MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cầu gồm 3 chương như
sau: 3
CHƯƠNG 1 4
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ
ĐỐI VỚI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1.HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1.1.1.Khái niệm và vai trò của công ty chứng khoán 4
1.1.1.1.Khái niệm Công ty chứng khoán 4
1.1.1.2.Vai trò của công ty chứng khoán 4
1.1.2.Các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 8
1.1.2.1.Hoạt động môi giới chứng khoán 8
1.1.2.2.Hoạt động tự doanh chứng khoán 8
1.1.2.3.Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán 10
1.1.2.4.Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán 11
1.1.2.5.Các hoạt động khác 12
1.1.3.Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán 12
1.1.4.Sự cần thiết của việc giám sát hoạt động các CTCK 13
1.2.GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TỪ
PHÍA NHÀ NƯỚC 14
1.2.1.Khái niệm về giám sát 14
1.2.2.Vai trò của việc giám sát hoạt động công ty chứng khoán 16
1.2.2.1. Đối với cơ quan quản lý 16
1.2.2.2. Đối với các công ty chứng khoán 17
1.2.2.3. Đối với các tổ chức, cá nhân liên quan 18
1.2.3.Chức năng quản lý và giám sát của UBCK 18
1.2.3.1. Chức năng quản lý của UBCK 18
NAM 38
2.2.2.THỰC TRẠNG GIÁM SÁT CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CỦA
UỶ BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 49
2.2.2 5. Nội dung giám sát 55
a.Giám sát việc duy trì điều kiện cấp phép 55
Điều kiện về vốn: 56
Điều kiện về nhân sự: 56
!"
d.Giám sát việc chuyển nhượng vốn của CTCK 60
#$%&'$%!(&% !)*+
,&'-&. !/0
123&%$!!'$4&,5'$4
6$4#!789:9;/<
!=,>3*?/@
*A-.B !,C6 !
!!(&%=! !/D
2.2.ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CTCK CỦA UBCKNN 69
2.3.1Kết quả 69
2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân 70
CHƯƠNG III 74
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT 74
CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 74
CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 74
3.1QUAN ĐIỂM TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN CỦA UỶ BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 74
3.1.1.Phù hợp với định hướng, chiến lược của thị trường chứng khoán 74
3.1.2.Phù hợp với yêu cầu quản lý 74
3.1.3.Tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường, tăng cường hiệu quả
hoạt động của thành viên thị trường 75
15 TTLK Trung tâm Lưu ký chứng khoán
16 TVĐT Tư vấn đầu tư chứng khoán
17 UBCK Ủy ban Chứng khoán
18 UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô hoạt động của TTCK Việt Nam đến 31/12/2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2.1. SỐ LƯỢNG TÀI KHOẢN TẠI MỘT SỐ CTCK TÍNH ĐẾN 31/12/2010
Error: Reference source not found
Bảng 2.2. TỔNG HỢP HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH MỘT SỐ CTCK TẠI VIỆT
NAM TÍNH ĐẾN 31/12/2010 Error: Reference source not found
BẢNG 2.3. TỔNG HỢP KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH MỘT SỐ
CTCK TẠI VIỆT NAM NĂM 2010 Error: Reference source not found
BẢNG 2.4. HỆ THỐNG BÁO CÁO THEO QUY ĐỊNH CỦA CTCK. Error: Reference
source not found
BẢNG 2.5.PHÂN LOẠI NHÂN SỰ THỰC HIỆN GIÁM SÁT CTCK Error:
Reference source not found
TÍNH ĐẾN 31/12/2010 Error: Reference source not found
BẢNG 2.6. BẢNG KHAI QUÁ TRÌNH LÀM VIỆC ĐÁP ỨNG ĐIỀU KIỆN Error:
Reference source not found
LÀM GIÁM ĐỐC CTCK Error: Reference source not found
BẢNG 2.7.TÌNH HÌNH DUY TRÌ ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP CỦA MỘT SỐ CTCK
Error: Reference source not found
TẠI NGÀY 31/12/2010 Error: Reference source not found
BẢNG 2.8.QUY ĐỊNH VỀ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CTCK Error: Reference source not
found
BẢNG 2.9.QUY ĐỊNH VỀ HẠN MỨC ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI CTCK Error: Reference
source not found
BẢNG 2.10. TỔNG LƯỢNG PHÁT HÀNH TĂNG VỐN CỦA CÁC CTCK TỪ
01/01/2010 ĐẾN 31/12/2010 Error: Reference source not found
hỏi cấp bách về tính lành mạnh, minh bạch trong báo cáo tài chính của các tổ chức
trung gian trên thị trường.
1
Xuất phát từ các lý do nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tăng cường hoạt
động giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các công ty chứng
khoán tại Việt Nam” để nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giám sát hoạt động các Công ty
chứng khoán.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giám sát hoạt động các công ty chứng khoán ở
Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường hoạt động giám sát của Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước đối với các Công ty chứng khoán ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động giám sát Công ty chứng khoán của UBCK
quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động giám sát Công ty chứng khoán của
UBCKNN Việt Nam từ năm 2005 đến nay.
4. Nội dung đóng góp của luận văn
Thông qua việc phân tích tình hình thực tế và nghiên cứu kinh nghiệm giám sát
của một số nước trên thế giới, luận văn đã tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về hoạt động giám sát công ty
chứng khoán và vai trò của hoạt động giám sát đối với công ty chứng khoán, nhà đầu tư
cũng như sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán.
Thứ hai, phân tích thực trạng giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá về kết
quả, tồn tại và những nguyên nhân. Trên cơ sở đó để tăng cường hơn công tác giám
sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các công ty chứng khoán.
Thứ ba, trên cơ sở định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam, luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám
b. Điều kiện vốn: CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp
định. Vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ và
một CTCK tham gia thực hiện càng nhiều nghiệp vụ thì càng yêu cầu có nhiều vốn;
c. Điều kiện nhân sự: Những người quản lý hay nhân viên của CTCK phải có
đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm cũng như độ tín nhiệm và tính trung thực. Thông
thường, tất cả các nước đều yêu cầu nhân viên của CTCK phải có giấp phép hành nghề.
1.1.1.2. Vai trò của công ty chứng khoán
CTCK là một định chế tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán nói
riêng và thị trường tài chính nói chung. Các CTCK là nhân tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của thị trường chứng khoán, thông qua đó, CTCK có vai trò thúc đẩy
sự phát triển của cả nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy, nền kinh tế của các nước phát
triển và cả nền kinh tế các nước đang phát triển không thể thiếu vắng sự xuất hiện
và ngày càng lớn mạnh của thị trường chứng khoán và hệ thống các CTCK. Thông
qua các các nghiệp vụ hoạt động của mình, CTCK đã thực sự tạo ra ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và của cả nền kinh
4
tế nói chung. CTCK đã trở thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá
trình phát triển kinh tế được thể hiện qua những khía cạnh chủ yếu sau:
a. Vai trò trung gian huy động vốn
Cùng với ngân hàng, CTCK là một trung gian tài chính có vai trò huy động
vốn, là kênh dẫn vốn từ một hay một số bộ phận của nền kinh tế có vốn dư thừa
(vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế có nhu cầu về vốn (thiếu vốn,
cần huy động vốn) và tham gia hầu hết vào quá trình luân chuyển của chứng khoán:
từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến khâu giao dịch mua bán trên thị trường
thứ cấp.
- Trên thị trường sơ cấp:
+ CTCK giúp các tổ chức phát hành huy động vốn một cách nhanh chóng thông
qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, là cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư.
+ Một doanh nghiệp khi huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, họ
không tự bán chứng khoán của mình mà thường thông qua một tổ chức chuyên
vào nguồn vốn tự doanh và quỹ dự trữ chứng khoán. Tuy vậy, nó vẫn có ý nghĩa
nhất định, có tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường. Với vai trò
này, các CTCK góp phần tích cực vào sự tồn tại và phát triển bền vững của thị
trường chứng khoán.
c. Vai trò cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán
Với các chức năng và nghiệp vụ của mình, CTCK cung cấp các dịch vụ cần
thiết góp phần giúp thị trường chứng khoán hoạt động ổn định, cụ thể:
- Thực hiện tư vấn đầu tư, góp phần giảm chi phí giao dịch cho nhà đầu tư.
Tuy nhiên, thị trường chứng khoán với những đặc trưng riêng của nó như người
mua người bán có thể ở rất xa nhau, hàng hóa là “vô hình”, vì vậy để cung cầu gặp
nhau, thẩm định chất lượng, xác định giá cả thì phải mất rất nhiều thời gian, công
sức, tiền bạc cho một giao dịch để phục vụ cho việc thu thập, phân tích, xử lý thông
tin… Với lợi thế chuyên môn hóa, trình độ kinh nghiệm của mình, CTCK sẽ thực
6
hiện tốt vai trò trung gian mua bán chứng khoán, giúp các nhà đầu tư giảm được chi
phí trong từng giao dịch.
- Cung cấp cơ chế xác định giá cho các khoản đầu tư: CTCK thông qua Sở
giao dịch và thị trường OTC cung cấp một cơ chế xác định giá nhằm giúp các nhà
đầu tư đánh giá đúng thực tế và chính xác các khoản đầu tư của mình.
+ Trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng
khoán, các CTCK sẽ thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc
xác định và tư vấn cho các tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý.
+ Trên thị trường thứ cấp: tất cả các lệnh mua bán thông qua các CTCK được
tập trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sở đó, giá chứng khoán được xác định
theo quy luật cung cầu.
Ngoài ra, CTCK còn cung cấp nhiều dịch vụ khác để hỗ trợ giao dịch chứng
khoán. Với các nghiệp vụ đa dạng của mình, CTCK giữ vai trò quan trọng trong
việc phát triển của thị trường chứng khoán, là chất “xúc tác” không thể thiếu cho
hoat động của thị trường chứng khoán.
d. Trợ giúp các doanh nghiệp trong việc tiếp cận với các chuẩn mực
minh bạch và tận tụy với khách hàng, đặt quyền lợi của khách hàng lên trên hết.
Đồng thời, không được đưa ra ý kiến tư vấn có tính chất khẳng định về tiềm năng
lợi nhuận hoặc phao tin đồn nhằm thu hút khách hàng vào các mục đích riêng.
1.1.2.2. Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK tự tiến hành giao dịch mua bán các
chứng khoán cho chính công ty mình.
Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên thị trường giao
dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC, … Trên thị trường giao dịch tập trung,
lệnh giao dịch của CTCK được đưa vào hệ thống và được thực hiện tương tự như
lệnh giao dịch của khách hàng. Trên thị trường OTC, các hoạt động này có thể được
thực hiện trực tiếp giữa một tổ chức với các đối tác hoặc được thông qua một hệ
thống mạng thông tin. Trong các hoạt động này, CTCK cũng là một nhà đầu tư trên
8
thị trường chứng khoán như các nhà đầu tư khác. Các rủi ro phát sinh từ hoạt động
tự doanh do CTCK tự gánh chịu. Việc thu được lãi hay chịu lỗ phụ thuộc vào chênh
lệch giữa giá mua - bán chứng khoán và biến động chung của giá chứng khoán do
họ nắm giữ.
Mục đích của hoạt động tự doanh là:
- Thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán
với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa
phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì
vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến sự xung đột lợi ích giữa thực hiện giao
dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Khi thực hiện hoạt động tự doanh,
CTCK phải tuân thủ nguyên tắc tách bạch với các hoạt động khác, đặc biệt là hoạt
động môi giới. CTCK không được mua, bán chứng khoán tranh với khách hàng. Để
bảo đảm hạn chế rủi ro, công ty chứng khoán cũng phải tuân thủ một số hạn mức
nhất định khi đầu tư vào các loại chứng khoán. Các hạn chế này thường được cụ thể
trong các văn bản quy phạm pháp luật.
- Bên cạnh việc mang lại lợi nhuận cho CTCK, hoạt động tự doanh của
CTCK còn có nghĩa vụ bình ổn thị trường trong một số trường hợp cần thiết, đặc
cố gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho tổ chức phát
hành. Trường hợp không bán hết, số chứng khoán còn lại được trả về cho tổ chức phát
hành. Tổ chức bảo lãnh được hưởng hoa hồng trên số chứng khoán đã được bán ra.
c. Bảo lãnh đảm bảo tất cả hoặc không: là trường hợp áp dụng khi tổ chức
phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục tiêu nhất
định. Nếu huy động được đủ số vốn cần thiết đó thì sẽ thực hiện phát hành, nếu
không đủ sẽ hủy bỏ. Cũng có thể, để cho việc chào bán có hiệu quả, nhẹ nhàng hơn
trong trách nhiệm của tổ chức bảo lãnh, tổ chức phát hành yêu cầu phải phát hành
được một số lượng chứng khoán tối thiểu nào đó trong tổng số chứng khoán cần
phát hành, nếu đạt được số tối thiểu này thì số còn lại sẽ phát hành tiếp, nếu không
đạt được số tối thiểu đó sẽ hủy bỏ toàn bộ.
10
1.1.2.4. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Khi chuẩn bị tiến hành một hoạt động nào đó, nếu như không có chuyên môn
hoặc không thành thạo về lĩnh vực đó thì chúng ta có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư
vấn của tổ chức, cá nhân tư vấn chuyên nghiệp. Trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán cũng có dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán. Giống như các
hoạt động tư vấn khác, nội dung của hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán là trên cơ
sở thu thập, xử lý thông tin đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống hay
cung cấp một số công việc có tính chất dịch vụ cho khách hàng.
Ở phần lớn các nước, người ta định nghĩa tư vấn đầu tư chứng khoán là
những hoạt động tư vấn về giá trị chứng khoán nhằm mục đính thu phí. Như vậy, họ
quan niệm rằng chỉ có những hoạt động tư vấn có thu mới là đối tượng quản lý, còn
những lời khuyên đưa ra không có mục đích thu phí sẽ không phải là đối tượng
quản lý, trừ phi đó là những lời khuyên thất thiệt nhằm lũng đoạn thị trường và
kiếm lợi cho bản thân người hoặc tổ chức tư vấn.
Như vậy, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán có ảnh hưởng rất lớn tới
quyết định đầu tư của người sử dụng dịch vụ tư vấn, do đó khi hành động nhà tư
vấn cần đặt ra và tuân theo một số nguyên tắc nhất định, cụ thể:
- Tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp;
của các dịch vụ tài chính. Theo đó, ranh giới giữa các loại hình tổ chức tài chính
truyền thống ngày càng mờ nhạt, thay vào đó, các tổ chức tài chính khổng lồ với
mọi loại hình sản phẩm dịch vụ từ ngân hàng tới chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài
sản đang xuất hiện ngày càng nhiều, tạo cho khách hàng sự lựa chọn đa dạng, đồng
bộ và tiện lợi.
1.1.3. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán
Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của các nước đều quy
định những nguyên tắc bắt buộc cần tuân thủ trong hoạt động kinh doanh chứng
khoán đối với các CTCK, bao gồm:
- Giao dịch trung thực và công bằng, vì lợi ích của khách hàng;
- Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp;
12
- Liêm trực và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách công bằng;
- Hoàn thành nghĩa vụ của mình với khách hàng một cách tốt nhất;
- Đảm bảo nguồn lực về con người, vốn và cơ sở vật chất cần thiết khác để
thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán và ban hành bằng văn bản các quy
trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh phù hợp;
- Chỉ được đưa ra lời tư vấn phù hợp với khách hàng trên cơ sở nỗ lực thu
thập thông tin về khách hàng;
- Phải cung cấp cho khách hàng thông tin đầy đủ, kịp thời, trung thực và
cần thiết cho việc ra quyết định đầu tư của khách hàng;
- Phải thận trọng không được tạo ra xung đột lợi ích với khách hàng. Trong
trường hợp không thể tránh được, công ty phải thông báo trước cho khách hàng
và/hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo đối xử công bằng với khách hàng;
- Ban hành và áp dụng các quy trình nghiệp vụ trong công ty phù hợp với
quy định của Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan.
1.1.4. Sự cần thiết của việc giám sát hoạt động các CTCK
Các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK là một loại hình “kinh
doanh” có ảnh hưởng nhiều tới lợi ích của nhà đầu tư và rất dễ “bị lợi dụng để kiếm
lợi riêng”; các hoạt động tiêu cực của CTCK đều là những hành vi xâm phạm đến
nhà đầu tư. Các hoạt động giám sát trên thị trường chứng khoán thường do cơ quan
quản lý chứng khoán, các tổ chức như SGDCK, Hiệp hội giao dịch chứng khoán
thực hiện nhằm đảm bảo thị trường hoạt động công bằng, công khai và minh bạch.
Hệ thống giám sát: bao gồm hệ thống nhân sự trong các cơ quan, tổ chức thực
hiện giám sát, hệ thống pháp lý và hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ công tác giám sát.
Tuỳ theo từng mô hình giám sát, hệ thống nhân sự giám sát được sắp xếp
theo các cấp giám sát do các đơn vị thực hiện chức năng quản lý và giám sát thị
trường khác nhau thực hiện. Hệ thống pháp lý bao gồm các quy định về chứng
khoán và thị trường chứng khoán, các quy định và tiêu chí giám sát, quy định về
14
cưỡng chế thực thi trên thị trường chứng khoán. Hệ thống công nghệ thông tin được
xây dựng để lưu trữ, theo dõi, phân tích và xử lý dữ liệu giao dịch của các đối tượng
tham gia thị trường nhằm phát hiện các hành vi giao dịch bất thường, xác định và
ngăn ngừa các hành vi vi phạm.
Một hệ thống giám sát hiệu quả đòi hỏi cơ quan quản lý phải được báo cáo đầy
đủ các thông tin được doanh nghiệp sử dụng làm số liệu kiểm toán và có các công cụ
giám sát thị trường khác như: Điểm mấu chốt của hoạt động giám sát là quản lý được
thông tin, đặc biệt thông tin cần thiết để xác định tính minh bạch về giá chứng khoán.
Ở các quốc gia chưa xây dựng hệ thống để thực hiện các hoạt động giám sát, cơ quan
quản lý phải dựa vào việc kiểm tra các nhân viên môi giới - tự doanh, hoặc khiếu nại
của nhà đầu tư. Một hệ thống đầy đủ các thông tin giao dịch cho phép tạo một cơ sở
dữ liệu giám sát và các công cụ phù hợp để giám sát thị trường.
Như vậy, có thể nói giám sát hoạt động CTCK là một bộ phận hoạt động cấu
thành hoạt động giám sát thị trường. Hoạt động giám sát CTCK dựa trên các hoạt
động cụ thể, các số liệu, tài liệu báo cáo để phân tích, đối chiếu với các quy định
trong văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, sớm phát hiện
các dấu hiệu thiếu sót hoặc vi phạm của CTCK. Có hai hình thức giám sát CTCK,
giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ.
- Giám sát từ xa là các hoạt động theo dõi, xem xét và nhận định về một
việc làm nào đó của CTCK đã được thực hiện đúng hay sai so với những quy định
kinh doanh công bằng, công khai và có hiệu quả
1.2.2.1. Đối với cơ quan quản lý
Ở bất kỳ quốc gia nào, việc thiết lập các cơ quản quản lý thị trường chứng
khoán đều nhằm tạo ra một thị trường minh bạch, hiệu quả, nâng cao năng lực tài
chính cho các thành viên tham gia thị trường trong đó có các CTCK, bảo vệ và tối
đa lợi ích của các nhà đầu tư. Cụ thể hơn, với tư cách là cơ quan quản lý thị trường
chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán ở các quốc gia đều có chung một nhiệm vụ là
quản lý, giám sát hoạt động CTCK.
16
Để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả, cơ quan quản lý thường
sử dụng hệ thống các tiêu chí giám sát hoạt động. Các tiêu chí này chủ yếu là các
nhóm chỉ tiêu phản ánh đầy đủ, trung thực, kịp thời tình hình tài chính, năng lực
quản trị công ty của các CTCK. Đây cũng chính là công cụ để theo dõi, giám sát,
kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh và chấp hành pháp luật về chứng khoán
của các CTCK. Đồng thời, thông qua kết quả giám sát để hoạch định các chính sách
nhằm phát triển CTCK, bình ổn thị trường, đảm bảo thị trường hoạt động công
bằng, minh bạch, hoặc đề xuất các giải pháp xử lý trong tình hình thị trường suy
giảm, tránh sụp đổ thị trường và làm cơ sở để hoạch định chính sách, chiến lược
phát triển cho các tổ chức trung gian nói riêng và thị trường chứng khoán nói
chung.
1.2.2.2. Đối với các công ty chứng khoán
Việc giám sát, đánh giá hoạt động các CTCK một cách thường xuyên sẽ giúp
chính các công ty tăng cường kiểm soát nội bộ định kỳ, tăng cường năng lực tài
chính, phát hiện những sai sót để đưa ra phương án khắc phục phù hợp. Cũng trên
cơ sở đó, nhiều công ty còn thực hiện phân tích độc lập, phù hợp với đặc thù riêng
của mình để sử dụng cho việc quản lý rủi ro và các mục đích kinh doanh khác.
Đặc biệt, đối với một số Ủy ban Chứng khoán thực hiện xếp hạng hoạt động
CTCK, các CTCK được xếp hạng sẽ sử dụng các kết quả xếp hạng đã được công bố
để kiểm tra lại những khuyến nghị và nghiên cứu của mình trước một quyết định
đầu tư mới. Lý do cơ bản là căn cứ vào kết quả xếp hạng, công ty có thể nắm được
Anh “regulation function” hoặc “registration function” bao gồm việc lập quy và
18
UBCK
Chức năng quản lý Chức năng giám sát
Lập quy Cấp phép
Giám sát
Tuân thủ
Cưỡng chế
Thực thi