MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH
TẾ - XÃ HỘI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÁC
CÔNG TY CỔ PHẦN DO NHÀ NƯỚC GIỮ CỔ
PHẦN CHI PHỐI TRONG QUÂN ĐỘI
1.1.
Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong
quân đội và hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây
dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi
phối trong quân đội
1.2.
Tính tất yếu khách quan, tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các
công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong
quân đội
1.3.
Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu
tư xây dựng và bài học rút ra đối với dự án đầu tư xây
dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi
phối trong quân đội
Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY CỔ
PHẦN DO NHÀ NƯỚC GIỮ CỔ PHẦN CHI PHỐI
16
16
30
48
56
56
101
107
107
117
148
150
151
160
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
3
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: “Hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ
phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội” là vấn đề nghiên cứu
được nghiên cứu sinh quan tâm, ấp ủ và trăn trở từ rất lâu. Trong nhiều năm
tham gia lãnh đạo, chỉ đạo ở một CTCP do Nhà nước giữ CPCP chi phối trong
quân đội, nghiên cứu sinh đã nhận thấy sự cần thiết phải nâng cao HQKTXH
của DAĐTXD. Đây là điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn về HQKTXH của DAĐTXD; góp phần nâng
cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động SXKD ở công ty.
Trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn; sự tích lũy kiến thức qua nghiên cứu,
học tập ở các nhà trường trong và ngoài quân đội; tham khảo kết quả nghiên
cứu của các công trình khoa học ở nước ngoài và trong nước có liên quan đến
luận án; dựa vào kết quả thực tiễn về HQKTXH của DAĐTXD tại các CTCP
do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội; số liệu nghiên cứu, khảo sát của Cục
Kinh tế - Bộ Quốc phòng và cơ quan, đơn vị liên quan từ năm 2001 đến nay;
được sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm của các nhà khoa học cho phép
nghiên cứu sinh triển khai đề tài này.
Trong luận án, nghiên cứu sinh đã tập trung đi sâu làm rõ cơ sở khoa học về
HQKTXH của DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội;
nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao HQKTXH ở một số DAĐTXD ở trong nước và
rút ra bài học kinh nghiệm với DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP
trong quân đội. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng; chỉ ra những mâu thuẫn
trong nâng cao HQKTXH ở các DAĐTXD; nghiên cứu sinh đã đề xuất những
quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa HQKTXH của DAĐTXD tại các
CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội. Đây là một công trình khoa học
ngoài nước; đồng thời, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, HQKTXH ở một số DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước
giữ CPCP trong quân đội thấp. Tình trạng các dự án đầu tư còn già n trả i,
5
chấ t lượ ng công trì nh không bả o đả m, thấ t thoá t lớ n, có những dự án đầu
tư chưa thực hiện tốt việc kết hợp giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã
hội, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái. Hiện nay, chi phí ở các
DAĐTXD thườ ng tăng cao so vớ i tổ ng dự toá n đượ c phê duyệ t; tiế n độ
dự á n thườ ng chậ m; lự a chọ n nhà thầ u chưa được công khai minh bạ ch;
nhiều dự án chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế mà chưa quam tâm đầy đủ
đến hiệu quả xã hội.
Từ thực tế trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: "Hiệu quả kinh tế - xã
hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần
chi phối trong quân đội" là nội dung nghiên cứu của luận án tiến sĩ, chuyên
ngành kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm luận giải, phân tích và làm rõ hơn lý
luận và thực tiễn về HQKTXH DAĐTXD tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP
trong quân đội; đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao HQKTXH DAĐTXD
tại các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận về HQKTXH DAĐTXD tại
các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội.
- Đưa ra tiêu chí đánh giá HQKTXH DAĐTXD tại các CTCP do Nhà
nước giữ CPCP trong quân đội.
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng HQKTXH DAĐTXD tại các
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp; phương
pháp cấu trúc, khảo sát bằng phiếu điều tra và sử dụng phần mềm chuyên
dụng để thống kê, xử lý, tổng kết.
7
Luận án sử dụng phương pháp riêng của chuyên ngành là phương pháp
trừu tượng hoá khoa học. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học giúp nghiên
cứu sinh tiếp cận vấn đề nghiên cứu được đúng hướng, tìm ra những mối liên
hệ bản chất và gạt bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình nghiên
cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng luận án.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Phân tích và đưa ra quan niệm mới về HQKTXH DAĐTXD tại Công ty cổ
phần do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội.
- Đánh giá đúng thực trạng HQKTXH DAĐTXD tại CTCP do Nhà nước
giữ CPCP trong quân đội.
- Đề xuất hệ thống những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao HQKTXH DAĐTXD tại CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà quản trị doanh nghiệ p nâng
cao HQKTXH các dự á n đầu tư xây dựng tại các doanh nghiệp nói chung
và ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội.
- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn, cấp thiết, có thể ứng dụng
ngay trong thực tế để hoàn thiện và nâng cao HQKTXH của DAĐTXD tại
các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội. Nội dung nghiên cứu sẽ
góp phần tạo tiền đề cho những định hướng công tác quản trị DAĐTXD phù
hợp với xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập quốc
tế. Luận án còn được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các
môn học chuyên ngành ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
hoàn vốn, phương pháp tính lợi nhuận trên vốn, cách tiếp cận dòng tiền chiết
khấu. Bên cạnh đó, kỹ thuật phân tích, đánh giá dự án phục vụ cho việc ra
các quyết định tài chính cũng được tác giả tập trung phân tích và làm rõ.
- Đổi mới cơ chế kinh doanh là khâu then chốt để nâng cao hiệu quả kinh
tế tại doanh nghiệp nhà nước [67]. Cuốn sách phân tích và làm rõ thực trạng cơ
9
chế kinh doanh cũ chưa được đổi mới triệt để ở các DNNN nên đã kìm hãm hiệu
quả SXKD. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chính là: Phải xây dựng cơ
chế kinh doanh tự chủ; xây dựng cơ chế cạnh tranh; xây dựng cơ chế khuyến
khích vật chất; xây dựng cơ chế tự ràng buộc và cơ chế tự phát triển.
- Nghệ thuật quản lý kinh doanh [71]. Cuốn sách trình bày về bí quyết
đầu tư; nhất là đầu tư cân đối, sự am hiểu về chính sách và luật pháp, cơ hội
kinh doanh, công tác quảng cáo...
Tổng quan kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình nghiên cứu ở
nước ngoài đã tập trung phân tích về hiệu quả đầu tư và hiệu quả dự án đầu
tư; sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả đầu tư, hiệu quả dự án đầu tư và những
nhân tố chủ yếu bảo đảm hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, các dự án
đầu tư. Tuy nhiên, những công trình khoa học này chưa bàn đến HQKTXH
DAĐTXD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP. Những công trình này mới chỉ
dừng lại ở những lĩnh vực cụ thể, với phạm vi nhất định. Song, các công trình
khoa học đã cho nghiên cứu sinh kinh nghiệm, phương pháp đánh giá, tiếp cận
vấn đề nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng luận án.
2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
Những công trình khoa học ở trong nước liên quan đến vấn đề này được thể
hiện ở một số công trình sau:
* Nhóm công trình khoa học bàn về dự án, dự án đầu tư xây dựng, thẩm
định dự án đầu tư xây dựng; hiệu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội
cấp quản lý đầu tư.
- Thẩm định tài chính dự án [52]. Cuốn sách đã phân tích, luận giải
nhiều vấn đề liên quan đến công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư như dự
toán vốn đầu tư, các chỉ tiêu thẩm định tài chính, phân tích rủi ro của dự án.
Cuốn sách cũng phân tích, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính
ở các dự án đầu tư và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
của công tác thẩm định ở các dự án đầu tư xây dựng.
11
- Đầu tư phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở Việt Nam hiện nay
[51]. Cuốn sách đã trình bày, phân tích và luận giải khá sâu sắc tổng quan
những vấn đề liên quan đến khu kinh tế quốc phòng; hiệu quả đầu tư và phát
triển các khu kinh tế quốc phòng. Khi nghiên cứu về hiệu quả đầu tư vào các
khu kinh tế quốc phòng, cuốn sách đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề hiệu quả,
hiệu quả đầu tư; các chỉ tiêu tổng quát đo hiệu quả đầu tư vào khu kinh tế
quốc phòng; hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính đầu tư; các chỉ
tiêu xác định hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của đầu tư vào khu kinh tế
quốc phòng. Đây là những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu giúp nghiên cứu
sinh có được phương pháp, cách tiếp cận vấn đề đúng và khoa học hơn.
- Lập và thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư [96]. Cuốn sách tập
trung làm rõ các nhóm kiến thức cơ bản liên quan đến dự án đầu tư và một số
kinh nghiệm trong lập, thẩm định phương án tài chính dự án đầu tư cũng như
quá trình tổ chức huy động vốn và chi phí sử dụng có hiệu quả nguồn vốn.
Trên cơ sở đó, cuốn sách đã chỉ rõ sự cần thiết phải bảo đảm sự phát triển
vững chắc, quản lý vững chắc và thực hiện nghiêm hướng dẫn xây dựng
phương án tài chính dự án đầu tư.
- Quản lý dự án công trình xây dựng [95]. Cuốn sách đã tập trung trình
bày và giải quyết nhiều vấn đề cơ bản về quản lý dự án các công trình xây
được chấn chỉnh, kiện toàn; quy chế quản lý hiện hành chưa phù hợp. Một số dự án
thành lập ban quản lý kiêm nhiệm nhưng không đủ thành phần các chuyên ngành,
chất lượng chuyên môn chưa đạt yêu cầu, phân công nhiệm vụ không rõ ràng, chưa
phát huy được vai trò trách nhiệm của các thành viên dẫn đến hiệu quả quản lý, điều
hành thực hiện dự án chưa cao. Từ thực trạng đó, bài viết đề xuất những biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng công tác tham mưu, quản lý các dự án đầu tư.
Nhóm các công trình khoa học này đã bàn đến nhiều vấn đề về dự án,
DAĐTXD, HQKTXH và đưa ra các quan niệm với nội dung phong phú, đa
dạng nhất là cách tiếp cận, phân tích, đánh giá về công tác lập, thẩm định dự
án. Đây là một trong những khâu quan trọng nhằm bảo đảm tính khả thi và
hiệu quả của dự án. Tuy nhiên, những công trình này đều được tác giả phân
tích đánh giá ở các lĩnh vực cụ thể, dưới các góc độ khác nhau thuộc ngành,
lĩnh vực nghiên cứu mà chưa đề cập đến HQKTXH của DAĐTXD ở những
CTCP do nhà nước giữ CPCP trong quân đội.
13
* Nhóm các công trình khác có liên quan đến đề tài
- Kinh tế đầu tư [64]. Cuốn sách trình bày, luận giải những kiến thức cơ
bản về kinh tế đầu tư và lý luận chung về đầu tư và đầu tư phát triển: Thị
trường vốn, tổ chức quản lý đầu tư, kế hoạch hoá, kết quả và hiệu quả, lập dự
án, thẩm định dự án, quan hệ quốc tế của đầu tư.
- Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trong thẩm định và quản lý dự án
đầu tư giao thông vận tải [39]. Cuốn sách đưa ra quan niệm cơ bản về dự án đầu
tư. Những phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua các chỉ tiêu (giá trị
lãi ròng hiện tại hoá (NPV), tỷ lệ sinh lời (BCR), tỷ lệ nội hoàn (IRR). Phương
pháp lập trình, hướng dẫn sử dụng vi tính để tính toán trong dự án đầu tư.
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và phát triển các doanh nghiệp quân đội”
[75]. Công trình khoa học này đã chỉ rõ: Thực hiện chủ trương của Đảng và
doanh nghiệp quân đội [45]. Bài viết đã phân tích, làm rõ những kết quả đạt được,
hạn chế và nguyên nhân của việc ra nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức Đảng
ở các DNQĐ; trên cơ sở đó, đề xuất một số nội dung, biện pháp chủ yếu để nâng
cao chất lượng ra nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức Đảng ở các DNQĐ.
Tổng quan kết quả nghiên cứu của nhóm các công trình khoa học
trong nước liên quan đến đề tài luận án được các công trình nghiên cứu và
đề cập đến những vấn đề khác nhau; với mức độ, phạm vi khác nhau. Tác
giả Đỗ Mạnh Hùng đề cập đến HQKTXH; luận giải cơ sở khoa học về
nâng cao HQKTXH trong đầu tư phát triển các khu kinh tế quốc phòng ở
Việt Nam hiện nay. Liên quan đến dự án, nhiều công trình khoa học của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã bàn đến và giải quyết như: Trường Đại
học Kinh tế quốc dân; Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý; Viện
Nghiên cứu Tin học và Kinh tế; Công ty 20, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc
phòng. Các công trình khoa học này đã đưa ra những khái niệm về dự án,
dự án đầu tư xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng cũng như hiệu
quả đầu tư của các dự án.
3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
3.1. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
học đã công bố
Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan đến
luận án được đề cập ở nhiều nội dung, góc độ khác nhau. Những công trình này
15
giúp nghiên cứu sinh có được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu; gợi mở
cho nghiên cứu sinh cách tiếp cận khoa học và góp phần nâng cao chất lượng
nghiên cứu của luận án. Song, mỗi công trình lại nghiên cứu và giải quyết một
hoặc nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến đề tài luận án. Đối với những công
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN DO NHÀ
NƯỚC GIỮ CỔ PHẦN CHI PHỐI TRONG QUÂN ĐỘI
1.1. Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân
đội và hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ
phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.1. Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.1.1. Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh
nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông.
Trong CTCP số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ
đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ
phiếu. Chỉ có CTCP mới được phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính
là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một
CTCP và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. CTCP là một
trong loại hình doanh nghiệp căn bản tồn tại trên thị trường.
Bộ máy của các CTCP được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty
với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt
động có hiệu quả. CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng Quản trị
và Ban Điều hành. Đối với CTCP có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc
tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát.
Khái niệm CTCP được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc,
mục tiêu và tính chất của nó; cần có tối thiểu ba cổ đông bất kể đó là pháp
nhân hay thể nhân. Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết
thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều. Cơ quan tối cao
của các CTCP là Đại hội đồng cổ đông. Các cổ đông sẽ bầu ra Hội đồng
17
18
ưu đãi biểu quyết; 2) Cổ phần ưu đãi cổ tức; 3) Cổ phần ưu đãi hoàn lại; 4) Cổ
phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Trong các cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số
ràng buộc như chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập
được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông
sáng lập có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ
đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Người được quyền mua
cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều
lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Các cổ phần
còn lại như ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác thường tuân theo các
quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Ngoài ra, cổ phần phổ thông
không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi cổ phần ưu đãi có thể
chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa
vụ và lợi ích ngang nhau.
1.1.1.2. Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Công ty cổ phần do Nhà nước giữ CPCP là doanh nghiệp cổ phần,
được hình thành từ hai cơ sở: Một là, Nhà nước góp vốn cùng với các thành
phần kinh tế khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Hai là, cổ phần hóa
các doanh nghiệp mà chủ trương cổ phần hóa được định hình từ năm 1996,
được pháp luật hóa theo Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm
2002 của Chính phủ về chuyển DNNN thành CTCP. Việc chuyển đổi mô
hình hoạt động của các DNNN là phù hợp với yêu cầu phát triển của nền
kinh tế thị trường, với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong điều kiện
mới đòi hỏi các DNNN phải có những thay đổi phù hợp, đáp ứng các quy
chuẩn quốc tế để tham gia hoạt động trên thị trường. Khi cổ phần hoá doanh
lành mạnh hoá môi trường cạnh tranh, tính minh bạch của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường.
20
1.1.1.3. Công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 Khoá
XI và Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ chính trị về một số chủ trương, chính sách
lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới, Bộ Quốc phòng đã xây dựng và trình
Thủ tướng Chính phủ Đề án sắp xếp, đổi mới DNQĐ và được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4
năm 2003; Quyết định số 98/2005/QĐ-TTg ngày 9 tháng 5 năm 2005 và
Quyết định số 339/2008/QĐ-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2008. Quá trình này
được thực hiện theo 4 giai đoạn gồm: giai đoạn thí điểm 2002 - 2003, giai
đoạn 2003 - 2005, giai đoạn 2005 - 2008 và 2008 - 2010. Như vậy, trong 4
giai đoạn thực hiện cổ phần hóa "từ năm 2002 - 2010 đã có tổng số 21 công
ty độc lập, 08 công ty con và 21 đơn vị phụ thuộc chuyển thành 56 CTCP;
trong đó, có 25 CTCP do Bộ Quốc phòng cử người đại diện" [83, tr.69],
hoạt động trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân; tập trung chủ yếu ở
các lĩnh vực dệt may, da giày, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng.
Công ty cổ phần do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội là một bộ phận
của DNQĐ, là những DNQĐ đã thực hiện cổ phần hoá trong đó Nhà nước giữ
51% trở lên. Với cơ chế quản trị mới, sau cổ phần hoá, hầu hết các CTCP đều
hoạt động có hiệu quả hơn so với trước, đời sống của người lao động được
đảm bảo, nhiều doanh nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc, nhiều công ty
đã tham gia đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung.
Thực hiện cổ phần hoá đã giúp các DNQĐ khắc phục được các khó
khăn về vốn, công nghệ, cơ chế quản lý. Sau cổ phần hoá các doanh nghiệp
đã bám sát tình hình thực tiễn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo
công ty hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hoạt động SXKD, tạo ra những sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ góp phần trực tiếp xây dựng kinh tế đất nước, cải
thiện đời sống, tạo nguồn thu thêm cho ngân sách quốc phòng. Khối lượng,
chủng loại hàng hoá, dịch vụ, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước
và thế giới, giá trị sản lượng là những tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
22
doanh của các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội. Tuy nhiên, các
CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân đội tham gia SXKD vừa phải thực
hiện theo đúng luật pháp, môi trường kinh doanh bình đẳng của thị trường,
vừa mang những đặc điểm riêng của các DNQĐ. Đây chính là những đặc
điểm chi phối hoạt động SXKD ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong
quân đội hiện nay.
1.1.2. Dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần do Nhà nước
giữ cổ phần chi phối trong quân đội
1.1.2.1. Quan niệm về dự án đầu tư xây dựng tại các công ty cổ phần
do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội
Dự án là một tập hợp riêng biệt (cụ thể, xác định) những hoạt động có hệ
thống được thực hiện trong một thời hạn xác định, bằng những nguồn lực xác
định, nhằm đạt một mục tiêu phát triển nhất định. Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ
vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành
các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của
pháp luật có liên quan. Xây dựng là việc làm nên những công trình kiến trúc
theo một kế hoạch nhất định, bao gồm những công trình mới, mở rộng hoặc cải
tạo, nâng cấp. Đầu tư xây dựng là hoạt động sử dụng các nguồn lực của xã hội
để tiến hành các công việc xây dựng mới, cải tạo nâng cấp nhà cửa và các cơ sở
hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị và các công việc liên quan khác trên cơ sở
bảo cho dự án thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu và mục tiêu đề ra. Quản lý chất
lượng dự án được thực hiện thông qua các biện pháp kinh tế, tổ chức, hành
chính và công nghệ với một hệ thống các định mức và tiêu chuẩn, các chính
sách khuyến khích và một hệ thống kiểm soát hợp lý. Giám sát và đánh giá dự
án, Giám sát dự án là việc đo lường, thu thập, ghi chép, so sánh và phân tích
thông tin của dự án một cách thường xuyên nhằm đánh giá mức độ hoàn
thành và đề xuất các biện pháp cần thiết để thực hiện thành công mục tiêu dự
án. Trong quản trị dự án, những yếu tố quan trọng cần được kiểm soát là: tiến
24
độ, khối lượng, chất lượng và chi phí. Đánh giá dự án là quá trình xác định và
phân tích một cách khách quan, có hệ thống các kết quả, mức độ hiệu quả, các
tác động và mối liên hệ của dự án trên cơ sở các mục tiêu của nó. Những
người đánh giá dự án không thuộc đội dự án mà ở bên ngoài nhằm đảm bảo
tính khách quan. Kết quả cuối cùng của quá trình đánh giá dự án là một bản
báo cáo đệ trình cho các bên liên quan đến dự án nhằm khẳng định sự cần
thiết của dự án, đánh giá các mục tiêu; đánh giá tính hợp lý, hợp pháp của dự
án, của các văn kiện, thủ tục liên quan đến dự án; rút ra các bài học kinh
nghiệm, đề xuất khả năng triển khai những dự án mới. Quản lý rủi ro trong dự án
đầu tư, môi trường đầu tư phát triển chứa đựng các yếu tố bất định cao. Thời
gian đầu tư thường kéo dài, các nguồn lực cần thiết cho một dự án đầu tư thường
rất lớn. Những yếu tố này là nguyên nhân dẫn đến những rủi ro cho quá trình đầu
tư. Quản lý rủi ro dự án là quá trình nhận dạng những nhân tố rủi ro, đánh giá
mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn, triển khai các biện pháp và quản lý các
hoạt động nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong suốt vòng đời dự án. Để quản
lý rủi ro trong đầu tư, có các phương pháp như né tránh rủi ro, chấp nhận rủi
ro và bảo hiểm.
Dự án đầu tư xây dựng ở các CTCP do Nhà nước giữ CPCP trong quân
thiết bị; tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng và các yếu tố đầu vào khác; địa
điểm và đất đai; quy mô xây dựng và các hạng mục công trình; tổ chức sản xuất
kinh doanh; nguồn nhân lực; phương thức tổ chức và tiến độ thực hiện đầu tư, tiến
độ sử dụng vốn; tổng kết nhu cầu về vốn đầu tư và các nguồn vốn; phân tích tài
chính; phân tích kinh tế; phân tích các ảnh hưởng xã hội; kết luận và kiến nghị.
Trong đó, nguồn nhân lực là một nội dung cơ bản có ý nghĩa quyết định đến chất
lượng và hiệu quả của DAĐTXD.
Từ những phân tích trên, theo nghiên cứu sinh Dự án đầu tư xây dựng tại
các công ty cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối trong quân đội là tập
hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những