luận văn luật tư pháp tội rửa tiền trong luật hình sự việt nam hiện hành - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT
-  -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
Đề tài:

TỘI RỬA TIỀN TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS. Phạm Văn Beo

Trần Thị Nến

Bộ môn Tư pháp

MSSV: 5075203
Lớp: Luật Tư pháp 2 – K33

Cần Thơ, 11/2010


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

……………………………………………………………………………………



MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài.....................................................1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài........................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ...........................................................................................2
5. Cấu trúc của luận văn ................................................................................................3
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RỬA TIỀN
1.1. Khái niệm rửa tiền ..................................................................................................4
1.1.1. Theo pháp luật quốc tế ...................................................................................5
1.1.2 Theo pháp luật Việt Nam ................................................................................6
1.2 Đặc điểm của rửa tiền .............................................................................................8
1.3. Những biểu hiện của hành vi rửa tiền ...................................................................12
1.4. Các phương thức, thủ đoạn rửa tiền ......................................................................15
1.4.1. Về mặt không gian ......................................................................................17
1.4.2. Về hành
vi……………………………………………………………………17
1.4.3. Quy trình cơ bản của hoạt động rửa tiền ......................................................20
1.5. Những nơi có thể xảy ra rửa tiền ..........................................................................22
1.6. Hậu quả của rửa tiền ............................................................................................. 22
1.7 Pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề rửa tiền ...........................................26
1.8 Ý nghĩa nghiên cứu về tội phạm rửa tiền................................................................ 29
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI
RỬA TIỀN
2.1. Cơ sở pháp lý........................................................................................................31

3.2.1. Về pháp luật .............................................................................................. 65
3.2.2. Về tội phạm nguồn của tội rửa tiền............................................................. 71
3.2.3. Về kinh tế – xã hội ....................................................................................72
3.2.4. Hệ thống tổ chức, nhân lực thực thi pháp luật phòng chống rửa tiền...........74
3.2.5. Hợp tác quốc tế ..........................................................................................77
3.4. Sự cần thiết phải thực hiện các biện pháp phòng chống rửa tiền ...........................78
3.4.1. Sự cần thiết ................................................................................................ 78
3.4.2 Những nguyên tắc cơ bản thực hiện việc phòng chống rửa tiền ...................79
3.5.Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng và chống tội phạm rửa tiền ...................80
3.5.1 Về pháp luật................................................................................................ 81
3.5.2. Về tội phạm nguồn của tội rửa tiền............................................................. 87


3.5.3. Về kinh tế – xã hội.....................................................................................88
3.5.4. Hệ thống tổ chức, nhân lực thực thi pháp luật phòng chống rửa tiền...........90
3.5.5. Hợp tác quốc tế ..........................................................................................96
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc lựa chọn nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã xuất hiện tội phạm rửa tiền. Đây là nhận định không thể phủ
nhận và thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Không phải bây giờ loại tội phạm
nguy hiểm này mới xảy ra ở nước ta mà chúng đã có mặt từ lâu. Có thể nói nếu
tội phạm còn tồn tại thì rửa tiền không thể mất đi bởi đây là mắc xích quan trọng
nhằm che đậy, xoá nhoà nguồn gốc bất hợp pháp của những thu nhập từ hoạt
động phạm tội. Chúng phái sinh trên những loại tội phạm khác và là nhân tố gián
tiếp kích thích cho tội ác phát triển. Do vậy hậu quả của nạn rửa tiền là vô cùng
nghiêm trọng đối với nền kinh tế - xã hội. Dù không gây hại trực tiếp đến sức

giải pháp cho vấn đề phòng chống rửa tiền nên sinh viên đã chọn đề tài: "Tội rửa
tiền trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành".
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục tiêu của quá trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những yếu tố cơ bản
của tội rửa tiền như đặc điểm, hành vi và hậu quả,…. Tìm hiểu, phân tích những
quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam và những văn bản có liên quan về vấn
đề này. Ngoài ra, đánh giá tình hình tội phạm rửa tiền hiện nay và diễn biến sắp
tới, đưa ra những bất cập, khó khăn tồn tại trong công tác phòng chống rửa tiền
và từ đó đề xuất những giải pháp hợp lý để việc đấu tranh phòng và chống tội
phạm nguy hiểm này có hiệu quả.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Trong bài viết này, sinh viên thực hiện tập trung nghiên cứu vào một số
nội dung cơ bản sau: Khái niệm, đặc điểm, bản chất, những thủ đoạn thực hiện và
hậu quả mà rửa tiền gây ra, các yếu tố cấu thành cơ bản của tội phạm rửa tiền
trong luật hình sự Việt Nam hiện hành. Tội này được quy định tại điều 251 thuộc
chương XIX Bộ luật Hình sự 1999. Tìm hiểu những điểm mới sửa đổi trong quy
định của Bộ luật này về hành về tội rửa tiền. Bên cạnh đó, bài viết cũng nêu ra
tình hình và những diễn biến của tội phạm này trong thời gian sắp tới, khó khăn
và giải pháp cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm tìm hiểu và hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất, sinh viên đã sử
dụng một vài phương pháp để làm công tác phục vụ cho việc nghiên cứu của
mình như sau:
+ Phương pháp phân tích luật viết dùng để tìm hiểu các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam hiện hành;
+ Phương pháp phân tích chứng minh, so sánh, đối chiếu, vận dụng các
quy định pháp luật về tội rửa tiền đối chiếu với thực tiễn;


+ Phương pháp tổng hợp thống kê, sử dụng các trang website để tìm kiếm

Nhìn chung, rửa tiền không phải là một hiện tượng mới mẻ, nó cũng xưa
như chính tội ác. Từ ngàn xưa, những kẻ phạm tội đều tìm mọi cách che giấu
nguồn gốc của các đồng tiền tội ác nhằm xoá sạch dấu vết các hành động tội
phạm của họ. Theo nhiều sử gia, thương nhân Trung Quốc đã biết “rửa tiền” hơn
ba ngàn năm trước để tránh thuế của triều đình. Tuy nhiên, từ rửa tiền xuất hiện
lần đầu tiên từ Mafia Mỹ. Những Gangster (là thành viên của băng nhóm tội
phạm) đã kiếm được những món tiền lớn từ tống tiền, bảo kê, mãi dâm, cờ bạc và
rượu lậu. Đó là tiền “bẩn” mà Gangster muốn hợp pháp hóa thành tiền “sạch”
bằng con đường kinh doanh hợp pháp. Chúng đã chọn dịch vụ cho thuê máy giặt,
vì đây là dịch vụ thu tiền mặt để dễ tránh sự kiểm soát của cơ quan công quyền.
Chính vì thế mà sau này, tiếng Anh xuất hiện từ Launder (giặt là) Money, một
dạng lóng và đã được Việt hóa có nghĩa là "rửa tiền". Nhưng dù là ngôn ngữ nào


đi nữa thì bản chất tội phạm nguy hiểm của vấn đề cũng không thay đổi. Từ “rửa
tiền” mãi đến năm 1973 mới được đưa lên mặt báo chí Mỹ xung quanh vụ
Watergate. Từ tượng hình này lần đầu tiên được dùng trong khuôn khổ pháp lý
năm 1982 khi tòa án Mỹ xử vụ rửa tiền số 551 F Supp.314 ở Neww York1. Từ
đó, từ “rửa tiền” được dùng khắp nơi trên thế giới, có lẽ do trong thập kỷ 80 của
thế kỷ trước, buôn lậu ma túy đã đem lại những khoản tiền khổng lồ cho các
phần tử tội phạm. Các chính phủ buộc phải mạnh tay chống ma túy, chống tham
nhũng đi cùng với nó.
1.1.1. Theo pháp luật quốc tế
Hiện nay, do nhận thức được tác động tiêu cực của rửa tiền đối với nền
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, khu vực và mang tầm quốc tế nên rất nhiều quốc
gia đã khẳng định rửa tiền là tội phạm. Có thể định nghĩa hành vi này theo một số
cách. Hầu hết các nước tán thành định nghĩa được sử dụng trong công ước của
Liên Hiệp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các chất hướng thần
năm 1988 (công ước viên) và công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm
có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 (Công ước Palermo). Ở công ước Palermo

có âm mưu thực hiện hành vi, cố gắng thực hiện, tiếp tay, giúp sức, xúi bẩy, tạo
điều kiện thuận lợi và chỉ dẫn việc thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào được
quy định tại Điều này.3
Hai công ước định nghĩa thuật ngữ “tiền, tài sản thu được từ hành vi
phạm tội” là “bất kỳ tài sản nào kiếm được hoặc có được một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua việc thực hiện một hành vi phạm tội”4
Tội phạm nguồn của rửa tiền là tội phạm đã tạo ra những đồng tiền “bẩn”
để sau này tẩy rửa nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của chúng. Trong điều
kiện của mình, Công ước Viên chỉ quy định về các tội phạm nguồn của tội buôn
bán bất hợp pháp chất ma túy. Vì vậy, những hành vi phạm tội không liên quan
đến tội phạm trên như lừa đảo, bắt cóc và trộm cắp thì không cấu thành tội phạm
rửa tiền theo công ước Viên. Tuy nhiên theo chiều hướng phát triển của tình hình
tội phạm, cộng đồng quốc tế đã hình thành quan điểm rằng các tội phạm nguồn
của tội rửa tiền cần phải được rộng, chứ không chỉ bó hẹp trong hành vi buôn bán
bất hợp pháp ma túy. Vì vậy, các tổ chức quốc tế khác đã mở rộng định nghĩa của
Công ước Viên về tôi phạm nguồn để bổ sung cả những hành vi phạm tội nghiêm
trọng khác. Ví dụ, Công ước Palecmo yêu cầu tất cả các nước thành viên phải áp
dụng “giới hạn rộng nhất các tội phạm nguồn” 5.
Trong 40 khuyến nghị về chống rửa tiền (bốn mươi khuyến nghị), FATF
(Financial Aciton Task Force on Money Laundering - đội đặc nhiệm chống rửa
tiền quốc tế) đã hợp nhất các định nghĩa mang tính chuyên môn và lập pháp về
rửa tiền trong công ước Viên và liệt kê 20 hành vi phạm tội phải được đề cập đến
trong các tội phạm nguồn của tội rửa tiền6.
1.1.2. Theo pháp luật Việt Nam
Từ năm 1997, Luật các Tổ chức tín dụng (điều 19) đã có quy định về trách
nhiệm của các tổ chức tín dụng đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp
nhưng chưa sử dụng có thuật ngữ “rửa tiền”. Cụ thể là :

3


chống rửa tiền ngày 07/6/2005 (Nghị định số 74/2005/NĐ-CP) thì lần đầu tiên
thuật ngữ “rửa tiền” mới được chính thức sử dụng và giải thích nhưng phạm vi
của thuật ngữ này được hiểu khá hẹp, chỉ giới hạn trong ba nhóm hành vi. Theo
đó:
“Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hoá tiền, tài
sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể:
+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền,
tài sản do phạm tội mà có;
+ Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận
chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
+Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp
hoặc tìm cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc,
bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền,
tài sản do phạm tội mà có”.
Cùng với tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế, nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường, tình hình hoạt động của các loại tội phạm cũng có nhiều diễn


biến phức tạp trong đó có tội phạm rửa tiền nên Điều 251 quy định về tội hợp
pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có không còn phù hợp cả về tên gọi lẫn bản
chất cũng như chưa tương đồng đối với thông lệ quốc tế.
Do vậy tháng 6/2009, Bộ luật hình sự đã được sửa đổi “tội hợp pháp hóa
tiền, tài sản do phạm tội mà có” nay được thay thế bằng “tội rửa tiền”. Đây là
lần đầu tiên tội danh rửa tiền được chính thức đưa vào BLHS Việt Nam cụ thể
hơn với bốn nhóm hành vi:
+ Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng
hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có
nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó;
+ Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành
các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;

các chất hướng thần, công ước của Liên hiệp quốc về chống tham nhũng năm
2003 ….
Ngoài ra, công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia năm 2000 cũng đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh của mình bao
trùm lên hành vi rửa tiền. Từ đó nhận thấy rằng, ngoài yếu tố “xuyên quốc gia”
thì rửa tiền còn liên quan đến “có tổ chức”. Có như vậy, chúng mới thuộc sự điều
chỉnh của công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Các quy định
của công ước cũng giải thích thuật ngữ “nhóm tội phạm có tổ chức” là nhóm có
cơ cấu ba người trở lên tồn tại trong một khoản thời gian và hoạt động phối hợp
nhằm mục đích thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hay các hành vi
phạm tội trong công ước này nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đạt được các lợi ích
tài chính hay lợi ích vật chất khác. Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là loại
hình tội phạm phải bị dẫn độ trong quan hệ liên quốc gia do đó tội phạm rửa tiền
cũng mang đặc điểm này. Trong trường hợp không dẫn độ tội phạm rửa tiền, các
quốc gia được yêu cầu phải chuyển ngay vụ việc cho các cơ quan có thẩm quyền
để truy tố và tiến hành các thủ tục tố tụng theo trình tự giống như các tội phạm
khác có cùng mức độ nghiêm trọng phù hợp với luật quốc gia8.
Rửa tiền là loại tội phạm phái sinh, hay nói cách khác, những tội phạm
xảy ra trước đó tạo ra nguồn lợi chính là tiền đề xuất hiện việc rửa tiền bởi hành
vi này sẽ tẩy rửa nguồn gốc bất hợp pháp của các khoản thu có được từ các hành
vi tội phạm đó. Cũng chính thế mà chủ sở hữu những khoản tiền cần tẩy rửa là
những cá nhân và tổ chức tội phạm. Trước đây, pháp luật về chống rửa tiền tại
một số quốc gia trên thế giới đều chỉ nhằm một mục đích ngăn chặn việc “tẩy
trắng” các khoản thu nhập liên quan đến hành vi sản xuất và buôn bán ma tuý.
Sau đó, Mỹ và các quốc gia khác đã đi tiên phong trong việc điều tra, ngăn chặn
và truy tố những kẻ rửa các khoản tiền phi pháp từ các hành vi tống tiền, hối lộ,
tham nhũng và làm hàng giả. Ngày nay, pháp luật các quốc gia này đã mở rộng
phạm vi điều chỉnh hướng tới các khoản thu nhập từ các hành vi phi pháp mang
tính quốc tế khác như buôn lậu (rượu, thuốc lá, chip máy tính, vũ khí, vật liệu hạt
nhân, kim khí quý, đá quý…) đưa người nhập cư bất hợp pháp, buôn bán phụ nữ,

Ngoài các nguồn gốc chung như: Từ việc buôn lậu hay các phi vụ gian thương...
thì ở Việt Nam tiền bẩn thường có những đặc trưng chủ yếu là từ việc lạm dụng
thân thế chính trị hay là các mối quan hệ thân cận với các yếu nhân.
Rửa tiền tạo “vỏ bọc tội phạm” do mục đích của hoạt động rửa tiền là tạo
ra một khoảng cách xa nhất giữa tài sản bất hợp pháp và chủ sở hữu những tài
sản đó. Trong những phương pháp điều tra chuẩn mực và đạt được những thành
công nhất là điều tra "theo dấu đồng tiền". Nếu các điều tra viên cho rằng ai đó
có liên quan tới tội phạm thì họ sẽ tiến hành điều tra trước tiên nguồn tài chính và
các công việc trước đây của đối tượng này.Vì vậy, bọn tội phạm muốn chuyển đi
xa hay giấu tiền vào một chỗ kín đáo một cách nhanh chóng để "xoá dấu đồng
tiền" trước khi các điều tra viên có thể phát hiện ra. Ví dụ: Từ những nguồn “tiền
9

Nguyễn Thanh Tùng, ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam Vietinbank, Tác
động rửa tiền đối với nền
kinh tế, http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/research/10/100906.html, [truy cập ngày
15/6/2010].


đen”, tội phạm sẽ nhanh chóng phân phối vào các định chế tài chính bằng cách
chia thành các khoản tiền nhỏ dưới những mức mà pháp luật quy định và xa
nguồn gốc ban đầu mà những tổ chức cá nhân phạm tội này có được. Những
đồng tiền đó sẽ nhanh chóng được thu về qua con đường đầu tư và thu hồi vốn
đầu tư. Qua những quá trình luân chuyển như vậy, tiền sẽ được phân phối trở lại
vào nền kinh tế với nguồn gốc không thể tìm ra. Sau khi đã hợp pháp hóa được
những đồng tiền phi pháp đó bọn tội phạm có thể đưa trực tiếp nó vào một vụ
phạm tội khác, gây trở ngại lớn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án
hình sự. Có thể ví, rửa tiền chính là “oxy” nuôi sống bọn tội phạm với dòng tiền
cho phép chúng củng cố cơ sở quyền lực kinh tế.
Tính ẩn và trình độ thực hiện rửa tiền ngày càng cao vì tiền không còn tồn

tránh luật pháp. Nói cách khác, sự phân bố ấy cũng tùy ở mức độ chấp nhận rủi
ro của người có tiền bẩn, ở mức “kín đáo” mà họ muốn, và mức độ dám “uốn
cong luật pháp” của họ. Đơn giản: tiền bẩn không được đưa vào những sử dụng
có hiệu quả kinh tế tối đa, nhưng vào những ngỏ ngách mà khả năng kiểm soát
của luật pháp là lỏng lẻo nhất. Hoạt động rửa tiền vừa lãng phí nguồn lực kinh tế
của xã hội (vào các hoạt động tội phạm sinh ra tiền bẩn, thay vì vào các hoạt
động sản xuất thật sự hữu ích), vừa bóp méo sự phân bố các nguồn lực ấy.
Ngoài ra, theo Luật hình sự Việt Nam, rửa tiền là hành vi phạm tội nên nó
cũng có đầy đủ các đặc điểm chung của một tội phạm: Nguy hiểm cho xã hội, có
lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.
1.3. Những biểu hiện của hành vi rửa tiền
Các hoạt động đầu tư đáng ngờ:
+ Về chủ đầu tư: Chủ đầu tư là cá nhân hay tổ chức có liên quan đến các
hoạt động tội phạm. Những thông tin khả năng tài chính của chủ đầu tư này
không rõ ràng minh bạch, không nhất quán. Chẳng hạn như nhà đầu tư cá nhân
đầu tư vào dự án hàng trăm ngàn tỷ nhưng thông tin về khả năng tài chính của
người này không có thì sẽ nghi ngờ cho đối tác. Các báo cáo tài chính của công
ty đầu tư không minh bạch hay không có cơ sở để đánh giá độ tin cậy (như không
có kiểm toán hay thuế kiểm tra). Chủ đầu tư không quan tâm nhiều lợi nhuận thu
được từ hoạt động đầu tư của mình.
+ Về phía doanh nghiệp được đầu tư: Tổ chức được đầu tư hoạt động
không hiệu quả nhưng vẫn được đầu tư với nguồn vốn lớn. Việc đầu tư không
tương xứng với quy mô và lĩnh vự hoạt động trước nay của doanh nghiệp.
+ Về địa điểm đầu tư: Địa điểm đầu tư khó khăn về nguồn lực và nguồn
nguyên liệu có sẵn không thuận lợi cho kinh doanh …
Các giao dịch mua bán đáng ngờ: Mua bán khống, mua bán hàng hóa
không liên quan đến hoạt động kinh doạnh của tổ chức, mua bán hàng hóa với
giá trị cao hơn rất nhiều so với thị trường …
Các giao dịch tài chính đáng ngờ: Tiền được chuyển qua nhiều tài khoản
mà không quan tâm đến phí giao dịch, có sự thay đổi đột biến so với doanh số

động kinh doanh thông thường của khách hàng hoặc có sự thay đổi đột biến trong
doanh số giao dịch trên tài khoản của khách hàng.
+ Có sự thay đổi đột biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản; tiền gửi
vào và rút ra nhanh khỏi tài khoản; doanh số giao dịch lớn trong ngày, nhưng số
dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng không;
+ Các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về
một khoản tiền lớn hay chuyển qua nhiều tài khoản khác nhau về một tài khoản
trong một thời gian ngắn hoặc ngược lại; tiền được chuyển lòng vòng qua nhiều
tài khoản; các bên liên quan không quan tâm đến phí giao dịch;


+ Sử dụng tín dụng thư và các phương thức tài trợ thương mại khác có giá
trị lớn, chiết khấu với giá trị cao nhằm chuyển tiền giữa các quốc gia khi giao
dịch này không liên quan đến hoạt động thường xuyên của khách hàng;
+ Pháp nhân không thực hiện giao dịch trong một thời gian dài trên tài
khoản của mình kể từ khi mở; doanh nghiệp trong nước mở và sử dụng tài khoản
ở nước ngoài dưới tên pháp nhân hoặc thể nhân nước ngoài;
+ Tài khoản của khách hàng không giao dịch trên một năm, giao dịch trở
lại mà không có lý do hợp lý nào.
+ Chuyển lượng tiền lớn từ tài khoản ngoại hối của doanh nghiệp ra nước
ngoài sau khi nhận được nhiều khoản tiền nhỏ được chuyển vào bằng chuyển tiền
điện tử, séc, hối phiếu;
+ Doanh nghiệp nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận
được vốn đầu tư hoặc chi trả tiền ra nước ngoài không phù hợp với tính chất hay
nhu cầu của hoạt động kinh doanh;
+ Giao dịch được tiến hành bởi một khách hàng có liên quan đến các hoạt
động bất hợp pháp đã đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng mà tổ
chức báo cáo biết hoặc có trong danh sách cảnh báo do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cung cấp.
+ Các công ty bảo hiểm thường xuyên đền bù hoặc chi trả bảo hiểm với số

vượt quá mức trung bình của công ty;
+ Khách hàng do một đại lý ở nước ngoài, chi nhánh hoặc công ty có trụ
sở ở nước và vùng lãnh thổ không hợp tác do Lực lượng đặc nhiệm tài chính về
chống rửa tiền (FATF) chỉ định hoặc ở nước mà tham nhũng hoặc việc sản xuất
và buôn bán ma túy bất hợp pháp có thể đang phổ biến.
 Dấu hiệu khác của giao dịch đáng ngờ đối với lĩnh vực chứng khoán
+ Khách hàng cung cấp thông tin sai lệch, giả mạo hoặc từ chối cung cấp
những thông tin cần thiết khi có yêu cầu liên quan đến giá trị và nguồn gốc tài
sản của khách hàng tại công ty chứng khoán;
+ Giao dịch mua, bán chứng khoán có dấu hiệu bất thường trong một ngày
hoặc một số ngày do một cá nhân hay một tổ chức thực hiện;
+ Khách hàng thực hiện chuyển nhượng chứng khoán ngoài hệ thống mà
không có lý do hợp lý;
+ Tài khoản giao dịch chứng khoán của người không cư trú tại Việt Nam
có giá trị lớn được rút ra khỏi Việt Nam và chuyển vào các trung tâm tài chính ở
nước ngoài;
+ Giao dịch mua, bán chứng khoán có nguồn tiền từ các quỹ đầu tư được
mở ở các vùng, lãnh thổ được các tổ chức quốc tế xếp loại là có nguy cơ rửa tiền
cao.
 Dấu hiệu khác của giao dịch đáng ngờ đối với lĩnh vực trò chơi giải trí
có thưởng:
+ Khách hàng có dấu hiệu liên tục cố tình thua khi tham gia các trò chơi
có thưởng tại điểm kinh doanh casino và điểm kinh doanh trò chơi điện tử có
thưởng;


+ Khách hàng mua số lượng đồng tiền quy ước có giá trị lớn tại điểm kinh
doanh casino và điểm kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng nhưng không tham
gia chơi hoặc chơi với số lượng rất nhỏ sau đó đổi lại thành tiền và yêu cầu
doanh nghiệp thanh toán bằng séc, hối phiếu ngân hàng hoặc chuyển tiền đến tài

10

Hà Hữu Dũng, rửa tiền và toàn cầu hóa,
http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=29881, [truy cập ngày 5/2/2010].


Thứ ba, cạnh tranh thu hút vốn ngày càng kịch liệt giữa các nước, các
công ty phát hành chứng khoán, các ngân hàng và các loại định chế tài chính
trung gian khác. Đây cũng là sự kiện làm những người rửa tiền thích thú vì họ
biết rằng sớm muộn gì cũng có ngân hàng, hay các công ty chứng khoán, sẵn
sàng nhận tiền của họ mà dễ dàng bỏ qua nguồn gốc của chúng.
Thứ tư là tác động của cuộc cách mạng thông tin. Ở bất cứ nước nào thì
ngân hàng cũng là công nghiệp đưa tiến bộ công nghệ thông tin vào ứng dụng
sớm và nhanh nhất. Phí giao dịch cũng hạ thấp: Chi phí trực tiếp cho một ngân
hàng giảm 40% khi khách hàng giao dịch qua điện thoại thay vì đích thân đến
ngân hàng, và giảm 98% khi dịch vụ ấy được thực hiện qua internet. Những
thành quả này của cuộc cách mạng thông tin đã được những tội phạm rửa tiền lợi
dụng triệt để. So với họ, các cơ quan công lực chậm chạp hơn nhiều, nhất là khi
các cơ quan này cần phối hợp giữa nhiều địa phương, xuyên quốc gia.
Cuối cùng, phải kể đến những lối rửa tiền mới, sử dụng internet. Những
trang web “đen” như trang sex, cờ bạc, cá cược... thường được dùng để rửa tiền
vì dùng cách này khó có thể truy ra tiền ấy từ đâu đến và vào tay ai.
Ngày nay, cách thức và phương tiện rửa tiền ngày càng tinh vi, đa dạng,
quy mô hơn được ví như là một ngành “công nghiệp” rửa tiền đã xuất hiện để
phục vụ những cá thể có tiền bẩn mà đội ngũ chủ chốt là những người rửa tiền
chuyên nghiệp, ngày càng được tăng cường với nhiều luật sư, cố vấn thuế vụ, kế
toán ... Nguy hiểm hơn, càng ngày nó càng xâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực có
uy tín trong xã hội (như các ngân hàng lớn, hiệp hội thể thao, cơ sở văn hóa,
thậm chí các cơ quan từ thiện) với nhiều hình thức phức tạp hơn: Ít dựa vào tiền
mặt, vào hệ thống ngân hàng… mà sử dụng nhiều hơn các công cụ và thị trường

tô, xe máy, du thuyền, séc du lịch… và thường được đăng ký dưới một tên khác
để tránh gây sự chú ý của các cơ quan điều tra và cơ quan chống rửa tiền.
Thông qua các giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt. Đây là phương thức rửa
tiền có phần cổ điển nhưng nó vẫn có những hiệu quả thực sự đối với từng nền
kinh tế. Rửa tiền thông qua các giao dịch tiền mặt với số lượng lớn sẽ rất dễ bị
nghi ngờ và bị các cơ quan điều tra hỏi thăm nguồn gốc do dễ bị chú ý. Sau khi
chia nhỏ bọn tội phạm sẽ tiến hành “pha trộn” với những khoản tiền sạch khác
trong các giao dịch nhằm cắt đứt nguồn gốc bẩn của đồng tiền.Với những khoản
tiền bẩn không qúa lớn, cách này vẫn được áp dụng có hiệu quả bằng cách chia
tiền thành những phần nhỏ hơn nhằm loại bỏ sự chú ý. Ví dụ: Năm 1999, một
quầy đổi tiền ở Pari đã khả nghi của một người Pháp khi trong một thời gian
ngắn đã đổi 1,7 triệu Frăng Pháp sang Mác Đức. Kết quả điều tra cho thấy, kẻ
tình nghi có quan hệ với một nhóm tội phạm buôn bán ma tuý ở Tây Ban Nha,
Đức, Pháp, và đang tìm cách đổi tiền sang Mác Đức để tiêu thụ.
Rửa tiền qua ngân hàng. Các ngân hàng thường được chọn lựa vì khả
năng của chúng có thể giao dịch với các khoản tiền rất lớn. Những khoản tiền
được gửi vào nhiều ngân hàng ở các thời điểm khác nhau dưới mức bị kiểm soát
và chúng sẽ để những khoản tiền này nằm im trong một thời gian phù hợp với
11

Hà Hoàng Hợp – Phạm Bá Khiêm, tội phạm tài chính trong hội nhập, Nxb. Thống kê, Hà Nội,
2005, [tr 82 – tr 84].


quy định của quốc gia đó rồi chúng rút ra toàn bộ hoặc từng phần đưa vào lưu
thông, biến những khoản tiền này thành tiền sạch. Phương thức này gặp phải khó
khăn đối với những quốc gia có hệ thống ngân hàng chặt chẽ. Tuy nhiên, vẫn có
nhiều các quốc gia trên thế giới chưa có quy định về hạn mức tiền gửi bị giải
trình về nguồn gốc (thường là các quốc gia đang phát triển).
Qua các giao dịch xuyên quốc gia: Lợi dụng các yếu tố địa lí và sự khác



khác nhau. Theo chương trình Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo Asean – Hoa Kỳ
(USAID), rửa tiền qua thương mại là để đánh lạc hướng tiền bẩn thông qua mua
– bán hàng hóa nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc số tiền. Ông David Meisner,
chuyên gia Cục Kiểm soát Tài chính (Bộ Tài chính Mỹ), cho biết đối tượng rửa
tiền qua mặt nhân viên hải quan bằng cách khai tăng hoặc giảm giá trị hàng hóa.
Giả sử công ty A (nhà xuất khẩu) bán 1 triệu con ốc vít với giá 2 USD/con cho
công ty B (nhà nhập khẩu) nhưng công ty A khai báo đơn giá chỉ 1 USD/con ốc
vít. Công ty B thanh toán tiền mua hàng 1 triệu USD, sau đó bán 1 triệu con ốc
vít ra thị trường thu về 2 triệu USD. Qua việc khai giảm giá trị hàng hóa và
ngược lại, công ty A và B đều rửa sạch 1 triệu USD.
Một chiêu thức khác là đối tượng rửa tiền có thể gửi hàng nhiều hơn hoặc
ít đi so với khai báo. Ví dụ, công ty A bán cho công ty B 1 triệu con ốc vít với
giá 2 USD/con ốc vít nhưng gửi tăng lên 1,5 triệu con. Công ty B chỉ trả tiền
mua 1 triệu con ốc vít là 2 triệu USD, rồi bán 1,5 triệu con ốc vít ra thị trường,
thu về 3 triệu USD. Số tiền chênh lệch 1 triệu USD đã được hai bên hợp pháp
hóa. Với tình huống ngược lại, công ty A và B cũng hợp pháp hóa được 1 triệu
USD.
Rửa tiền qua mạng. Theo tổng kết của Cơ quan Đặc nhiệm tài chính quốc
tế (FATF), những năm gần đây, xu hướng rửa tiền qua mạng internet có xu
hướng tăng nhanh. Tội phạm mạng có khá nhiều mánh khóe để rửa tiền hoặc tẩu
tán “chiến lợi phẩm” trên internet. FATF cho biết, các dịch vụ thanh toán trực
tuyến, như PayPal (Mỹ) hay Neteller (Anh) thực sự rất có ích với những ai muốn
mua bán qua internet nhưng sợ để lộ thông tin tài chính nhạy cảm. Chúng cho
phép khách hàng giao dịch ẩn danh mà không để lại dấu vết như trên giấy tờ.
Tháng 3/2004, một người ở Oklahoma (Mỹ) bị buộc tội lừa đảo qua mạng với số
tiền lên tới 9 triệu USD. Tay này đã rửa tiền qua ngân hàng trực tuyến E-Gold.
Từ đó đến nay, thế giới ngầm coi E-Gold là lựa chọn giao dịch tiền tệ số một.
Chúng được phép dùng tên giả và chỉ cần nhập số thẻ tín dụng cũng như dịch vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status