Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009 – 2013
------o0o------
ĐỀ TÀI:
TÌNH THẾ CẤP THIẾT TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Giáo viên hướng dẫn:
Lê Quỳnh Phương Thanh
Sinh viên thực hiện:
Phạm Đức Phúc
MSSV: 5095547
Lớp: Tư pháp 3 k35
Cần thơ
Tháng 5/2013
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Đức Phúc
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................v
Mở đầu ........................................................................................... 1
1. Lý do nghiên cứu đề tài......................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ............................................................................ 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 2
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 2
5. Nội dung của luận văn .......................................................................... 3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH THẾ CẤP
THIẾT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.......................... 4
1.1 Khái niệm và các cơ sở của việc quy định tình thế cấp thiết trong
luật hình sự Việt Nam ............................................................................... 4
1.1.1 Bản chất, khái niệm chung và những đặc trưng chung của các yếu tố
loại trừ tính chất tội phạm của hành vi...........................................................4
1.1.2 Khái niệm tình thế cấp thiết....................................................................8
GIỚI HẠN CỦA TÌNH THẾ CẤP THIẾT TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH......................................... 27
2.1 Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu trách
nhiệm hình sự khi có những điều kiện sau ............................................ 27
2.1.1 Phải có sự nguy hiểm đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, lợi ích
của tập thể hoặc lợi ích hợp pháp của công dân. .......................................... 27
2.1.2 Sự nguy hiểm đang đe dọa phải là sự nguy hiểm thực tế..................... 28
2.1.3 Hành động khắc phục sự nguy hiểm bằng cách gây thiệt hại cho lợi ích
hợp pháp khác là một biện pháp duy nhất .................................................... 29
2.1.4 Thiệt hại do hành động trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn
thiệt hại cần ngăn ngừa ................................................................................ 31
2.2 Vượt quá giới hạn trong tình thế cấp thiết ...................................... 32
2.2.1 Khái niệm, ý nghĩa của việc xác định giới hạn của tình thế cấp thiết.. 32
2.2.2 Các điều kiện xác định trách nhiệm hình sự vượt quá giới hạn của tình
thế cấp thiết ................................................................................................... 34
2.3 Phân biệt tình thế cấp thiết với một số yếu tố loại trừ tính chất tội
phạm của hành vi khác ........................................................................... 35
2.3.1 Phân biệt tình thế cấp thiết với phòng vệ chính đáng .......................... 35
2.3.2 Phân biệt tình thế cấp thiết với sự kiện bất ngờ ................................... 40
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TÌNH THẾ CẤP
THIẾT TRONG THỜI GIAN TỚI............................................ 46
3.1 Vấn đề tình thế cấp thiết trong thực tế ............................................ 46
3.2 Một số bất cập về quy định tình thế cấp thiết hiện nay................... 52
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Mở đầu
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự. Trong thực tế có những hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng được thực hiện
trong hoàn cảnh đặc biệt mà pháp luật cho phép, khoa học luật hình sự gọi là những
trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi. Các trường hợp loại trừ tính chất
tội phạm của hành vi là một trong những chế định đặc biệt của pháp luật hình sự
Việt Nam. Chế định này đóng vai trò quan trọng trong lý luận và thực tiễn pháp luật
hình sự, tạo điều kiện tăng cường pháp chế và thể hiện tính chất nhân đạo trong
chính sách hình sự nước ta. Góp phần tạo ranh giới giữa hành vi bị coi là tội phạm
và không phải là tội phạm và góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân và
phán ánh sâu sắc chính sách hình sự của nước ta.
Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định sáu trường hợp loại trừ tính chất
tội phạm của hành vi như sau: Tính chất không đáng kể của hành vi (khoản 4 Điều
8); sự kiện bất ngờ (Điều 11); chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12);
chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 13); phòng vệ chính đáng (Điều 15),
tình thế cấp thiết (Điều 16).
Trong các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi quy định trong
Bộ luật hình sự hiện hành thì tình thế cấp thiết là một chế định khó và thực tiễn ít
được áp dụng chế định này. Thực tiễn cho thấy quy định của pháp luật hình sự hiện
hành về yếu tố này còn chưa hoàn thiện và còn bất cập. Đề tài này được lựa chọn
với mục đích nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc yếu tố này và góp phần hoàn
áp dụng các quy định về tình thế cấp thiết trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình thế cấp thiết trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999
(sửa đổi bổ sung 2009) và các vấn đề liên quan tới yếu tố này như: khái niệm tình
thế cấp thiết, các điều kiện xác định tình thế cấp thiết, so sánh với các yếu tố như
phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ và các quy định ở một số quốc gia trên thế
giới.
Phạm vi nghiên cứu từ pháp luật phong kiến đến khi pháp điển hóa pháp luật
lần nhất và lần thứ hai (năm 1985 và 1999) đến thời điểm hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác_Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh trong quá nghiên cứu của mình, các quan điểm của Đảng và Nhà
Nước, các quy định của pháp luật được sử dụng với ý nghĩa là những căn cứ lý luận
và thực tiễn để giải quyết vấn đề.
Bên cạnh đó Người viết còn sử dụng các phương pháp để nghiên cứu đề tài
như: phân tích, so sánh, tổng kết kinh nghiệm, tổng hợp.
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
2
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
5. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung
hại đáng kể cho những lợi ích được pháp luật bảo vệ. Một người thực hiện hành vi
có tính chất nguy hiểm cho xã hội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi ấy
thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật
hình sự. Thực tế có những hành vi do con người thực hiện có các dấu hiệu bề ngoài
giống với một tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Song hành vi ấy thỏa
mãn một điều kiện khác của Bộ luật hình sự quy định cho nên được coi là có lợi cho
xã hội, là hợp pháp. Người ta gọi những điều kiện đó là trường hợp loại trừ tính
nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành vi, hay những trường hợp loại
trừ tính chất tội phạm của hành vi.
Ví dụ: Hành vi chống trả lại và đánh trọng thương người đàn ông đang thực
hiện hành vi hiếp dâm, đó là hành vi phòng vệ chính đáng.
Hiện nay Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành quy định sáu trường hợp loại
trừ tính chất tội phạm của hành vi như sau:
_ Tính chất không đáng kể của hành vi (khoản 4 Điều 8)
_ Sự kiện bất ngờ (Điều 11)
_ Chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12)
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
4
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
_ Tình trạng không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 13)
_ Phòng vệ chính đáng (Điều 15)
_ Tình thế cấp thiết (Điều 16)
Theo GS.TSKH Đào Trí Úc: Những hành vi được pháp luật coi là những yếu
tố loại trừ tính chất tội phạm về bản chất phản ánh sự xung đột, sự va chạm nào đó
5
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Vấn đề bản chất pháp luật của các trường hợp trên như phòng vệ chính đáng
,tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ vẫn còn những quan điểm khác nhau. Trong khoa
học luật hình sự Việt Nam cho đến nay về bản chất pháp luật của sáu trường hợp
loại trừ tính chất tội của hành vi trong Bộ luật hình sự. Hiện nay vẫn tồn tại một số
quan điểm chính như sau:
_ Theo GS.TSKH Đào Trí Úc gọi những hành vi trên là “cái không phải là tội
phạm”(2)
_ TH.S Đinh Văn Quế lại có quan điểm về những trường hợp trên là những
trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, ông định nghĩa như sau: “Tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là
tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp có hành vi gây thiệt hại
cho xã hội mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự gọi là loại trừ trách nhiệm
hình sự. Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự”(3)
_ GS.TSKH Lê Cảm thì tình thế cấp thiết là một trong các trường hợp loại trừ
tính chất tội phạm của hành vi: “Trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi
là tình tiết được điều chỉnh trong pháp luật hình sự mà khi có căn cứ do luật định thì
việc gây thiệt hại về pháp luật hình sự không bị coi là tội phạm và do vậy, người
gây thiệt hại đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Bản chất trường hợp này
không bị coi là tội phạm (mặc dù về mặt hình thức việc gây thiệt hại này có các dấu
hiệu của hành vi nào đó bị luật hình sự cấm). Dưới góc độ hình sự, bản chất pháp lý
chung đầy đủ và toàn diện của tất cả sáu trường hợp đã nêu trong phần chung Bộ
luật hình sự 1999 là các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.”(4)
hơn.
3) Hậu quả pháp lý của hành vi đó được nhà làm luật xây dựng là hành vi hợp
pháp, loại trừ trách nhiệm hình sự và trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm dân
sự:
_ “Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho
người bị hại
_ Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
cho người bị hại.
_ Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy thì phải bồi thường
cho người bị thiệt hại”(5)
4) Khi không bảo đảm các yêu cầu về tính hợp pháp thì hành vi bị coi là tội
phạm và chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên pháp luật hình sự coi đó
là một trong những tình tiết giảm nhẹ hình sự.
Khoa học luật hình sự Việt Nam còn thừa nhận một số hành vi khác là loại trừ
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi như: bắt người phạm pháp, thi hành mệnh
lệnh cấp trên, thực hiện chức năng nghề nghiệp. Nhưng Bộ luật hình sự hiện nay
vẫn chưa có quy định cụ thể về vấn đề này.(6)
(5)
Điều 614, Bộ luật dân sự, Năm 2005.
Đinh Văn Quế, Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2000,Trang 43.
(6)
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
7
SVTH: Phạm Đức Phúc
(7)
Điều 25, Bộ luật hình sự, Năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
8
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
_ “Cấp thiết” có nghĩa là rất cần thiết cần phải giải quyết ngay hoặc “căng
thẳng, gay go đòi hỏi phải giải quyết ngay hoặc gấp không thể chậm trễ.(8)
_ “Tình thế cấp thiết” là rơi vào hoàn cảnh căng thẳng, gay go phải giải quyết
ngay, không thể chậm trễ.(9)
Khoản 1 Điều 16 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009
có quy định về “Tình thế cấp thiết” như sau:
“Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang
thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của
mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại
nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.”
Tình thế cấp thiết là một trong những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm
của hành vi. Nó mang bản chất pháp lý và những đặc trưng chung của những trường
hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi.
Đặc điểm quan trọng đáng chú ý nhất của yếu tố này là ở chỗ trong các hoàn
cảnh tình thế cấp thiết không hề có ai tấn công ai, không hề có hành vi vi phạm
pháp luật nào từ phía người bị hại ở tình thế cấp thiết. Ở đây hầu như chỉ có hoàn
GS.TSKH Lê Cảm có đưa ra khái niệm khoa học về tình thế cấp thiết như sau:
“Tình thế cấp thiết là hành vi của người gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự của
một người nào đó để ngăn ngừa sự nguy hiểm đang đe dọa trực tiếp đến các lợi ích
hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà
nước, nếu sự nguy hiểm ấy không thể loại trừ được bằng cách nào khác và thiệt hại
gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.”(11)
Khi có một nguy cơ đang đe dọa gây ra một thiệt hại nào đó để ngăn chặn
thiệt hại xảy ra, ta có quyền gây ra một thiệt hại khác nhỏ hơn nếu đó là phương án
cuối cùng.
Ví dụ: Để tránh đám cháy lan ra cả khu phố người tổ trưởng dân phố không
còn cách nào khác là dỡ bỏ ngôi nhà liền kề ngay đám cháy. Mục đích của người tổ
trưởng dân phố là bảo vệ cả khu phố là phải huy sinh lợi ích của một hộ gia đình
liền kề với đám cháy nhất. Mục đích của người tổ trưởng dân phố là huy sinh lợi ích
nhỏ để bảo vệ lợi ích lớn.
Trong Bộ luật dân sự 2005 tại Điều 262 quy định nghĩa vụ của chủ sở hữu
trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết như sau:
“1.Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang
thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp
của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động
gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
2.Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu tài sản không được cản trở người khác
dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để
ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
(11)
Lê Cảm,Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, Nxb công an nhân dân, Hà Nội, Năm
2000, Trang 43.
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
Điều 11 Hiến pháp năm 1992 đã chỉ rõ công dân ngoài việc làm chủ còn phải
có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì
vậy, mọi công dân không thể thờ ở, bàng quan khi lợi ích của Nhà nước, của xã hội
và của chính những người dân bị đe doạ xâm hại.
Trách nhiệm công dân được đặt ra trong tình huống khi một nguy cơ đang đe
doạ lợi ích nhà nước, của xã hội, của cá nhân. Khi một người đứng trước nguy cơ
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
11
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
đang đe doạ xảy ra, người đó phải hành động để ngăn ngừa, giảm thiểu và làm cho
thiệt hại đó là nhỏ nhất. Trong trường hợp không còn phương thức nào khác ngoài
việc gây ra một thiệt hại nhỏ hơn để ngăn ngừa thiệt hại bị đe dọa thì người đó đã
gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết. Trường hợp chủ thể của hành vi trong tình thế
cấp thiết là người thi hành công vụ. Trong trường hợp này, việc có hành động ngay
để loại bỏ nguy hiểm là trách nhiệm công vụ của họ.
1.1.4 Ý nghĩa của yếu tố tình thế cấp thiết
Việc nghiên cứu tình thế cấp thiết có ý nghĩa khoa học - thực tiễn quan trọng
dưới các góc độ sau:
Một là, nó đảm bảo mọi công dân có điều kiện để tự bảo vệ những quyền và
lợi ích chính đáng của mình và của xã hội, đồng thời phát huy quyền làm chủ tập
thể của mình trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước. Điều 11 Hiến pháp năm 1992,
khuyến khích các công dân dũng cảm thực hiện các hành động nhằm bảo vệ các lợi
ích hợp pháp, ngăn ngừa các nguy hiểm đối với các lợi ích chính đáng được pháp
luật bảo vệ.
tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Tình thế cấp thiết trong pháp luật hình sự Việt Nam thời kì phong
kiến
1.2.1.1 Tình thế cấp thiết trong pháp luật hình sự quốc triều hình luật
Quốc triều hình luật (luật hình triều Lê) là một bộ luật hình chính thống và
quan trọng nhất của triều đại nhà Lê (1428 – 1788). Bộ luật này trong dân gian nước
ta đã có thời kì gọi theo cách giản lược: (Luật Hồng Đức).
Quốc triều hình luật nguyên bằng chữ Hán được lưu trữu tại Viện nghiên cứu
Hán Nôm (Hà Nội). Có ba bản Quốc triều hình luật in ván khắc mang các ký hiệu:
A.341, A.1995, A.2754. Bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 được coi là
có giá trị nhất vì là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả.
Hoàn cảnh ra đời
Nhà Hậu Lê là một một triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam được
thành lập sau khi nhà vua Lê Thái Tổ (tức Lê lợi) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn chiến thắng quân minh. Nhà Hậu Lê gồm hai giai đoạn: giai đoạn Lê Sơn (1428
– 1527), giai đoạn Lê Trung Hung (1533 – 1789). Trong xã hội bấy giờ tệ công
khai, việc giáo dục không có hệ thống oan ức tran lan, người trẻ dại không có biết
suy nghĩ, còn quan lại xét xử không công bằng. Một xã hội xáo trộn nên cần thiết
phải có luật pháp.
Sau khi lên ngôi vua Lê đã rất quan tâm đến lĩnh vực xây dựng pháp luật nói
chung và pháp luật hình sự nói riêng. Trong đó Quốc triều hình luật được coi là bộ
luật quan trọng và chính thống nhất không chỉ trong thời kì Lê Sơ mà còn đối với cả
triều Hậu Lê nói chung.
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
13
SVTH: Phạm Đức Phúc
được miễn tội.”
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
14
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Điều 646 bộ luật Hồng Đức quy định: Đi bắt tội nhân mà tội nhân chống cự bị
người đi bắt đánh chết, hay là vì tội nhân bỏ chạy, đuổi mà đánh chết, hay là tội
nhân mà cũng quẫn quá mà tự sát, thì người đi bắt đều được miễn tội
Điều 499 bộ luật Hồng Đức quy định: Trong tình trạng khẩn cấp mà gây thiệt
hại về người cũng được pháp luật thời kì này giảm nhẹ tội: “...trường hợp khẩn cấp
vì cứu người, thi hành công vụ nếu làm bị thương hoặc chết người thì xử giảm nhẹ
hơn tội vô ý hai bậc...”
Kết luận: Theo quan điểm của người viết có thể nói “tình trạng khẩn cấp”
trong Quốc triều hình luật mà người viết vừa phân tích ở trên có thể được coi là
“tình thế cấp thiết” trong Điều 16 Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên tình trạng khẩn
cấp trong bộ luật Hồng Đức chủ yếu để bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị, tức là
bảo vệ cho nhà Vua và tầng lớp quan lại Phong Kiến. Chứ chưa bảo vệ cho tầng lớp
nhân dân trong xã hội.
1.2.1.2 Tình thế cấp thiết Trong Hoàng Việt Luật Lệ
Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long) được xem là sản phẩm có giá
trị lớn về mặt lập pháp của vương triều nhà Nguyễn (1802 – 1883). Năm 1811
Hoàng Việt Luật lệ được hoàn tất và một năm sau 1812 Bộ luật được khắc in lần
đầu tiền. Hoàng Việt luật lệ gồm 29 Chương với 424 điều. Hoàng Việt luật lệ không
có những quy định mang tính khái quát và gọi tên những tình tiết loại trừ tính chất
đối mặt với ba nhiệm vụ lớn là tiêu diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm và
Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu. Chính vì vậy sau khi
Hồ Chủ Tịch đọc bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9 1945 khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ công hòa, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật
hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm, ví dụ như:
Sắc lệnh số 06/SL ngày 5/9/1945 trong đó cấm nhân dân Việt Nam không
được đi lính bán thực phẩm, dẫn đường, liên lạc, làm tay sai cho pháp, kẻ nào trái
lệnh sẽ bị đưa ra Tòa án quân sự nghiêm trị.
Ngày 14/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 21/SL về trừng trị
bọn phản chính quyền, bọn địa chủ cường hào ngoan cố. Trong đó quy định sẽ đem
ra xét xử “tất cả những người nào phạm một việc gì sau hay trước ngày 19 tháng 8
có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sắc lệnh số 7/SL ngày 5/9/1945 cấm đầu cơ, tích trữ thóc, gạo và tiếp thep đó
ban hành Sắc lệnh số 45/SL ngày 9/10/1945: cho đến khi có lệnh mới, khắp toàn cõi
Việt Nam cấm hẳn việc xuất cẳng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ các chế phẩm
thuộc về ngũ cốc. Ai trái với Sắc lệnh này sẽ bị phạt theo quân luật và tài sản sẽ bị
tịch thu.
Trước tình hình bọn “Việt Nam quốc dân Đảng” dùng các thủ đoạn bắt cóc,
tống tiền, ám sát để chống phá cách mạng, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số
27/SL ngày 28/02/1946 quy định “những người phạm tội bắt cóc, tống tiền và ám
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
16
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
sát sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm và có thể bị xử tử”. Để bảo vệ những công
trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, Nhà nước ta cũng đã ban hành
Trần Quang Tiệp, Lịch sử luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2003, Trang 82.
Trần Quang Tiệp, Lịch sử luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2003, Trang 84.
GVHD:Lê Quỳnh Phương Thanh
17
SVTH: Phạm Đức Phúc
Luận văn tốt nghiệp: Tình thế cấp thiết trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng
cả nước, ở miền Nam, tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ, thực hiện thống nhất nước nhà. Pháp luật
hình sự thời kì này phải phục vụ thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng đó.
Nghiên cứu pháp luật hình sự trong thời kỳ này ở miền Bắc, có thể rút ra một
số đặc điểm sau đây:
+ Định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm chưa được ghi nhận trong các
văn bản quy phạm pháp luật hình sự thời kì này.
+ Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Chỉ thị số 46/TH ngày 14/1/1969 của
Tòa án nhân dân tối cao về việc tăng cường và phát huy hơn nữa tác dụng của công
tác Tòa án trong tác bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ tài sản của Nhà nước quy định: “
Nói chung, đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi đến 18 tuổi nếu trường hợp phạm pháp
cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng
đối với loại từ 14 tuổi đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội
rất nghiêm trọng” (14)
+ Khái niệm lỗi chưa được ghi nhận chính thức trong các quy phạm pháp luật
hình sự. Tuy nhiên trong các văn bản ngành Tòa án đã phân biệt bốn lỗi là cố ý trực
tiếp, cố ý gián tiếp vô ý do cẩu thả, vô ý do quá tự tin.
+ Các văn bản quy phạm thực hiện tội phạm chưa ghi nhận chính thức về quy