Nâng cao tính minh bạch thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 33

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA

STT
Họ và tên
1
Phạm Thị Phương Thảo (NT)
2
Nguyễn Thị Bích Ngọc (TV)
3
Lê Thị Kim Liên (TV)

1

Lớp HC
K47D3
K47D3
K47D3

Mã sinh viên
11D150188
11D150177
11D150168


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1: Các khoản mục sử dụng trong chỉ số của S & P.
Bảng 1.2: Danh sách 10 doanh nghiệp có chênh lệch lợi nhuận 2012 giảm mạnh
nhất sau kiểm toán.

IFRS: Chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính
EPS: Lãi trên mỗi cổ phiếu
CP: Cổ phiếu
ROE: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
DN: Doanh nghiệp
HSX: sàn giao dịch của sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
HNX: sàn giao dịch của sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
BCKQKD: Báo cáo kết quả kinh doanh
KTV: Kiểm toán viên
KSNB: Kiểm soát nội bộ
CTNY: Công ty niêm yết
BKS: Ban kiểm soát
BGĐ: Ban giám đốc

3


LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn khoa Kế toán – kiểm toán, trường
Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em trong quá trình nghiên
cứu và hoàn thành bài nghiên cứu.Đồng thời nhóm nghiên cứu gửi lời cảm ơn
chân thành đến các thầy cô giáo trường Đại học Thương Mại đã truyền đạt cho
chúng em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập tại trường. Đặc biệt
nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Thạc sĩ Nguyễn Thành Hưng đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng em hoàn thành tốt bài nghiên cứu này.

4


CHƯƠNG I - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

5


Nhưng theo thống kê của Vietstock, đã có đến 549 doanh nghiệp chênh
lệch lợi nhuận sau kiểm toán năm 2012. Cụ thể, có tới 319 doanh nghiệp báo
chênh lệch giảm, từ lãi sang lỗ hay tăng lỗ sau kiểm toán năm 2012 và cũng có
230 doanh nghiệp chênh lệch tăng hay giảm lỗ. Như vậy, con số khớp nhau về
lợi nhuận sau kiểm toán thì chỉ có 123 doanh nghiệp, còn lại là chưa công bố
đầy đủ báo cáo trước hoặc sau kiểm toán.Trước đây, sự chênh lệch về lợi nhuận
giữa BCTC trước và sau khi kiểm toán cũng có, nhưng không lớn và phổ biến
như thời gian vừa qua. Việc doanh nghiệp đang từ lãi nhiều thành lãi ít, đang từ
lãi thành lỗ đã làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhà đầu tư vào doanh
nghiệp, vào TTCK, nhất là khi hiện tượng này gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
TTCK luôn được coi là kênh rất quan trọng để thu hút vốn đầu tư trong nước và
nước ngoài cho nền kinh tế; đồng thời cũng là nơi luân chuyển các nguồn vốn
đầu tư, nâng cao khả năng sử dụng vốn có hiệu quả cũng như nâng cao năng lực
quản trị doanh nghiệp, tăng tính công khai, minh bạch hoạt động của doanh
nghiệp cũng như nền kinh tế, đặc biệt đối với Việt Nam chúng ta đang trong quá
trình tái cấu trúc lại nền kinh tế và việc hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới
thì việc phát triển nhanh, bền vững TTCK có ý nghĩa rất thiết thực.
Như vậy hiện tại thông tin kế toán được các doanh nghiệp niêm yết công
bố vẫn còn nhiều vấn đề, chưa đảm bảo tính minh bạch của thông tin.
Đứng từ góc độ của nhà đầu tư, vấn đề về tính minh bạch của thông tin kế
toán luôn là mối quan tâm hàng đầu, các nhà đầu tư mong muốn đồng vốn sẽ
được đầu tư vào những nơi đảm bảo an toàn và có khả năng sinh lợi cao. Để
đánh giá khả năng của một doanh nghiệp, nhà đầu tư phải căn cứ vào những
thông tin kế toán mà doanh nghiệp cung cấp, lấy đó làm cơ sở để phân tích,
đánh giá và đưa ra các quyết định đầu tư. Chính vì lẽ đó, họ mong muốn những
thông tin đó phải đảm bảo tính trung thực, phản ánh chính xác tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo về yêu cầu minh bạch thông tin kế

Nghiên cứu, đánh giá và đưa ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới tính MBTT kế



toán.
Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao và hoàn thiện tính MBTT



kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng: Thông tin kế toán của các doanh nghiệp có niêm yết trên TTCK Việt



Nam.
Thông tin kế toán của doanh nghiệp niêm yết được xem xét trên BCTC và báo

1.3.

1.4.
1.

cáo thường niên của doanh nghiệp này công bố trên TTCK.
Tổng quan các công trình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về việc minh bạch của thông tin kế toán:
Xây dựng chỉ số minh bạch thông tin đối với công ty niêm yết.
Tác giả : TS. Nguyễn Thúy Anh, ThS Trần Thị Phương Thảo, ThS.Bùi



Tác giả đã trình bày vai trò của kế toán – kiểm toán và tính minh bạch thông tin
trong hoạt động của doanh nghiệp. Bài viết đã phân tích khái niệm tính minh
bạch, phân tích tại sao thông tin tài chính của Việt Nam chưa thực sự minh bạch và

3.

đưa ra giải pháp nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin tài chính của công ty
niêm yêt trên TTCK Việt Nam.
Tác giả: Thạc sĩ Lê Hoàng Phúc



Tác giả đã phân tích thực trạng của công bố thông tin định kỳ về BCTC của
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam. Tác giả phân tích về thực trạng công bố
thông tin về BCTC của công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam về các khía cạnh
như: Nội dung, chất lượng thông tin, hình thức và thời gian công bố. Từ đó đưa
ra một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thông tin định kỳ về BCTC
của công ty niêm yết.
Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu từ luận án tiến sĩ, thạc sĩ,
luận văn tốt nghiệp đến những bài nghiên cứu, tạp chí nghiên cứu về đề tài này.
Tuy nhiên đứng trên một góc độ nào đó, các nghiên cứu vẫn còn những vấn đề
chưa được nghiên cứu hoặc cần được nghiên cứu kỹ hơn.Qua việc phân tích nội
dung của các nghiên cứu có liên quan về tính minh bạch thông tin, nhóm nghiên
cứu dự kiến tìm hiểu và đi sâu về nhữung vấn đề :




Đặc điểm thông tin kế toán và tính minh bạch thông tin kế toán.

Có những giải pháp và khuyến nghị gì để nâng cao tính minh bạch thông tin.
Phương pháp nghiên cứu.
Với đề tài: “Nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán của DN niêm
yết trên TTCKVN”, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu tổng
hợp: phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp nghiên cứu định
tính.
Trước hết, nhóm nghiên cứu tiến hành chọn lọc các tài liệu về đề tài
nghiên cứu trong đó bao gồm các thông tin, ý tưởng và bằng chứng đã được
trình bày trên một quan điểm nào đó để tóm tắt những hướng chính đã được
nghiên cứu và liên hệ với nghiên cứu của nhóm. Các tài liệu này được tìm kiếm
tại các thư viện truyền thống và điện tử, thống kê từ các website và tổng hợp từ
các dữ liệu thứ cấp trong đó chủ yếu tìm hiểu sâu về các nghiên cứu trước đó có
cùng đề tài hoặc cùng lĩnh vực nghiên cứu. Từ thông tin của các website như
www.hnx.vn, www.hse.vn, www.stox.vn, www.cafef.vn, … nhóm đã thống kê
được số DNNY trên TTCK VN, tổng quan về DNNY trên TTCK VN và những
thông tin quan trọng về BCTC… giúp cho việc nghiên cứu và đánh giá về tính
minh bạch thông tin nói chung của DNNY, cập nhật những số liệu chính xác và
kịp thời. Đồng thời, tổng hợp từ các dữ liệu thứ cấp cùng đề tài để tóm tắt những
hướng chính đã được nghiên cứu, từ đó, nhóm nghiên cứu khẳng định và đưa ra
những điểm sáng tạo, phát hiện của nhóm nghiên cứu, tính độc lập so với các
nghiên cứu trước đó.

9


Sau khi tổng hợp được các thông tin trên, để có thêm thông tin để đánh giá về
mức độ minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán hiện nay, nhóm nghiên
cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng để kiểm định
những nhận định về thực trạng tình hình minh bạch thông tin của DNNY thông
qua công cụ thu thập là bảng hỏi. Nhóm đã phát hơn 100 nhà đầu tư chứng

Chương 2 – CƠ SỞ LÝ LUẬN THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ SỰ
MINH BẠCH THÔNG TIN KẾ TOÁN
2.1 Thông tin kế toán và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thông tin kế toán


Khái niệm thông tin kế toán.
Thông tin kế toán là những thông tin có được do hệ thống kế toán xử lý và
cung cấp. Thông tin kế toán có những tính chất:

-

Là thông tin kế toán tài chính.
Là thông tin hiện thực, đã xảy ra.
Là thông tin có độ tin cậy vì mọi số liệu kế toán đều phải có chứng từ hợp lý,

-

hợp lệ.
Là thông tin có giá trị pháp lý.
Việc lập và lưu hành báo cáo kế toán là giai đoạn cung cấp thông tin và
truyền tin đến người ra quyết định.



Đặc điểm của thông tin kế toán

 Thông tin kế toán mang tính chất toàn diện, thường xuyên, liên tục, có hệ thống


sinh, tôn trọng nội dung hơn hình thức hoặc thông tin không bị bóp méo, giúp cho
thông tin kế toán hữu ích hơn để từ đó các nhà đầu tư có thể khắc họa được đầy đủ
và chính xác các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
 Tính so sánh: Các thông tin kế toán phải đảm bảo tính có thể so sánh được để

có thể phân tích được những biến động về tình hình tài chính và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
 Tính kịp thời: Để hữu hiệu trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các doanh

nghiệp, thông tin phải phát huy được tính kịp thời. Yêu cầu này làm cho việc
phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đúng đắn theo bản chất
của các sự kiện phát sinh, từ đó không dẫn đến các đánh giá hay nhận xét sai
lầm về doanh nghiệp.
 Tính dễ hiểu: Tính dễ hiểu được xác định trong phạm vi là người sử dụng thông

tin phải có những kiến thức nhất định về kế toán chứ không phải cho rộng rãi tất
cả các đối tượng. Tuy nhiên, khi một thông tin phức tạp nhưng cần thiết cho nhu
cầu ra quyết định vẫn phải được phản ánh.
2.1.2

Đối tượng sử dụng thông tin kế toán.
Các nhà quản trị, người sở hữu và người trong nội bộ doanh nghiệp,
những người ngoài doanh nghiệp là những người có thể dùng thông tin kế toán.
Hệ thống kế toán phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp

13


cũng như cho những người ngoài doanh nghiệp quan tâm đến các hoạt động tài

các cơ quan tài chính, chính phủ cần thông tin kế toán để tổng hợp cho ngành,
cho nền kinh tế và dựa trên các thông tin đó đưa ra những chính sách phát triển

-

phù hợp.
Kiểm toán viên: Dựa vào những thông tin kế toán để đưa ra ý kiến kiểm toán.
Các đối tượng sử dụng khác: Nhân viên, người lao động, đối thủ cạnh tranh,
nhà cung cấp…

2.1.3

Vai trò của thông tin kế toán
Thông tin kế toán có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý ở
cấp độ vi mô cũng như ở cấp độ vĩ mô. Có thể nói rằng chất lượng của thông tin

14


kế toán ảnh hưởng trực tiếp và có tính chất quyết định sự thành bại của các
quyết định kinh doanh.
Thông tin kế toán là nền tảng của mọi quyết định liên quan đến đơn vị, và
để có được những quyết định hợp lý, hữu ích thì các thông tin phải đầy đủ, trung
thực, chính xác. Trong TTCK, nhu cầu sử dụng thông tin kế toán rất đa dạng và
phong phú. Tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin kế toán là cơ sở lý thuyết
và thực tế, có vai trò quan trọng để bảo vệ nhà đầu tư cũng như tính ổn định của
TTCK Việt Nam. Phải thấy rằng vai trò của thông tin kế toán của các công ty đại
chúng là rất quan trọng trong hoạt động của TTCK. Trên thế giới, nhất là sau sự
sụp đổ của tập đoàn năng lượng Erron và công ty kiểm toán Arthur Andersen
gây chấn động nước Mỹ, thì mối quan tâm của công chúng, các nhà đầu tư và

 Đối với các cơ quan chức năng quản lý:

Thông tin kế toán sẽ phục vụ cho việc kiểm soát hoạt động kinh doanh,
hoạch định các hoạt động quản lý vĩ mô. Thông qua việc kiểm tra các thông tin
được cung cấp từ các doanh nghiệp, việc quản lý, giám sát hoạt động của các
doanh nghiệp sẽ kịp thời và hữu hiệu hơn, từ đó thúc đẩy sự phát triển của
TTCK Việt Nam. Khi có doanh nghiệp niêm yết trên TTCK có thông tin không
khả quan về lợi nhuận hoặc có những gian lận về thông tin kế toán lập tức sẽ ảnh
hưởng đến hoạt động của TTCK. Như vậy việc phải nắm bắt được các thông tin
kế toán của các doanh nghiệp sẽ giúp cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản
lý có những chính sách phù hợp, nâng cao chất lượng và thúc đẩy TTCK phát
triển bền vững.
 Đối với các nhà đầu tư, chủ nợ của doanh nghiệp:

Thông tin kế toán là cơ sở để có được các quyết định đầu tư với quy mô
như thế nào. Bởi vì việc nắm bắt được thực trạng về khả năng tài chính, tình
hình tài sản, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán, triển
vọng sản xuất của đối tượng quan tâm đầu tư là vấn đề quan trọng, để từ đó có
thể đưa ra một quyết định thích hợp giúp cho họ có thể thu về một khoản lợi
nhuận, hoặc từ đây có một quyết định sai lầm dẫn đến tổn thất tài sản đầu tư của
họ. Dựa vào thông tin kế toán trên các BCTC, nhà đầu tư có thể khái quát được
tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm, tình hình
hoạt động và kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong một thời kỳ
16


nhất định, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả nhất. Như vậy thông tin
kế toán là nền tảng của các quyết định đầu tư.
2.2



17


hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan
đến hoạt động này”.
Trước đây ta thường thấy khái niệm chung chung về tính minh bạch thông
tin như: “Việc để những thông tin chính xác, đúng sự thật về công ty có sẵn cho
các đối tượng quan tâm tiếp cận; không che dấu hoặc thay đổi những sự thật có
thể làm ảnh hưởng nhận định của các bên liên quan. Ngày nay, khái niệm về tính
minh bạch được thể hiện một cách nhìn mới mẻ hơn, đó là việc công khai thông
tin một cách chủ động hơn do nhiều nhân tố tác động như sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ thông tin, “quyền được biết của công chúng”. Khái niệm mới chú
trọng đến hành vi cũng như đặt trách nhiệm hơn đối với bên cung cấp thông tin.


Đặc điểm của minh bạch thông tin
Theo Tara Vishwanath and Daniel Kaumann (1999), việc hiểu biết về tính
minh bạch nên bao gồm các thuộc tính như sau: tiếp cận, tính toàn diện, tính liên
quan, chất lượng và đáng tin cậy.



Sự tiếp cận
Trên nguyên tắc, luật lệ và các quy định bảo đảm rằng các thông tin phải
có sẵn để cung cấp đến tất cả những người có quan tâm, và thông tin cũng phải
có khả năng được tiếp cận dễ dàng.Điều này được thực hiện một phần nhờ vào
các tổ chức và các phương tiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận luồng
thông tin đó. Chúng bao gồm những phương tiện truyền thông như: báo chí, phát
thanh, truyền hình, bảng công bố thông tin, internet, phát biểu bằng lời nói.


-

dịch chứng khoán…
Người sở dụng thông tin: các nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư có tổ chức và nhà



đầu tư cá nhân trong nước, nhà đầu tư nước ngoài, các cơ quan truyền thông…
Chất lượng và tính tin cậy của thông tin
Thông tin phải có chất lượng và đáng tin cậy, kịp thời, đầy đủ, không thiên
vị, nhất quán và được trình bày trong những thuật ngữ rõ ràng, đơn giản. Những
chuẩn mực đối với chất lượng thông tin phải được đảm bảo, có thể thẩm tra bởi
những tổ chức trung gian hoặc kiểm toán bên ngoài hoặc những tổ chức tạo lập
chuẩn mực.
Tính nhất quán trong việc sử dụng những quy trình nhằm có được thông
tin và các định dạng của thông tin được công bố đảm bảo tính có thể so sánh và
cho phép việc đánh giá những sự tháy đổi theo thời gian.Tiêu chuẩn và phương
pháp được sử dụng để đánh giá thông tin cũng như những thay đổi trong những
phương pháp đó nên được công bố một cách đầy đủ. Những biện pháp như vậy
là cách thức quan trọng của việc ngăn chặn cố ý từ chối không cho tiếp cận
thông tin hoặc làm biến dạng thông tin (như nói dối). Báo cáo không trung thực
19


đã bị ngăn cản bởi sự hiện diện khác nhau của tổ chức “giám sát” từ các kế toán
chuyên nghiệp hoặc những tổ chức trung gian, tổ chức tín dụng, báo chí độc lập,
người nắm giữ tiền.
Hơn thế nữa việc đảm bảo chất lượng và tính tin cậy của thông tin thường
đòi hỏi tính trung thực: đánh giá một cách chính xác tỷ số tín hiệu so với tạp âm

môi giới mà họ có thể thực hiện các giao dịch thay các nhà đầu tư tại những mức
giá bất lợi.
Minh bạch cũng cho nhà đầu tư quyền kiểm soát chất lượng những giao
dịch mà họ nhận được sau khi có thông tin đầy đủ và chính xác. Do vậy nhà đầu
tư với tư cách là người ủy thác có thể xác định rằng liệu một nhà môi giới có lợi
20


dụng họ bằng cách thực hiện giao dịch ở một mức giá kém thuận lợi. Hơn nữa
khi có những xác nhận từ khách hàng, mà những xác nhận này nêu rõ số tiền hoa
hồng hoặc là khoản chênh lệch mà người môi giới nhận được cho một giao dịch
hộ nhà đầu tư, nhà đầu tư có thể so sánh giá thực của giao dịch đó với giá được
công bố trên thị trường để xác định xem chi phí thực của những giao dịch đó có
hợp lý hay không. Tuy vậy, người ta cho rằng, với những thông tin yết giá thì
không đủ để nhà đầu tư xác định rằng họ đã đạt được giao dịch tốt nhất hay
không. Ý kiến này hàm ý là các chủ thể tham gia trên các thị trường có thể chắc
chắn rằng giá niêm yết phản ánh đúng và đầy đủ cung cầu của một thị trường cụ
thể. Mặc dù giá niêm yết cũng hữu ích và quan trọng nhưng chỉ mỗi giá niêm
yết thì vẫn chưa cung cấp đủ thông tin cho nhà đầu tư.
Ngay cả những nơi có giá niêm yết thì một khối lượng lớn giao dịch nhạy
cảm với giá có thể xảy ra giữa hoặc ngoài khoảng chênh lệch giữa giá mua và
bán. Thật sự hữu ích để biết những giao dịch đang xảy ra về phía mua hay bán
của thị trường. Giá niêm yết có thể giúp nhà đầu tư quyết định địa điểm và thời
gian để giao dịch, nhưng những bảng báo cáo giao dịch giúp các nhà đầu tư xác
định giá niêm yết có đáng tin cậy hay không và kiểm tra được chất lượng của
những lệnh đã thực hiện mà họ nhận được. Về mặt này, các nhà đầu tư thường
mong muốn biết xu hướng hoạt động giao dịch và liệu có phải là giao dịch đáng
kể hay không.
Dĩ nhiên gia tăng tính minh bạch cũng cho phép cơ quan quản lý bảo vệ
nhà đầu tư tốt hơn thông qua cải thiện và giám sát của thị trường. Tuy vậy, việc




Minh bạch góp phần phát triển tính hiệu quả của TTCK.
Một lợi ích khác của tính minh bạch là khả năng xóa bỏ một vài nhược
điểm của cấu trúc thị trường không tập trung hoặc cấu trúc thị trường phân khúc.
Cụ thể, bằng cách tạo điều kiện dễ dàng trong việc tìm giá cả, sự minh bạch có
thể giải quyết nhiều vấn đề không hiệu quả trong việc định giá vốn bị gây ra bởi
sự phân khúc của thị trường nhưng vẫn cho phép sự cạnh tranh giữa những thị
trường giao dịch chứng khoán có thể thay thế được. Như chúng ta đã biết, trong
những giai đoạn đầu khi thị trường chứng khoán mới xuất hiện thì thị trường
chứng khoán của một quốc gia có thể hoạt động độc lập với thị trường chứng
khoán khác trên thế giới. Trong vòng hai thập niên trở lại đây, các thị trường
chứng khoán trên thế giới đã liên kết với nhau nhiều hơn; hiện nay các nhà quản
22


lý và các nhà đầu tư thường tổ chức theo dõi các thị trường khác trên thế giới để
tìm kiếm cơ hội đầu tư. Vấn đề quan trọng nhất là số lượng lớn các loại chứng
khoán không chỉ giao dịch trên thị trường trong nước. Vì vậy hiện nay nhiều thị
trường cạnh tranh để có được sự giao dịch của cổ phiếu chính.
Nhìn chung ảnh hưởng của xu hướng này là tích cực. Hiện nay những nguồn
vốn mới có thể chảy đến những nhà phát hành trên thế giới, và sự liên kết đó tạo
điều kiện cho sự phân bổ nguồn vốn trên toàn cầu. Tuy nhiên xu hướng này cũng
đã tạo ra sự phân khúc ở cấp độ quốc tế. Sự phân khúc này đã dẫn đến sự phổ biến
ngày càng nhiều các luồng vốn đầu tư và ngày càng nhiều các loại chứng khoán
giao dịch trên những thị trường khác nhau ở những mức giá khác nhau.
Một thị trường không minh bạch nơi mà giá cả chủ yếu dựa trên giá ở thị
trường sơ cấp, thì sẽ thu hút dòng vốn đầu tư bằng cách sử dụng miễn phí công
cụ tìm hiểu về giá của một thị trường minh bạch hơn mà không cung cấp bất kỳ

Gần đây, giới nghiên cứu cố gắng đo lường tính minh bạch qua các biểu
hiện như “Quản lý yếu kém” và “ Tham nhũng” vốn có liên hệ với thiếu minh
bạch, tuy nhiên các thước đo này không phản ánh hoàn toàn đầy đủ các yếu tố
đang xem xét ở trên. Ưu điểm của phương pháp này là thiết lập một chỉ số sử
dụng các biểu hiện đặc tính của minh bạch đã nêu ở phần trên. Tuy nhiên, trở
ngại lớn cho việc đo lường tính minh bạch là chất lượng dữ liệu nghèo nàn về
thông tin đã được công bố, các tiêu chuẩn phân bổ khác nhau, các đánh giá của
kiểm toán độc lập. Với dữ liệu được cải thiện, người ta có thể đo lường sự minh
bạch một cách có hệ thống, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông
tin và lượng hóa các ảnh hưởng này.
Việc đo lường tính minh bạch thông tin ở nhiều quốc gia được thực hiện
qua các bộ chỉ số. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bộ chỉ số minh bạch thông tin
chính thức nào được áp dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin của các
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Chúng ta có thể tham khảo một số chỉ số minh bạch trên một số TTCK :
chỉ số T&D của Standard and Poor’s tại Hoa Kỳ, chỉ số GTI tại Singapore và
chỉ số IDTRS ở TTCK Đài Loan,…


Chỉ số T&D của Standard and Poor’s
Năm 2001, tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and
Poor’s (S&P) lần đầu tiên đưa ra một cách thức xếp hạng tính minh bạch và
công bố thông tin (Transparency and Disclosure - T&D) cho hơn 300 công ty
lớn ở các thị trường đang phát triển. S&P đánh giá tính minh bạch của công ty
dựa trên các báo cáo tài chính thường niên bằng 98 câu hỏi được chia thành 3
nhóm:
Một là, 28 câu hỏi câu hỏi liên quan đến minh bạch thông tin về cấu trúc
sở hữu và quyền của nhà đầu tư. Cụ thể, các câu hỏi đề cập đến vấn đề minh
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status