độc tính di truyền, tính ăn mòn da, gây phản ứng, gây nổ.
Nguy hiểm hơn các loại trên là chất thải phóng xạ phát sinh từ việc chuẩn bệnh bằng hình
ảnh như: chiếu chụp X-quang, trị liệu… Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh chiếm
tỉ lệ rất nhỏ (0,14%) so với tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn toàn quốc. Tuy
nhiên, nếu chúng không được quản lí tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức
khoẻ cộng đồng.
Cho đến nay, chôn lấp vẫn là biện pháp xử lý chất thải rắn phổ biến nhất đối với
nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Ưu điểm chính của công nghệ chôn lấp ít
tốn kém và có thể xử lý nhiều loại chất thải rắn khác nhau so với công nghệ khác. Tuy
nhiên hình thức chôn lấp lại gây ra những hình thức ô nhiễm khác như ô nhiễm nước, mùi
hôi, ruồi nhặng, côn trùng…Hơn nữa, công nghệ chôn lấp không thể áp dụng để xử lý triệt
để các loại chất thải y tế, độc hại. Ngoài ra trong quá trình đô thị hoá như hiên nay, quỹ

- Trên cơ sở thiết kế lò đốt để xử lý chất thải rắn y tế cho tỉnh Tây Ninh,
lò đốt được thiết kế hai cấp có thể xử lý triệt để chất thải rắn y tế và khí gas
sinh ra trong quá trình đốt nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải rắn
gây ra.
Ý nghĩa kinh tế - xã hội
- Công nghệ này có thể áp dụng để xử lý chất thải rắn y tế cho bệnh viện Đa
khoa tỉnh Tây Ninh và các bệnh viện khác.
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 2
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, nghiên cứu…CTYT nguy hại là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ
thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan; bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa
chất, chất phóng xạ…thường ở dạng rắn, lỏng, khí. CTYT được xếp là chất thải nguy hại,
cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây nguy hại sức
khỏe, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ.
Rác sinh hoạt y tế là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả
năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh
viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…
Rác y tế (RYT) là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và
khí, được thu gom và xử lý riêng.
1.2 Phân Loại
1.2.1 Chất thải lâm sàng: Chất thải rắn y tế gồm 5 nhóm
 Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây
bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật
liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay,

1.2.5 Các loại bình chứa có áp
Bình chứ khí có áp như bình CO
2
, O
2
, gas, bình khí dung, bình khí dùng 1 lần…các
bình dễ gây cháy nổ, khi thiêu đốt cần thu riêng.
1.2.6 Chất thải sinh hoạt
Chất thải không bị coi là chất thải nguy hại, phát sinh từ bệnh viện, phòng làm
việc…giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng, túi nilon, thức ăn dư thừa…
Khả năng gây ô nhiễm của các loại chất thải rắn
- Các loại bông, băng, gạc, đồ vải chứa rất nhiều vi trùng gây bệnh. Qua trung
gian của các loài côn trùng như ruồi, muỗi các loại vi trùng này sẽ xâm nhập
nhiều nơi, qua đường thức ăn, nước uống có thể gây ra các dịch bệnh trên
phạm vi rộng.
- Các loại bệnh phẩm ngoài các khả năng gây bệnh cho con người còn dễ bị
thối rửa, hôi thối làm ô nhiễm môi trường không khí và làm mất mỹ quan
xung quanh.
- Các vật sắc nhọn như kim tiêm, ống chích nếu đưa thẳng ra bãi chôn lấp sẽ
gây nguy hiểm cho công nhân thu dọn vệ sinh hoặc những người nhặt rác về
các bệnh lây truyền qua đường máu khi giẫm phải.
Vì vậy: để đảm bảo an toàn trong lúc vận chuyển hoặc thu gom đem đi xử lý thích
hợp. Một số bệnh viện chưa trang bị lò đốt rác y tế đã kí hợp đồng xử lý rác y tế với Công
ty Môi trường Đô thị và Công ty Môi trường Đô thị đã có những quy trình bắt buộc thực
hiện đối với loại rác thải nguy hại này.
 Quy trình quản lý, xử lý chất thải y tế bao gồm :
- Quy trình lập chỉ tiêu kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý rác y tế.
- Quy trình thu gom, vận chuyển rác y tế.
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 4
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang

STT Thành phần Phần trăm trọng lượng (%)
1 Giấy và giấy thấm 60
2 Plastic 20
3 Thực phẩm thừa 10
4 Kim loại, thủy tinh, chất vô cơ 7
5 Các loại hỗn hợp khác 3
(Nguồn : Cefinea)
Bảng 3 thành phần chất thải nhiễm khuẩn có trong chất thải rắn y tế
STT Thành phần Phần trăm trọng lượng (%)
1 Giấy và quần áo 50 – 70
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 5
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
2 Plastic 20 – 60
3 Thủy tinh 10 – 20
4 Chất dịch 1 – 10
(Nguồn : Cefinea)
Bảng 4:Thành phần vật lý chất thải y tế một số bệnh viện ở TP. HCM
STT Thành phần vật lý Phần trăm trọng lượng
(%)
1 Plastic 30,1
2 Cao su (C
4
H
6
)n 24,2
3 Vải, giấy (C
6
H

(g)
Lượng mol
(kmol)
C 50,85 50,85 12 4,23
H 6,71 6,71 2 3,35
O 19,5 19,5 32 0,59
N 2,75 2,75 28 0,098
Ca 0,1 0,1 40 0,00025
P 0,08 0,08 15 0,0053
S 2,71 2,71 32 0,084
Cl 15,1 15,1 71 0,212
A (tro) 1,05 1,05 - -
W (nước) 1,5 1,5 18 0,605
Tổng 100 100
(Nguồn: Cefinea)
1.3.1.2 Độ ẩm
Độ ẩm của chất thải rắn là thông số liên quan đến giá trị nhiệt lượng, xem xét khi
lựa chọn, phương pháp xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt. Độ ẩm thay đổi theo thành
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 6
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
phần và theo mùa trong năm. Tùy từng loại chất thải có độ ẩm khác nhau 8,5 – 17%, chủ
yếu là giấy, plastic chiếm tỷ lệ cao. Độ ẩm tương đối thường thích hợp với phương pháp
xử lý bằng công nghệ thiêu đốt.
1.3.1.3 Tỷ trọng
Xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ. Tỷ trọng
thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác. Tỷ trọng là thông số quan trọng
phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý vì liên quan tới khối lượng rác thu
gom và thiết kế qui mô lò đốt. RYT có thành phần hữu cơ cao nên tỷ trọng chất thải thấp

GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 7
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
Chương 2
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Chất thải y tế thường áp dụng các phương pháp xử lý và tiêu hủy:
 Phương pháp xử lý: thiêu đốt, khử khuẩn bằng hoá chất, nồi hấp, đóng gói
kín, vi sóng…
 Phương pháp tiêu hủy: bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh, chôn lấp trong khu
đất bệnh viện, nước thải được thải vào hệ thống xử lý.
2.1 Phương pháp khử trùng
Đây là công đoạn đầu tiên khi xử lý RYT nhằm hạn chế tai nạn cho nhân viên thu
gom, vận chuyển và xử lý rác. Chất thải lâm sàng có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, phải được
xử lý an toàn bằng phương pháp khử trùng ở gần nơi chất thải phát sinh sau đó cho vào túi
nilon màu vàng rồi vận chuyển tiêu hủy.
 Khử trùng bằng hóa chất: clor, hypoclorite…là phương pháp rẻ tiền, đơn giản
nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu diệt hết vi khuẩn trong rác. Vi
khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử lý không hiệu quả. Hoá chất bản thân
đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ chất thải để giảm thể tích.
 Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ
vận hành, bảo dưỡng cao; xử lý kim tiêm sau khi nghiền nhỏ, làm biến dạng. Nhược điểm
tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp.
 Khử trùng bằng siêu cao tầng: khử trùng tốt, năng suất cao. Tuy nhiên, đòi hỏi
kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến.
2.2 Phương pháp trơ hoá (cố định và đóng rắn)
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi để xử lý chất thải nguy hại trong đó có
cả rác y tế. Đó là qúa trình xử lý trong đó xử lý chất thải nguy hại được trộn với phụ gia
hoặc bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra
ngoài.

khí)
• Phát sinh côn trùng và dịch bệnh
• Chi phí xử lý phát sinh ô nhiễm cao. Những Bãi Chôn Lấp cải tiến và hợp vệ sinh
ngoài việc đảm bảo chống thấm của nước rác còn phải có các công trình như cần
cân, phân loại và xử lý rác độc hại, đầm lèn, che đậy khoan trung gian, hệ thống
thoát nước mưa riêng và phủ đất các ô đạt độ cao. Để giảm mùi hôi còn phải có
hàng rào cách ly và sử dụng các chế phẩm vi sinh.
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có Bãi Chôn Lấp nào thoả mãn các yêu cầu trên,
hơn nữa phân sinh ra từ các Bãi Chôn Lấp cũng không sử dụng được cho đồng ruộng
nước ta. Thế nhưng ở nước ta, hầu hết phương pháp xử lý rác sinh hoạt hiện nay là
phương pháp này. Và phương pháp này cũng không dùng để xử lý rác y tế.
2.4 Phương pháp đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong
không khí, trong đó rác sẽ được chuyển hoá thành khí và các chất trơ không cháy. Đây là
phương pháp phổ biến, nhiều nơi áp dụng; là quá trình ôxi hóa rác ở nhiệt độ cao, tạo
CO
2
, H
2
O…Phương trình tổng quát:
C
x
H
y
O
z
+ (x+y/4+z/2) O
2
= xCO
2

lượng chất thải rắn được đốt có tới 80% là đốt có thu hồi năng lượng, ở Mỹ 28 bang có lò
đốt thu hồi năng lượng, ở Đức lượng rác đem đốt chiếm 36%;Canada 80%; Pháp và Bỉ
54%; Đan Mạch 48%; Anh 90%; Ý 75%; Nhật 75%... Để xử lý hơn 400 triệu tấn rác thải
nguy hại hàng năm, ở Nhật Bản đã có khoảng 3.000 lò đốt rác.
Ở Ba Lan, tại cảng Gdansk đả lắp đặt 1 lò quay đốt chất thải có công suất đốt 2,5
tấn/giờ, chất thải được đốt từ các ngành công nghiệp dầu khí, thực phẩm, dược phẩm, hóa
chất... Lò đốt hoạt động 290 ngày/năm, đốt liên tuc, 75 ngày bảo trì và sửa chữa lò. Lò đốt
tối đa là 20.000 tấn chất thải/năm. Nhiệt độ sau buồng đốt thứ cấp tối thiểu phải đạt từ 850
– 900
0
C. Để giảm NO
x
trong khí thải, ở đây người ta dùng dung dịch Urê 40% trong nước
để xử lý. Khí thải được xử lý đạt tiêu chuẩn quy định của Ba Lan trước khi thải ra môi
trường.
Ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Phần Lan, Thụy Điển, Canada đã triển khai nhiều lò đốt chất
thải nguy hại trong đó thu hồi nhiệt để cấp cho nồi hơi phát điện. Ở Mỹ, Canada chủ yếu
đốt chất thải theo công nghệ lò quay (khoảng 70%), trong khi đó ở các nước Châu Âu lại
chủ yếu là đốt trên lò nhiệt phân tĩnh.
2.5.2 Tình hình áp dụng công nghệ đốt chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế
ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rác thải nguy hại với độc tính đã và đang tác động tiêu cực một cách
trầm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống. Trước đây do chưa được quan
tâm đúng mức, hầu hết các loại rác nguy hại trên được thugom và đưa đi xử lý chung với
rác sinh hoạt.
Theo thống kê của Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, mỗi ngày các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong cả nước thải ra môi trường khoảng 50.000 tấn
chất thải rắn, trong đó gồm 26.877 tấn chất thải công nghiệp, 21.828 tấn chất thải sinh
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 10
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang

Định, Cần Thơ...) và 1 lò GG4 ở Biên Hòa, Đồng Nai. Lò đốt rác y tế HOVAL có công
suất 7 tấn/ngày do Công ty Môi trường Đô thị TP. Hồ Chí Minh nhập từ Bỉ, hiện lắp đặt
tại Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa để xử lý rác tập trung cho Thành phố Hồ Chi
Minh. Lò HOVAL A>G công suất 20 Kg/h nhập từ Thụy Sĩ cho Bệnh viện Lê Lợi – TP.
Vũng Tàu. Lò BIC của Bỉ ở Bệnh viện Long Thành – Đồng Nai...
Những năm gần đây, đã có nhiều đơn vị trong nước tham gia vào việc nghiên cứu
chế tạo lò đốt rác với nhiều chủng loại và công suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu cấp
thiết bảo vệ môi trường hiện nay như: lò đốt rác y tế LRH-500 của Sở KHCN & MT TP.
Hồ Chí Minh; các lò đốt rác công nghiệp LODRA và lò đốt rác y tế LODY của Công ty
cổ phần FBE Vietnam; lò đốt rác y tế của Viện Môi trường và Tài nguyên chế tạo cho
Trung tâm Y tế Bến Cầu, Tây Ninh; lò đốt rác do Trường Đại Học Bách Khoa TP. Hồ Chí
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 11
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
Minh chế tạo cho Bệnh viện Cù Lao Minh, Bến tre; lò đốt rác y tế của Viện Cơ học ứng
dụng chế tạo cho Trung tâm lao và bệnh phổi Tiền Giang...
2.6 Cơ sở lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
2.6.1 Cơ sở lựa chọn
Dựa vào càc phương pháp xử lý rác y tế đã nêu, các phương pháp đều có ưu nhược
điểm riêng. Khử trùng bằng hoá chất không đảm bảo hiệu quả khử trùng, chất thải vẫn còn
nguy cơ lây nhiễm cao; khử trùng bằng nối hấp, sóng viba đòi hỏi kỹ thuật cao, chi phí tốn
kém; phương pháp chôn lấp thường không qua xử lý nên ảnh hưởng đến môi trường.
Qua các phân tích trên, phương pháp thiêu đốt RYT là thích hợp, phù hợp điều
kiện nhiều vùng ở nước ta, có nhiều ưu điểm, giảm 90 – 95% trọng lượng chất thải hữu cơ
trong rác, chất thải phát sinh từ quá trình đốt có thể được xử lý tại chỗ, tránh rủi ro khi vận
chuyển, hiệu quả cao đối với chất thải nguy hiểm, chất thải lây nhiễm cao.
2.6.2 Quá trình quản lý chất thải rắn y tế trước khi xử lý
2.6.2.1 Thu gom
Phải có lịch trình thu gom và vận chuyển rác hợp lý.

ở buồng đốt (tro đáy), lớp tro này xem như chất thải nguy hại. Các hạt tro có kích thước
nhỏ có thể bị cuốn lên cao (tro bay). Tàn tro cần chôn lấp an toàn vì thành phần nguy hại
sẽ trực tiếp gây hại. Lượng kim loại nặng được xác định qua việc kiểm tra khói thải và tro
dư của lò đốt.
Thành phần khí thải chủ yếu là CO
2
, hơi nước, NO
x
, hydrigen cloride và các khí
khác. Các khí vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho con người và môi trường, vì vậy cần có
hệ thống xử lý khói thải từ lò đốt.
Lò đốt thường được chia làm 2 buồng
 Buồng đốt chính: gồm 2 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: chất thải được sấy khô.
+ Giai đoạn 2: cháy và khí hóa.
 Buồng đốt sau: gồm 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 3: phối trộn.
+ Giai đoạn 4: cháy ở dạng khí.
+ Giai đoạn 5: ôxi hoá hoàn toàn.
Các yếu tố quyết định sự hiệu quả của lò đốt: sự cân bằng năng lượng, hệ thống
kiểm soát chế độ đốt, nhiệt độ nóng chảy trong buồng đốt, độ ẩm của chất thải.
Phương pháp đốt là phương pháp hiệu quả và kinh tế nhất để xử lý triệt để chất
thải y tế nguy hại
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 13
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
Hình 1: Công nghệ thiêu đốt rác y tế
2.6.4 Các kiểu lò cơ bản
Có 2 kiểu lò cơ bản:

Chi phí Tương đối thấp Chi phí cao Khá đắt
Phương pháp thiêu đốt phụ thuộc hiệu quả sử dụng của từng loại lò:
 Lò đốt thùng quay (Rotary – Kiln Incineration)
Cấu tạo lò đốt thùng quay được thể hiện trong hình 2.4
Hình 2: Lò đốt thùng quay.
Đây là loại lò đốt được sử dụng khá phổ biến ở các nước tiên tiến hiện nay, lò đốt
có nhiều ưu điểm bởi quá trình xáo trộn rác tốt, đạt hiệu quả cao. Lò đốt thùng quay được
sử dụng để xử lý các loại chất thải nguy hại dạng rắn, cặn, bùn và cũng có thể ở dạng
lỏng. Ở Mỹ lò đốt thùng quay chiếm tới 75% số lò đốt chất thải nguy hại, lò đốt tầng sôi
chiếm 10%, còn lại 15% các loại lò khác. Cấu tạo của lò đốt bao gồm:
a.) Buồng sơ cấp
Là một tang quay với tốc độ điều chỉnh được, có nhiệm vụ đảo trộn chất thải rắn
trong quá trình cháy. Lò đốt được đặt hơi dốc với độ nghiêng từ (1 – 5)/100, nhằm tăng
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 15
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
thời gian cháy của chất thải và vận chuyển tự động tro ra khỏi lò đốt. Phần đầu của lò đốt
có lắp một béc phun dầu hoặc gas kèm quạt cung cấp cho quá trình đốt nhiên liệu nhằm
đốt nóng cho hệ thống lò đốt. Khi nhiệt độ lò đạt trên 800
0
C thì chất thải rắn mới được
đưa vào để đốt. Giai đoạn để đốt sơ cấp, nhiệt độ lò quay khống chế từ 800 – 900
0
C, nếu
chất thải cháy tạo đủ năng lượng giữ được nhiệt độ này thì bộ điều chỉnh bec-phun
dầu/gas tự động ngắt. Khi nhiệt độ hạ thấp hơn 800
0
C thì bộ đốt tự động làm việc trở lại.
b.) Buồng đốt thứ cấp

tro và bồ hóng định kỳ, không hiệu quả khi tiêu huỷ chất thải hoá học và dược học.
 Lò đốt 2 buồng: hiệu quả khử khuẩn cao, xử lý được chất thải nhiễm khuẩn, hầu hết
chất thải hoá học và dược học nhưng không tiêu hủy hoàn toàn thuốc gây độc tế bào.
Lò đốt tầng sôi (tháp đốt tầng sôi / Fluid – Bed Furnace)
Lò đốt tầng sôi là một tháp hình trụ đứng, bên trong chứa một lớp cát dày 40 –
50cm nhằm: nhận nhiệt và giữ nhiệt cho lò đốt, bổ sung nhiệt cho rác ướt. Lò đốt làm việc
ở chế độ tĩnh. Lớp cát được gió thổi xáo động làm chất thải rắn bị tơi ra, xáo động nên
theo cháy dễ dàng. Chất thải lỏng khi bơm vào lò sẽ bám dính lên bề mặt các hạt cát nóng
đang xáo động, nhờ vậy sẽ bị đốt cháy còn thành phần nước sẽ bay hơi hết.
Hình 3: Lò đốt tầng sôi.
Ví dụ minh họa:
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 17
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
 Lò đốt rác bằng gas, được đặt tại trung tâm hỏa tánh Bình Hưng Hòa, công suất 7
tấn/ngày (GG42 HOVAL) có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn, do công ty môi
trường % đô thị quản lý. Lò sử dụng nhiệt theo nguyên lý hiệu ứng nhiệt phân. Lò
gồm 2 buồng: buồng đầu đốt để khí hóa, buồng thứ hai đốt cháy khí sinh ra từ buồng
đầu. Đây là kiểu lò tĩnh, hoạt động liên tục, chia làm 3 giai đoạn: nạp rác (8h), đốt
(8h), làm nguội (8h).
Hình 4: Sơ đồ vận hành lò đốt GG42 HOVAL
Nguyên lý vận hành: lò sử dụng nhiệt để thiêu hủy rác qua 2 buồng đốt, buồng sơ
cấp (giai đoạn I) rác được đốt ở 700
o
C, buồng thứ cấp gia tăng nhiệt đến 1000
o
C, đảm
bảo đốt cháy hoàn toàn khí từ buồng sơ cấp. Bicabonate Natri và than hoạt tính tạo phản
ứng trung hoà nhằm giảm lượng acid, kim loại nặng, lọc bụi trước khi thải ra ngoài.

0
46

36
’’
vĩ độ
Bắc và từ 105
0
48

43
’’
đến 105
0
22

48
’’
kinh độ Đông
Phía Tây và Tây Bắc giáp với ba tỉnh Svay – Riêng, Kông – Pông – Chàm và
Swoai – Riêng của vương quốc Cămphuchia, đường biên giới chung hai nước dài 240km,
có hai cửa khẩu Mộc Bài và Sa Mát. Ngoài ra còn nhiều cửa khẩu tiểu ngạch khác.
Phía Đông giáp với tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp với TP. Hồ Chí
Minh và tỉnh Long An.
Thị xã (trong đó có 5 huyện biên giới) gồm: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh
Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng. Toàn tỉnh được chia ra là
79 xã, 3 phường và 8 thị trấn. Trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh được đặt tại
thị xã Tây Ninh cách Tp.Hồ Chí Minh 99 km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 22 và cách thủ
đô Hà Nội 1809 km theo quốc lộ 1.
Định hình tỉnh Tây Ninh nghiêng theo hướng Đông Bắc – Tây Nam với hai đặc

0
C
và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15,3
0
C.
Bảng 7 :Đặc trưng khí tượng tỉnh Tây Ninh
Tháng
Đặc trưng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Giờ nắng trong
tháng
27
7
261 276 253
24
7
179 205 187 189 206 228 254
Nhiệt độ bình
quân
25,
6
26,6 28 28,8
28,
1
27,
2
26,
8
26,
6

Chế độ mưa
Tây Ninh có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 20
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
Mùa mưa: Bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa vào thời gian
này chiếm khoảng 86% lượng mưa cả năm. Trong mưa thường xảy ra mưa rào, nặng hạt
và mau tạnh.
Mùa khô: Lượng mưa vào mùa này rất ít nhưng tính chung trong năm thì lượng
mưa và lượng bốc hơi vào mùa mưa và mùa khô là gần ngang nhau nên thường xảy ra
hiện tượng khan hiếm nước, hạn hán xảy ra vào mùa khô, nhất là các vùng đất cao phía
Bắc và Đông Bắc tỉnh.
Bảng 8 : Lượng mưa trung bình ở một số nơi trong tỉnh Tây Ninh trong 20 năm (1984
– 2005)
Tháng Kà Tum TX.Tây Ninh Núi Bà Đen Gò Dầu
1 4 8 5 7
2 4 8 7 3
3 22 20 22 16
4 56 89 61 69
5 166 200 143 181
6 262 240 175 216
7 247 258 182 208
8 290 230 211 187
9 374 263 303 292
10 251 312 210 271
11 82 132 120 129
12 14 26 18 21
(Nguồn : Công ty công nghệ môi trường Thăng Long)
Bốc hơi nước

Hoạt động công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
Trong những năm qua, nền công nghiệp tỉnh Tây Ninh có những bước phát triển rõ
rệt nhưng so với một số tỉnh lân cận thì tốc độ này còn chậm. Trong những tháng cuối
năm, các nhà máy đường hoạt động sớm hơn so với mọi năm nên góp phần gia tăng giá trị
sản xuất công nghiệp khoảng 14,3% so với năm trước. Sản xuất khu vực tỉnh Tây Ninh
trong năm 2002 đã đạt một số kết quả sau:
 Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 2280,4 tỷ đồng.
 Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,0%.
 Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực vốn đầu tư nước ngoài tăng 25,9%.
 Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực kinh tế nhà nước giảm 0,1%.
 Một số ngành có mức tăng trưởng cao như kim loại tăng 59,3%, cao su tăng
11,6%, gạch ngói tăng 23,3%, chế biến gỗ tăng 45,4%...
Nhìn chung, các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây
Ninh có các đặc điểm chính sau:
 Cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nằm rải rác trong khu dân cư
tại các huyện thị.
 Sản xuất tập trung vào các ngành chính sau: chế biến lương thực thực phẩm, vật
liệu xây dựng, hoá chất cao su, chế biến gỗ,…
Trong phương án quy hoạch sắp tới, Tây Ninh sẽ nâng cấp quy mô sản xuất các
nhà máy hiện đại, một số nhà máy được xây dựng mới và phát triển các khu công nghệ tập
GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 22
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
trung bao gồm các khu công nghiệp chế biến mía và cao su ở vùng I (các huyện Tân Biên,
Tân Châu, Dương Minh Châu), các khu công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp nhẹ, tiểu
thủ công mỹ nghệ ở vùng II (Hoà Thành, Gò Dầu, TX.Tây Ninh, các xã phía Đông sông
Vàm Cỏ thuộc huyện Trảng Bàng, Châu Thành).
Huyện Châu Thành: - Công nghệ cao Thành Điền;
- Công nghệ cao Thái Bình.

GVHD: PGS-TS Đinh Xuân Thắng Trang 23
SVTH: Bùi Nguyễn Diễm Trang
Trang
Tên đề tài: Thiết kế lò đốt rác y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh công suất 35kg/h
cho lực lượng lâm trường trước đây đã giải thể ở tại chỗ để bảo vệ nên cũng đã hạn chế
được đáng kể tệ nạn phá rừng làm rẫy, khai thác lâm sản trái phép.
Tình hình phát triển ngư nghiệp
Hiện tại Tây Ninh có tổng diện tích ao hồ có thể khai thác nuôi trồng thuỷ sản lá
1.680 ha, nhưng diện tích thực sự được sử dụng mới chỉ là 490 ha. Đó là chưa tính tới
diện tích ngập nước của vùng lòng hồ Dầu Tiếng lên tới 27.000 ha chưa được khai thác
đầu tư nuôi trồng thuỷ sản. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 1999 đạt 2.100 tấn tăng 6,8
lần so với năm 1995 nhưng sản lượng đánh bắt lại giảm hơn so với năm 1995.
Tuy nhiên nghề cá còn nhiều hạn chế, quy mô nhỏ, chưa khai thác được nhiều.
Việc nuôi trồng thuỷ sản còn tuỳ tiện, chưa có một kế hoạch cụ thể. Công tác khuyến ngư
chưa phát triển, vốn đầu tư chưa hợp lý nên chưa khuyến khích được ngành thuỷ sản phát
triển.
3.2.3 Giáo dục, văn hoá, y tế và vệ sinh môi trường
Văn hoá – Giáo dục – Y tế tỉnh Tây Ninh đang từng bước phát triển ,ở các khu vực
đô thị tập trung đông dân cư thì điều kiện cơ sở phục vụ cho đời sống văn hóa của nhân
dân ở mức tương đối cao và tỉnh đang tập trung hỗ trợ để nâng cao đời sống văn hoá,
chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ở các vùng sâu vùng xa nhằm từng bước xoá bỏ ranh
giới giữa thành thị và nông thôn và đã có những bước tiến triển sau:
 Văn hoá: thực hiện tốt các công tác tuyên truyền, phục vụ kịp thời các nhiệm vụ
chính trị, phản ánh kịp thời những thông tin thời sự các thành tựu kinh tế – xã hội
trong tỉnh cũng như cả nước. Thực hiện toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở khu dân cư và đã có 212 khu dân cư được công nhận là xuất sắc, 7 ấp được
công nhận là ấp văn hoá,…
 Giáo dục: Ngành giáo dục đã hoàn thành tốt công tác giáo dục với tỷ lệ học sinh
các cấp đều cao hơn các năm trước như tiểu học đạt 99,15% (tăng 0,75%), trung
học cơ sở đạt 93,7% (tăng 8%), trung học phổ thông đạt 87,4% (tăng 3,1%).

% so sánh
2006/2005
Cơ sở khám chữa bệnh:
Trong đó:
Bệnh viện, phòng khám khu
vực
Trạm y tế xã, phường, cơ quan
XN
Cơ sở


952
17
95
1.128
18
95
118,49
105,88
100,00
Giường bệnh:
Trong đó:
Bệnh viện, phòng khám khu
vực
Trạm y tế xã, phường, cơ quan
XN
Giường




101,68
100,98
112,40
177,27
Cán bộ ngành dược
Dược sĩ cao cấp
Dược sĩ trung cấp
Dược tá
Người



687
128
315
244
750
138
345
267
109,17
107,81
109,52
109,43
(Nguồn : Sở y tế Tây Ninh 2005)
Cũng theo thống kê của Sở Y tế Tây Ninh, hiện toàn tỉnh có 3.105 cán bộ phục vụ
trong ngành y tế, trong đó cán bộ sự nghiệp y tế là 1.464 người, chiếm gần 47%. Trong
phạm vi toàn tỉnh, sự biến động cơ cấu cán bộ y tế có xu hướng tăng nhanh Bác sĩ, Dược
sĩ, giảm Ytá, Y sĩ. Thời kỳ 2005 – 2007 số Bác sĩ tăng bình quân khoảng 6,24%/năm và
số Dược sĩ tăng 2,4%/năm, số lượng Y tá, Y sĩ giảm 3 – 3,5% cùng thời kỳ. Nhìn chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status