1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Giải thích
BHTG
Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
FED
Cục dự trữ liên bang Mỹ
IADI
Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế
IDIC
TMCP
Thương mại cổ phần
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 1.1 Một số mốc thay đổi quan trọng trong chính sách phí BHTG của FDIC
Bảng 1.2 Hạn mức bảo hiểm của FDIC trong lịch sử
Bảng 1.3 Sự thay đổi linh hoạt trong quá trình hình thành và phát triển mô hình thu
phí của FDIC
Bảng 1.4 Tổng quan về “Hệ thống tính phí khác biệt” (DPS)
Bảng 1.5 Bảng tính phí trên mức độ rủi ro hệ thống DPS
Bảng 1.6 Hạn mức chi trả BHTG tại một số quốc gia Đông Nam Á
Bảng 2.1 Chỉ tiêu giám sát nhóm ngân hàng thương mại nhà nước năm 2007
Bảng 2.2 Tính phí một số ngân hàng thương mại nhà nước quý 4/2007
Bảng 2.3 Tỷ lệ chi trả BHTG/GDP qua các năm
Bảng 3.1 Mô hình giám sát, đánh giá rủi ro
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của tổ chức BHTGVN
Sơ đồ 1.2 Mô hình giám sát rủi ro của KDIC
Sơ đồ 3.1 Cái nhìn toàn diện về mô hình BHTG
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Theo dõi sự thay đổi các mức lãi suất
Biểu đồ 2.2 Quy mô quỹ BHTG và tỉ lệ phần trăm quỹ BHTG trên số dư tiền gửi
được bảo hiểm
5
ra nếu NHNN không kịp thời ra tay giúp đỡ Ngân hàng Xây dựng? Câu trả lời là đổ
vỡ ắt hẳn sẽ xảy ra.
Ngân hàng là một hệ thống có đặc thù riêng biệt, hoạt động của nó không độc
lập mà có mối liên hệ chặt chẽ với các tổ chức khác. Khi một ngân hàng đổ vỡ sẽ
kéo theo cả hệ thống ngân hàng lung lay và ảnh hưởng tới cả nền kinh tế. Vì vậy
giữ an toàn cho hệ thống tín dụng là mục tiêu quan trọng hàng đầu của một nền
kinh tế.
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi (BHTG) của mỗi quốc gia đóng vai trò chủ đạo
trong việc đảm bảo an toàn này. Theo nghiên cứu của Hiệp hội BHTG quốc tế thì
để hệ thống tài chính hoạt động an toàn tổ chức BHTG phải hoạt động tích cực và
hiệu quả trong việc phát hiện sớm, can thiệp và xử lý các TCTD gặp vấn đề. Từ
thực tiễn trong và ngoài nước, nhóm nghiên cứu thấy nhiệm vụ giúp đỡ các ngân
hàng hạn chế rủi ro là vô cùng quan trọng. Luôn phải có ý thức phòng ngừa rủi ro
xảy ra chứ không phải để rủi ro xảy ra rồi mới đi xử lý vì khi có rủi ro, ắt hẳn sẽ có
nhiều bên bị thiệt, tốn kém chi phí, làm mất ổn định nền kinh tế trong một thời gian
và làm mất lòng tin nơi người gửi tiền. Do đó, một hệ thống giám sát, kiểm tra tốt
là vô cùng cần thiết, nó sẽ giúp dự báo, phát hiện sớm các TCTD đang gặp khó
khăn, từ đó có biện pháp giúp đỡ, ngăn chặn rủi ro và có thể ứng phó kịp thời nhất
là trong giai đoạn nền kinh tế đang bất ổn như hiện nay.
Vấn đề nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ ba vấn đề trong bài nghiên cứu này. Một
là tìm hiểu xem có bao nhiêu mô hình tổ chức BHTG và ở mô hình nào thì vai trò
giám sát được thể hiện rõ nét nhất. Thứ hai là nêu lên thực trạng giám sát của tổ
chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) đối với các tổ chức tham gia BHTG
hiện nay, điểm yếu và bất cập như thế nào. Từ đó đi đến nội dung thứ ba là đưa ra
các giải pháp tăng cường vai trò giám sát của tổ chức BHTGVN.
a. Các nghiên cứu trên thế giới về rủi ro đạo đức và tầm quan trọng của giám
sát
Vấn đề rủi ro đạo đức, kỉ luật thị trường
Nghiên cứu của Martin (2003) nhận xét rằng: sự đổ vỡ ngân hàng xảy ra khi
có quá nhiều người gửi tiền đến rút tiền cùng một lúc do có tin đồn không lành
mạnh cho ngân hàng. Ngân hàng không thể đáp ứng mọi nhu cầu đó ngay lập tức vì
nguồn tiền gửi đó ngân hàng đang cho vay nhưng chưa đến ngày đáo hạn, hoặc
ngân hàng đang đầu tư tại các kênh khác. Trên thực tế thì hiếm khi người gửi tiền
cần rút hết số tiền của họ cùng một lúc; nhưng nếu nhiều người lo lắng tiền gửi của
họ và nhiều người khác đang ồ ạt rút tiền, ngân hàng không thể có nguồn tiền kịp
thời để chi trả cho họ. Trường hợp trên xảy ra với giả thiết chưa có sự xuất hiện của
BHTG.
BHTG có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm
bảo sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính-ngân hàng. Tuy nhiên, BHTG gây
ra vấn đề rủi ro đạo đức đối với ngân hàng và người gửi tiền. Rủi ro đạo đức, theo
Barthlomew (1990) là “những khích lệ bởi sự bảo hiểm, xúi giục tổ chức tham gia
BHTG thực hiện các hoạt động rủi ro hơn khi tổ chức chưa được tham gia BHTG,
và những hậu quả từ những rủi ro đó sẽ được giải quyết bởi tổ chức BHTG”. Theo
Hiệp hội BHTG quốc tế (IADI), khái niệm rủi ro đạo đức đề cập đến “xu hướng
chấp nhận rủi ro của một tổ chức với niềm tin họ sẽ không phải chịu hậu quả từ các
hành động đã gây ra”. Khi có sự xuất hiện của BHTG, người gửi tiền được chi trả
tiền trong trường hợp ngân hàng của họ mất khả năng thanh toán, nên họ sẽ không
còn giám sát các hoạt động của ngân hàng. Đối với ngân hàng, họ thực hiện các
việc đầu tư mạo hiểm hơn, vì nếu thất bại thì đã có một tổ chức đứng ra hỗ trợ; còn
nếu thành công thì họ sẽ thu được nhiều lợi nhuận.
8
Cùng nghiên cứu về sự giám sát và vấn đề rủi ro đạo đức trong bài viết:
ngoài một cách hợp lí bởi các quy định về bảo hiểm.
Rủi ro đạo đức thường tồn tại ở các tổ chức gần mất hoặc mất khả năng chi
trả, chủ sở hữu sẽ có động cơ để thực hiện rủi ro vì họ có nhận thức mang hướng
tiêu cực rằng “được ăn cả - ngã có tổ chức BHTG chi trả”. Nghiên cứu của Martin
(2003) và Hooks and Robinson (2002) nhấn mạnh tổ chức ngân hàng có càng ít vốn
chủ sở hữu thì càng có xu hướng chấp nhận rủi ro, nguyên nhân do họ “có quá ít để
mất” (have little to lose).
Trong khi đó, Chernykh and Cole (2011) đã đề cập tới tỉ lệ vốn chủ sở hữu
trên tổng tài sản giảm trong khi tỉ lệ cho vay trên tổng tài sản tăng lên sau khi thực
hiện chương trình BHTG và cũng kết luận rằng BHTG là nguy cơ dẫn đến rủi ro
đạo đức.
Tuy nhiên, Karels and McClatchey (1999) và Gueyie and Lai (2003) nghiên
cứu chỉ ra BHTG không làm tăng đầu tư rủi ro, cũng như không dẫn đến rủi ro đạo
đức.
Gropp and Vesala (2004) đưa ra quan điểm sự giám sát đã giảm rủi ro đạo đức
và sự chấp nhận rủi ro cửa các ngân hàng như thế nào bắt nguồn từ sự bảo vệ của
BHTG. Họ đã nghiên cứu hạn mức tối ưu cho BHTG thông qua sự giám sát của
người gửi tiền. Manz (2009) qua bài nghiên cứu của mình đã công bố quan điểm
mức bảo hiểm cao thì giảm thất bại thị trường nhưng lại tăng nguy cơ không hiệu
quả.
Một vấn đề cũng liên quan mật thiết tới rủi ro đạo đức và sự cần thiết của
giám sát là kỉ luật thị trường.
Các nghiên cứu về kỉ luật thị trường tập trung vào việc tìm hiểu xem BHTG
đã giảm sự giám sát của mình vào khoản tiền trong ngân hàng như nào. Kỉ luật thị
10
trường từ người gửi tiền diễn ra bởi vì nhu cầu lãi suất cao hoặc nhu cầu rút tiền
sớm. Mục tiêu của BHTG là bảo vệ người gửi tiền, làm dịch vụ thanh khoản của
nhiên khi được áp dụng một hạn mức bảo hiểm hợp lí, hệ thống tính phí phân biệt
hoặc theo mức độ rủi ro… thì rủi ro đạo đức có thể giảm thiểu. Trên thực tế, việc
đưa ra hạn mức bảo hiểm đủ để người gửi tiền có niềm tin vào hệ thống ngân hàng,
hay việc thu phí trên mức độ rủi ro là rất khó để xác định. Vì vậy, việc nâng cao vai
trò giám sát đối với các tổ chức tham gia BHTG là hết sức quan trọng, không phải
chỉ đến khi tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ thì tổ chức BHTG mới thực hiệm nhiệm
vụ chi trả mà còn phải kiểm tra, giám sát thường xuyên trong cả quá trình hoạt
động.
Sự cần thiết của việc giám sát của tổ chức BHTG
Nếu đọc qua nội dung chính của các bài nghiên cứu được liệt kê phía trên thì
chúng ta cũng hiểu được vai trò quan trọng của việc giám sát. BHTG là một bộ
phận vô cùng quan trọng trong hệ thống tài chính của các quốc gia. Nó góp phần
đảm bảo an toàn hệ thống và làm người gửi tiền an tâm. Tuy nhiên, nếu hoạt động
của BHTG tiền ẩn nhiều rủi ro, làm gia tăng nguy cơ đổ vỡ thì thật nguy hiểm, do
đó vai trò giám sát cần được nâng cao. Giám sát để triệt tiêu rủi ro không đáng có.
Eisenbeis and Wall (2002) cho biết: Luật cải tiến của Mỹ (1991) tìm ra để tổ
chức lại cơ chế khuyến khích, ví dụ, điều khoản 131 của luật này: các cơ quan
thanh tra sẽ điều tra những tổn thất trọng yếu và công bố công khai. Tuy nhiên sự
khuyến khích là không đủ rõ ràng. Vì thế, việc giám sát ngay từ đầu trở nên cần
thiết.
Để tránh tình trạng mà một tổ chức mất khả năng thanh toán vẫn được tiếp tục
hoạt động, Luật cải tiến nâng cao vai trò giám sát để can thiệp vào một ngân hàng
trước khi nó mất khả năng chi trả .
12
David and Obasi (2009) nhấn mạnh những tác động của hệ thống BHTG lên
rủi ro về tài sản của ngân hàng. Ngân hàng chiểm tỉ trọng cao của những người gửi
tiền lớn đều thực hiện khá ít rủi ro trước khi có BHTG, nhưng sau khi có BHTG họ
trả BHTG. Nhiệm vụ của BHTG là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vì vậy hạn
mức chi trả phải đảm bảo không quá thấp khiến người gửi tiền hoang mang. Nhưng
nếu hạn mức quá cao thì dẫn tới rủi ro đạo đức. Bài viết có so sánh hạn mức chi trả
các quốc gia, xem xét diễn biến và dẫn tới kết luận rằng hạn mức chi trả là một
công cụ giám sát rủi ro của tổ chức BHTG. Vì vậy cần tính toán kĩ lưỡng xem hạn
mức chi trả là bao nhiêu để đảm bảo an toàn lành mạnh của hệ thống (Hương,
2012).
Về hoạt động giám sát từ xa, tác giả Phạm Thị Bích Vân nêu lên những tồn tại
khó khăn của tổ chức BHTG. Nguyên nhân là luật chưa quy định chức năng và
nhiệm vụ tương xứng, hệ thống thông tin và sự phối hợp chưa tốt. Nổi bật là việc tổ
chức BHTG không được trực tiếp cảnh báo các TCTD vi phạm an toàn hoạt động.
Điều này gây hạn chế lớn tới hoạt động giám sát rủi ro của tổ chức BHTG (Vân,
2012).
Trái lại với ý kiến trên thì có ý kiến lại cho rằng nhiệm vụ giám sát như vậy là
hợp lí vì tổ chức BHTG không có nhiều công cụ giám sát để thực hiệm nhiệm vụ
giám sát an toàn hệ thống, việc này để NHNN thực hiện sẽ tốt hơn. Bên cạnh đó,
nếu cả tổ chức BHTG và NHNN cùng thực hiện giám sát một vấn đề sẽ dẫn tới
việc chồng chéo quyết định.
Kết luận: Có rất nhiều bài nghiên cứu, bài báo nói về nguyên nhân và sự cần
thiết của việc giám sát trong lĩnh vực BHTG. Chúng là nguồn tư liệu quý giá trong
việc nghiên cứu. Tuy nhiên các bài báo đều chưa đặt các công cụ giám sát liền nhau
để thấy được tác động qua lại của các công cụ đó. Hơn thế nữa các bài nghiên cứu
14
từ trước tới nay tập trung chủ yếu vào vai trò giám sát của người gửi tiền và các
TCTD tham gia BHTG chứ chưa có bài nghiên cứu nào tập trung vào vai trò giám
sát của tổ chức BHTG. Đặc biệt quan trọng là các bài nghiên cứu về BHTG ở Việt
Nam còn quá ít, chưa ai so sánh các mô hình giám sát trên thế giới và tìm ra một
+Các ngân hàng TMCP
+Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
+Các công ty tài chính
+Các công ty cho thuê tài chính
+Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài.
16
-Người được BHTG là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm
tại tổ chức tham gia BHTG.
1.1.2 Mục đích, vai trò của BHTG
Về mục đích:
-BHTG bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người gửi tiền.
-Bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng; ngăn
chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức BHTG.
-Xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa
các tổ chức tài chính có quy mô khác nhau.
-Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của
TCTD.
Về vai trò:
-Bảo vệ người gửi tiền và nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống
ngân hàng. Niềm tin của người gửi tiền là rất quan trọng trong hệ thống tài chính,
vì khi gửi tiền vào một ngân hàng, khách hàng thường xem xét uy tín, sự an toàn
của ngân hàng, cũng như sự ổn định trong hoạt động và khả năng nhận lại tiền gửi
nếu ngân hàng đó bị phá sản. Nếu một ngân hàng mất khả năng thanh khoản,
nhưng có một tổ chức đứng ra đảm bảo thanh toán các khoản tiền gửi thì điều đó sẽ
củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng.
-Bảo đảm sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng từ khi cấp phép đến
khi ngừng hoạt động. BHTG sẽ nắm bắt rõ ràng tình hình hoạt động của các ngân
Trên thế giới có ba mô hình BHTG chính đó là mô hình chi trả, mô hình chi
trả mở rộng và mô hình giảm thiểu rủi ro.
Mô hình chi trả được áp dụng lần đầu vào năm 1929-1933 trong cuộc khủng
hoảng tài chính ở Mỹ do hệ lụy của thị trường chứng khoán sụp đổ và rất nhiều
18
ngân hàng phá sản. Mô hình chi trả có ba chức năng chính: thu phí bảo hiểm, quản
lí quay và bồi thường cho người gửi tiền. Mô hình này phù hợp với các nước đang
phát triển có tổ chức BHTG mới thành lập với quy mô nhỏ, năng lực tài chính còn
kém.
Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng: Cùng với những vai trò, nhiệm vụ
như mô hình chi trả, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng còn liên quan tới việc
xử lí nợ xấu, thanh lí ngân hàng, hỗ trợ tài chính, khuyến nghị sự cẩn trọng phòng
tránh rủi ro tới các tổ chức tham gia BHTG.
Mô hình giảm thiểu rủi ro: Ngoài chức năng của hai mô hình trên, với mô hình
này, BHTG tham gia với ngân hàng trung ương (NHTW) vào hoạt động giám sát
và đánh giá rủi ro của các ngân hàng và định chế tài chính khác; tính phí bảo hiểm
dựa trên cơ sở định mức rủi ro, kinh doanh đầu tư nhằm phát triển vốn ban đầu.
Đây là mô hình có nhiều chức năng nhất và được sử dụng tại nhiều quốc gia để ứng
phó với khủng hoảng tài chính có mức độ phức tạp.
1.2 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của BHTG
1.2.1 Trên thế giới
Khái niệm BHTG được rất nhiều quốc gia trên thế giới biết đến. Khi chưa có
sự xuất hiện của BHTG công khai, các quốc gia thực hiện “ bảo vệ ngầm”-nghĩa là
tuy không công bố rõ, nhưng họ đã ngầm hiểu rằng khi hệ thống ngân hàng bị phá
sản thì Chính phủ sẽ đứng ra chi trả tiền gửi cho người gửi tiền. Tuy nhiên việc bảo
vệ ngầm đó không mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như không mang lại niềm tin
của công chúng đối với hệ thống tài chính-ngân hàng. Chính vì vậy, BHTG công
Hệ thống BHTG công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt có khoảng
90 quốc gia trên thế giới đã sử dụng BHTG công khai để bảo vệ người gửi tiền. Tại
châu Á, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Philipin,…đã sớm học
20
hỏi và xây dựng thành công mô hình BHTG để áp dụng vào thực tế. Nhật Bản –
quốc gia đầu tiên thành lập BHTG ở châu Á (1971) đã có những chính sách để
ngăn ngừa sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng. Thái Lan, Malaysia, Singapor đã
thành lập tổ chức BHTG. Như vậy, xu hướng hình thành hệ thống BHTG ở châu Á
diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của tổ chức BHTG trên thế giới, ngày
6/5/2002, Hiệp hội BHTG quốc tế (International Association of Deposit Insurers –
IADI) đã được thành lập tại Thụy Sĩ với sự tham gia của nhiều tổ chức BHTG trên
thế giới. Điều này đã nói lên vai trò quan trọng của tổ chức BHTG với sự phát triển
an toàn-ổn định của hệ thống tài chính-ngân hàng, cũng như việc bảo vệ người tiền
khi có khủng hoảng xảy ra.
1.2.2 Ở Việt Nam
Cuối những năm 80 của thế kỉ XX, sự đổ vỡ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng
đã gây ra những bất ổn về kinh tế, thể hiện qua việc người dân đến rút tiền ồ ạt tại
các ngân hàng, và có thể nói đó mới chính là nguyên nhân gây nên đổ bể cho ngân
hàng. Trước tình hình đó, nhiệm vụ trước tiên là phải lấy lại niềm tin của nhân dân.
Ban đầu là biện pháp “bảo vệ ngầm” thông qua hệ thống các Ngân hàng thương
mại quốc doanh. Tuy biện pháp này đã đạt một số kết quả ban đầu nhưng cũng nảy
sinh mâu thuẫn về pháp lý. Vì vậy Nhà nước đã ban hành cơ chế mới về BHTG.
Theo quyết định 101/TCQĐ-BH ngày 1/2/1994 của Bộ tài chính đã giao cho Tổng
công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) triển khai nghiệp vụ BHTG. Tuy nhiên,
Bảo Việt đã không đảm bảo điều kiện cho sự thành công của tổ chức BHTG do:
thứ nhất, phí đóng góp BHTG cho Bảo Việt chỉ có tác dụng chi trả cho người gửi
khắc phục tình trạng đổ vỡ hàng loạt ngân hàng trong những năm 20 và đầu những
năm 30 của thập kỷ trước.
22
Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Mỹ buộc phải xem xét lại tất cả chính
sách phát triển của mình trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là cải tổ hệ thống tài chính.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng
này là việc Mỹ áp dụng chính sách lãi suất thấp trong một thời gian khá dài, cùng
với đó là việc giảm bớt các qui định trong các chuẩn mực tín dụng và an toàn hoạt
động ngân hàng, được gia tăng thêm nữa bởi việc chứng khoán hóa các tài sản thế
chấp, đã đặt hệ thống tài chính Mỹ vào một trạng thái rủi ro trầm trọng gây ra bởi
cho vay dưới chuẩn lan tràn. Bởi vậy, hệ thống ngân hàng chính là nơi chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất đồng thời cũng là điểm bắt đầu để khắc phục những hậu quả
của cuộc khủng hoảng này.
Theo bài viết về “75 năm triển khai chính sách BHTG tại Mỹ và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam” (Anh, 2010), trong các biện pháp nhằm tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng của Mỹ sau cuộc khủng hoảng 2008, Tổng công ty BHTG MỹFDIC, được sử dụng một cách khéo léo để giải quyết các ngân hàng đổ vỡ, bảo vệ
người gửi tiền, ngăn chặn sự lây lan của khủng hoảng. Đây là giai đoạn mà vai trò
và quyền lực của FDIC đã được tăng lên ở mức chưa từng có. Khi tổ chức tham gia
BHTG bị phá sản, FDIC được chỉ định là tổ chức tiếp nhận và chịu trách nhiệm xử
lý tài sản nhằm thu hồi một cách nhanh nhất với giá trị tối đa các tài sản còn lại của
tổ chức đó. Thẩm quyền của FDIC về xử lý đổ vỡ ngân hàng được nâng lên rõ rệt
sau khi Đạo luật Dodd-Frank được ban hành.
FDIC được trao quyền lực rộng rãi không chỉ trong đảm bảo tiền gửi ngân
hàng; bảo vệ người gửi tiền; kiểm tra và giám sát hoạt động của các tổ chức tài
chính; trực tiếp xử lý đổ vỡ ngân hàng và sắp xếp các đợt mua bán sáp nhập… mà
còn có cả chức năng quản lý và giải cứu khủng hoảng. Ngày 06/03/2009, Bộ Tài
chính Mỹ đã quyết định cho phép FDIC vay tối đa tới 500 tỷ USD để giải quyết
Phí
Thành lập
Đồng hạng
8/1935
Đồng hạng
1950
Đồng hạng
Cách tính
1%/ số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm
1/12 của 1% tổng số tiền gửi, tương đương
với 8,3 cent/ 100USD tiền gửi huy động
3,7 cent/ 100 USD tiền gửi huy động
Trong khoảng 3,1 cent - 3,9 cent/ 100 USD
1950 đến 1980
Đồng hạng
tiền gửi huy động (riêng năm 1974 là 4,4
cent)
8,3 cent cho 100 USD tiền gửi huy động.
$2500
$5000
$10.000
$15.000
Năm
1969
1974
1980
2008
Hạn mức bảo hiểm
$20.000
$40.000
$100.000
$250.000
Nguồn: FDIC.
Quốc hội phê chuẩn gia tăng tạm thời giới hạn BHTG từ $100,000 đến $
Quốc trong giai đoạn này.