Vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang - Pdf 33

LUẬN VĂN:
Vai trò của thông tin chính trị - xã hội
đối
với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán
bộ
chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử của thông tin đã có từ xưa, song mãi đến tận những năm 40 của thế kỷ
XX thông tin mới vươn lên để trở thành một mũi nhọn của thời đại. Đặc biệt sau khi
nhà bác học Mỹ C.Sannon vào năm 1948 tìm ra lý thuyết thông tin, khái niệm "thông
tin" và các phương pháp nghiên cứu có liên quan tới thông tin mới được sử dụng rộng
rãi trong hầu khắp các lĩnh vực của tự nhiên và xã hội.
Ngày nay, trong các nguồn lực phát triển xã hội, ngoài vật liệu và năng lượng,
thông tin được coi là nguồn lực thứ ba và còn được coi là nguồn tài nguyên quan trọng
nhất. Bởi vì thông tin là tri thức, là sức mạnh và là bí quyết góp phần định hướng đúng,
giúp lãnh đạo quản lý ra các quyết định chính xác hơn. Mọi hoạt động kinh tế - xã hội
đều liên quan tới thông tin. Bất cứ một quyết định nào, thuộc lĩnh vực nào cũng đều
chứa đựng một quá trình xử lý thông tin. Thông tin đầy đủ, chính xác, tin cậy về một sự
việc và đến đúng thời điểm sẽ giúp cho người lãnh đạo có được tầm bao quát, quyết
định thêm chính xác, tạo điều kiện quản lý tốt. Như vậy, có thể nói, thông tin thực sự
cần thiết cho mọi hoạt động quản lý trên các phương diện và phạm vi khác nhau.
ở nước ta hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng
với việc đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tri thức, thì thông tin ngày càng trở thành nhu
cầu hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với chiến lược "đi tắt, đón đầu" của
Đảng và Nhà nước ta. Đây cũng là giải pháp cấp bách của một quốc gia ở trình độ phát
triển tương đối thấp như nước ta nếu muốn nhanh chóng bắt kịp với trình độ phát triển
chung của khu vực và thế giới.
Thông tin nói chung và thông tin chính trị - xã hội nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan

- Tác phẩm Thông tin xã hội và quản lý của tác giả V.G.Afanaxep trong tác phẩm
này đã đa ra những cách hiểu khác nhau về thông tin, nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của
thông tin trong quản lý xã hội.
- Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Lê Thị Duy Hoa, Thông tin và vấn đề
tiếp nhận xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội,


2001. Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ bản chất của thông tin dưới góc độ triết học,
vấn đề tiếp nhận và xử lý thông tin trong tư duy người Việt.
- Công trình nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thanh Hải, Thông tin với hoạt động
giảng dạy lý luận Mác-Lênin ở các trường đại học, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội,
2003. Tác giả đã phân tích rõ bản chất thông tin, phân loại thông tin và phát huy vai trò
của thông tin trong hoạt động giảng dạy lý luận Mác-Lênin.
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huệ, Thông tin với hoạt động lãnh
đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà
Nội, 2007. Tác giả đã nêu lên vai trò của thông tin đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và đề ra giải pháp phát huy vai trò của thông tin đối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý.
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồng Vệ, Phát huy vai trò thông tin
chính trị - xã hội trong hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở
tỉnh Cà Mau hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2008. Tác giả đã phân tích sâu
vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ
báo cáo viên cấp cơ sở ở Cà Mau, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy có hiệu
quả vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động tuyên truyền của đội ngũ báo
cáo viên cơ sở Cà Mau hiện nay.
- Tác giả Mai Đức Ngọc, Nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp xã, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, 2006 đã nêu những vấn
đề đặt ra đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay và một số giải pháp chủ yếu
nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay.
- Tác phẩm Thông tin từ lý luận đến thực tiễn của tác giả Nguyễn Hữu Hùng đã

ở tỉnh Bắc Giang.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận:


+ Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là lý luận nhận thức duy
vật biện chứng.
+ Luận văn sử dụng những tài liệu, nghị quyết, chỉ thị, quyết định... của Trung ương, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang.
+ Luận văn vận dụng và kế thừa có sáng tạo các công trình của các tác giả đi trước
về vấn đề có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử cùng với những phương pháp khoa học cụ thể như: phân tích, tổng hợp, thống kê điều tra
xã hội học... nhằm đạt tới mục đích mà luận văn đề ra.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa khái niệm thông tin chính trị - xã hội và chỉ rõ vai
trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
Luận văn chỉ rõ đặc trưng của hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở, sự tác động của thông tin chính trị- xã hội đối với lĩnh vực hoạt động này, từ đó đề
xuất một số giải pháp phát huy vai trò của thông tin chính trị - xã hội đối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các cấp lãnh đạo tham
khảo và vận dụng trong việc xây dựng môi trường thông tin chính trị - xã hội và cung cấp
thông tin chính trị - xã hội cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan thông tin, các
cán bộ cấp cơ sở trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo, quản lý của mình.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết.

sáng rõ bản chất của hiện tượng thông tin.


Thực chất thông tin là gì? Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã không ngừng tìm
hiểu và đưa ra các định nghĩa khác nhau về thông tin.
Theo quan điểm của các nhà thông tin học Liên Xô cũ thì “Thông tin là các tin tức,
số liệu, khái niệm mà về mặt nội dung liên quan với nhau giúp thay đổi những quan niệm
của chúng ta về hiện tượng và khách thể của thế giới xung quanh”[30, tr.107].
Theo quan điểm của V.G.Afanaxep: “Thông tin chính là một bộ phận tri thức được
sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điều khiển, nghĩa là nhằm mục đích duy
trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống. Đó là những tri thức quay vòng
vận động không ngừng, những kiến thức được hệ thống thu thập, bảo quản, xử lý truyền
đi và sử dụng(hoặc có thể sử dụng). Nói một cách khác thông tin là bộ phận tác động “hoạt
động” của phản ánh, của tri thức”[1, tr.36].
Theo quan điểm của N. Vinner: “Thông tin là nội dung thế giới bên ngoài được thể
hiện trong sự nhận thức của con người”[12, tr.8].
Cũng như các ngành khoa học khác, triết học đã không ngừng tiếp cận tới bản chất
chung của thông tin. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu, nhiều cách định nghĩa
khác nhau được đưa ra, song định nghĩa của A.D.Urơxun được xem là một định nghĩa khá
xác đáng về thông tin. Theo ông: “thông tin là cái đa dạng được phản ánh”[31, tr.25]
Khi nói về tính đa dạng của thông tin, tác giả Lê Thị Duy Hoa cũng cho rằng, thông
tin mang tính khách quan, bắt nguồn từ tính đa dạng, nhiều vẻ của cấu trúc cũng như về
mối quan hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Cái đa dạng của sự vật
chỉ trở thành thông tin khi nó được tái hiện, được phản ánh ở một sự vật khác nào đó trong
mối quan hệ tác động với sự vật ban đầu.
Tiếp cận nghiên cứu thông tin với tư cách là cái đa dạng được phản ánh, có thể
được coi là cách tiếp cận đầy đủ và chính xác hơn cả dưới lát cắt triết học.
Từ cách tiếp cận trên cho ta thấy chính từ thuộc tính phản ánh của vật chất đã lý
giải được sự hình thành của thông tin. Lý thuyết phản ánh nói lên rằng: phản ánh là sự tái
tạo những đặc điểm của hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác

độ phản ánh.


Do mọi hệ thống vật chất đều có năng lực tái hiện trong nó những thuộc tính, đặc
điểm, cấu trúc, mối quan hệ…của hệ thống vật chất khác khi tác động vào nó, đó là sự
phản ánh. Tuy nhiên, trong quá trình phản ánh do kết cấu của vật chất khác nhau nên đặc
điểm, bản chất, biểu hiện phản ánh của các sự vật không giống nhau. Vì vậy, chúng ta cần
phải phân biệt được đâu là những hiện tượng phản ánh đầy đủ bản chất hay những hiện
tượng xuyên tạc bản chất. Cái phản ánh bao giờ cũng chứa đựng những đặc điểm, tính
chất, mối quan hệ…của cái được phản ánh không có cái được phản ánh thì cũng không có
cái phản ánh. Những đặc điểm, tính chất, mối quan hệ…của cái được phản ánh được lưu
giữ trong cái phản ánh được gọi là thông tin về cái được phản ánh. Song thật là sai lầm nếu
chúng ta hiểu mọi sự phản ánh sẽ dẫn đến việc coi thông tin như một phạm trù phổ biến,
cùng thang bậc với phạm trù phản ánh.
Thông tin là kết quả của phản ánh, do sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể
phản ánh. Trong quá trình tương tác giữa chủ thể phản ánh và khách thể phản ánh, thì
khách thể phản ánh bộc lộ những tín hiệu có giá trị thông tin để từ đó chủ thể phản ánh tiếp
nhận, tái tạo và xử lý. Sự phản ánh này phải là sự phản ánh có “chọn lọc”.
Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh, là một mặt của phản ánh. Song khái
niệm thông tin hẹp hơn và bị bao trùm bởi khái niệm phản ánh, vì thuộc tính phản ánh
được miêu tả về mặt số lượng chính xác bởi lượng thông tin mà nó phản ánh và thông tin
còn làm rõ cơ cấu, trình độ, của thuộc tính phản ánh của vật chất.
Như vậy, thông tin chính là sự phản ánh cái đa dạng của sự vật. Tính đa dạng của
kết cấu vật chất được phản ánh đó chính là thông tin.
Tác giả V.G.Afanaxep, trong cuốn Thông tin xã hội và quản lý xã hội chỉ ra rằng:
“Thông tin trong trường hợp chung nhất- đó là tính đa dạng mà đối tượng này chứa đựng
đối tượng khác. Đó là tính đa dạng tương hỗ, tương đối, theo quan điểm lý luận phản ánh,
thông tin có thể được quan niệm như tính đa dạng được phản ánh. Như tính đa dạng phản
ánh đối tượng chứa đựng cái được phản ánh”[1, tr.26]. Sự tác động qua lại giữa các kết cấu
vật chất của sự vật, giữa các sự vật với nhau làm cho chúng bộc lộ những đặc điểm, tính



Từ sự phân tích ở trên cho thấy, thông tin là một mặt của phản ánh đó là mặt phản
ánh cái đa dạng. Vì vậy, có thể nói khái niệm thông tin đã làm sâu sắc thêm phạm trù
“phản ánh” trong triết học mác xít.
Khái niệm “thông tin là cái đa dạng được phản ánh” đã trở thành thế giới quan và
phương pháp luận cho các khoa học cụ thể, đặc biệt là lý thuyết thông tin, điều khiển học,
tin học…phát triển, đồng thời nó cũng là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để tư duy
chúng ta tiếp nhận, xử lý, làm chủ được thông tin trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện
nay.
Dựa trên cơ sở xem xét trình độ phản ánh, cấu trúc của thông tin người ta có thể
phân thông tin thành ba loại: Thông tin trong thế giới vô sinh, thông tin trong thế giới hữu
cơ và thông tin trong xã hội con người. Thông tin trong thế giới vô sinh là quá trình thông
tin thụ động, sơ đẳng chưa đầy đủ, là sự “tự điều chỉnh” sự tồn tại của mình cho thích hợp
với môi trường xung quanh của sự vật, hiện tượng khi bị tác động. Thông tin trong thế giới
hữu sinh là loại thông tin có tính điều khiển, có chọn lọc đối với những tác động từ môi
trường xung quanh, có ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của chúng. Thông tin trong
xã hội con người là dạng thông tin cao nhất, phức tạp nhất, có tính mục đích, có sự tham
gia của phản ánh có ý thức của con người.
Thông tin xã hội là lực lượng thông tin tuần hoàn trong xã hội được sử dụng
vào mục đích quản lý xã hội. Hiểu một cách cụ thể hơn, nó chính là thông tin giữa
con người với con người và được sử dụng một cách có ý thức vào mục đích xây
dựng và phát triển các mối quan hệ xã hội, các lĩnh vực hoạt động phong phú của
con người [22, tr.7].
“Thông tin xã hội là kết quả của sự phản ánh dưới dạng những tri thức, những
thông báo, những tin tức về hình thái xã hội của sự vận động của vật chất về tất cả những
hình thức khác của nó ở mức độ được xã hội sử dụng, được đưa vào quỹ đạo của đời sống
xã hội ”[1, tr.41]. Thông tin xã hội và các quá trình thông tin trong xã hội không vận hành
độc lập tự nó mà sự ra đời và phát triển của nó bị quy định bởi hệ thống các quan hệ xã
hội, mà trước hết là sự phát triển của sản xuất. Đồng thời thông tin lại có tác động trở lại

tác động và cải tạo môi trường một cách chủ động, sáng tạo. Quá trình đó đồng thời giúp


cho con người hoàn thiện hiểu biêt của mình, làm giàu thêm tri thức bằng cách sáng tạo ra
một lượng thông tin lớn cho xã hội nhờ chính quá trình cải tạo thế giới đó.
Khác với các dạng thông tin khác, thông tin xã hội không đơn thuần là tri thức được
ghi nhớ trong ý thức mà quan trọng hơn, chính những tri thức ấy đưa đến những thay đổi
trong ý thức, đưa đến hoàn thiện tri thức, xúc cảm, lý tưởng, chi phối hành động của con
người. Thông qua hoạt động thực tiễn, thông tin xã hội có khả năng cải tạo xã hội đồng
thời cải tạo chính bản thân con người. Thông tin xã hội là cơ sở quản lý và cải tạo xã hội.
Đây là dạng thông tin cao nhất, phức tạp nhất, nắm bắt và xử lý thông tin xã hội có hiệu
quả sẽ là tiền đề quan trọng để phát triển xã hội và ngược lại. Vì vậy, thông tin xã hội được
rất nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu. Dù tiếp cận nghiên cứu ở góc độ nào, khi
bàn đến thông tin xã hội người ta đặc biệt chú ý đến chủ thể và khách thể của thông tin xã
hội. Cùng một đối tượng phản ánh, mỗi chủ thể có cách thu nhận, xử lý và sử dụng theo
những quan điểm và mục đích khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Chủ thể thông tin luôn bị
chi phối bởi các nhân tố:
- Năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin.
- Tính khách quan, chính xác của thông tin.
- ý thức, thái độ của đối tượng nhận tin (Quan điểm thế giới quan, nhân sinh quan,
hệ tư tưởng của người nhận tin)…
Vì vậy, cùng một nội dung thông tin phát ra, mỗi đối tượng nhận tin có một hiệu
ứng khác nhau khi tiếp nhận thông tin. Đây chính là cơ sở tạo nên sự đan xen, phong phú
đa dạng trong các hoạt động thông tin xã hội.
Giá trị của thông tin xã hội được xác định bởi người tiếp nhận và sử dụng nó. Giá
trị của thông tin chỉ được xác định khi “nó tạo ra khả năng đạt mục đích đặt ra. Cùng một
thông tin có thể có giá trị khác nhau như xem xét nó trên giác độ sử dụng cho những mục
đích khác nhau”[1, tr.18]. Giá trị của thông tin xã hội chỉ có ý nghĩa khi có sự hiện diện
của chủ thể sử dụng thông tin, của bản thân thông tin cũng như mục đích mà chủ thể đặt ra
cho mình. Mục đích, lợi ích, nhu cầu của chủ thể sử dụng thông tin chính là dấu ấn chủ

trị- xã hội của con người, mang ý nghĩa chính trị- xã hội nhất định.
Có thể nói rằng, thông tin chính trị- xã hội là những thông tin về những quan hệ
chính trị- xã hội phong phú trong các hình thái kinh tế- xã hội khác nhau, những mối quan


hệ có tính quy luật đặc thù trên từng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Tiếp nhận những
thông tin đó các chủ thể xã hội có căn cứ định hướng trong hoạt động xã hội và hành vi cụ
thể trong sinh hoạt hàng ngày thích hợp với truyền thống dân tộc, đặc điểm đất nước và
thời đại. Đồng thời những thông tin này giúp chủ thể tự điều chỉnh bước đi, biện pháp và
mục tiêu hoạt động cho phù hợp với nhận thức mới về phát triển khách quan của xã hội
hoặc sự biến đổi thực tế của quốc gia, dân tộc trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử
cụ thể. Thông tin chính trị- xã hội phục vụ trực tiếp cho hoạt động chính trị, công tác chính
trị, tư tưởng ; là công cụ và phương tiện không thể thiếu được của hoạt động chính trị- xã
hội. Trên cơ sở thông tin chính trị- xã hội, chủ thể quản lý có thể đề ra chủ trương, chính
sách, mục tiêu, biện pháp của các lĩnh vực hoạt động chính trị- xã hội hợp lý.
Đối với các Đảng cầm quyền, thông tin chính trị- xã hội bao giờ cũng tạo thêm
nguồn lực lý luận và hiểu biết khoa học để tổ chức và quản lý xã hội vì lợi ích của mình.
Do đó, thông tin chính trị- xã hội cũng thể hiện những mục đích, những phương pháp,
phương tiện cơ bản trong quản lý xã hội của cơ quan nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
cầm quyền.
Thông tin chính trị- xã hội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề quyền lực.
Nó có thể góp phần bảo vệ, củng cố, phát triển hoặc nhằm thay đổi một chế độ xã hội. Bất
cứ một cơ quan thông tin nào dù mang hình thức gì đều phục vụ cho một lý tưởng, một tôn
chỉ mục đích có nội dung chính trị. Thông tin chính trị- xã hội không chỉ đơn thuần là
thông tin được truyền bá vào tư tưởng xã hội mà còn là thông tin làm thay đổi quan điểm,
tư tưởng của đối tượng chịu tác động.
Thông tin chính trị- xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh
chính trị, tư tưởng và lý luận. Thông tin chính trị- xã hội được xem là vũ khí tinh thần của
các đảng phái chính trị và các nhà nước trong cuộc đấu tranh xã hội vì mục tiêu chính trị
nhất định.

khách quan của thông tin chính trị- xã hội thể hiện ở chỗ, nó bắt nguồn từ cuộc sống, phản
ánh cuộc sống, gắn với cuộc sống của xã hội loài người. Nói khác đi, cơ sở, nguồn gốc, nội
dung của thông tin chính tri- xã hội là khách quan, còn hình thức thể hiện của nó là chủ
quan. Đồng thời thông tin chính trị- xã hội còn mang tính khái quát hoá, trừu tượng hoá,
tính thời sự, tính định hướng, tính dự báo, tính khoa học.


Trong một xã hội cụ thể bao giờ cũng có các quan hệ xã hội vận động, phát triển theo
những khuynh hướng khác nhau, do đó, thông tin chính trị- xã hội cũng phong phú, đa dạng.
Trên cơ sở định hướng chính trị chung, đòi hỏi thông tin chính trị- xã hội phải khái quát hoá,
trừu tượng hoá và bao quát đầy đủ nhiều thông tin ở các lĩnh vực khác nhau và gắn với hoàn
cảnh lịch sử cụ thể.
Thông tin chính trị- xã hội giúp chủ thể chủ động xử lý và đề ra chủ trương chính
sách phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đời sống xã hội và mục đích của chủ thể. Để thông
tin chính trị- xã hội có ích và phục vụ đắc lực cho Đảng cầm quyền hoặch định đường lối,
chủ trương, chính sách sát thực tế thì đòi hỏi thông tin chính trị- xã hội phải đáp ứng các
tiêu chuẩn sau:
Thông tin chính trị- xã hội phải đúng. Đòi hỏi thông tin phải khách quan và chính
xác. Thông tin khách quan, chân thực là bảo đảm nội dung tin phản ánh đúng quan điểm
và chính xác về sự kiện của người lãnh đạo, quản lý. Tính chân thực là một yêu cầu không
thể thiếu được của thông tin chính trị- xã hội. V.I. Lênin đã nói: “… trong công tác tuyên
truyền và cổ động của chúng ta, chúng ta phải đặt vấn đề một cách thẳng thắn”[16, tr.13].
Tính chân thực của thông tin là sự đảm bảo lòng tin của quần chúng vào đảng , vào chính
sách của đảng, là một công cụ quan trọng để nâng cao tính tích cực sáng tạo của quần
chúng vào sự nghiệp cách mạng của đảng.
Thông tin chính trị- xã hội phải đủ, tức là thông tin được chủ thể tiếp nhận phải
phản ánh được tất cả các khía cạnh cần thiết để từ đó chủ thể nhận thức có thể tái tạo lại
được bức tranh tương đối hoàn chỉnh và trung thực về sự việc, hiện tượng.
Thông tin chính trị- xã hội phải kịp thời, nghĩa là phải phản ánh đúng thực trạng sự
kiện, đúng thời gian để chủ thể kịp phân tích, đánh giá và xử lý.

dạng. Trên cơ sở một định hướng chính trị chung thông tin chính trị- xã hội phải bao quát
được đầy đủ, bao trùm nhiều thông tin ở các lĩnh vực khác. Sự khái quát càng cao thì ý
nghĩa chính trị của thông tin chính trị- xã hội càng thể hiện rõ. Song tính khái quát hoá,
trừu tượng hoá của thông tin chính trị- xã hội không xa rời tính cụ thể. Thông tin chính trịxã hội không phải là thông tin chung chung, mà bao giờ cũng gắn với một điều kiện, địa


điểm và thời gian cụ thể, với một thời kỳ lịch sử cụ thể của sự phát triển xã hội. Nói khác
đi, thông tin chính trị- xã hội bao giờ cũng là thông tin khi nào, cho ai và như thế nào.
Tính thời sự là một đặc điểm quan trọng của thông tin chính trị- xã hội.
Tính thời sự của thông tin có thể đưa đến cho con người những thông báo về những
sự kiện mới nhất, cho phép nhận thức đúng đắn, kịp thời và giúp cho việc giải quyết các
nhiệm vụ chính trị- xã hội một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Tính thời sự của thông
tin chính trị- xã hội phải được xem xét ở hai góc độ: tính thời sự ở hệ phát hay hệ thu. Trên
thực tế tính thời sự của thông tin ở hai hệ này không phải lúc nào cũng song trùng. Có
những thông tin được phát đi kịp thời nhưng khi đến được đối tượng sử dụng thì không
còn ý nghĩa thời sự nữa. Xét về mặt thời gian chỉ những thông tin nào đem lại cho chủ thể
tiếp nhận thông tin những nhận thức mới một cách nhanh nhất mới đảm bảo tính thời sự.
Tính thời sự của thông tin chính trị- xã hội không có nghĩa là sự hấp tấp, thiếu chọn
lọc. Thông tin có tính thời sự đối lập với thông tin lặp đi lặp lại về một sự vật, hiện tượng,
những kết luận, luận điểm lặp đi lặp lại, đối lập với những thông tin “nhặt được” ở bất kỳ
một sự kiện nào.
Thông tin chính trị- xã hội bao giờ cũng mang tính định hướng và dự báo
Khuynh hướng tư tưởng của thông tin chính trị- xã hội tự nó đã nói lên tính định
hướng của loại thông tin này. Vấn đề là khả năng giải thích, hướng dẫn dư luận xã hội theo
một định hướng thống nhất của thông tin chính trị- xã hội. Sự thống nhất trong nhận thức
và hành động của quần chúng phụ thuộc rất nhiều vào việc quán triệt đặc điểm này. Để có
thể định hướng cho dư luận xã hội, thông tin chính trị- xã hội phải có khả năng dự đoán,
dự báo. Trên cơ sở đó định hướng cho hành động tương lai của xã hội.
Thông tin chính trị- xã hội tác động trực tiếp đến đời sống tư tưởng tình cảm, tâm lý
hành động của từng người. Nó có thể làm cho đông đảo quần chúng suy tư hành động theo

hội, là nơi có thể tổ chức, huy động, phát huy cao độ nội lực của quần chúng nhân dân.
Hiện nay, cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) ở nước ta chủ yếu là ở địa bàn nông thôn,
nông dân làm nông nghiệp, nên có tiềm năng rất lớn về lao động, đất đai, ngành nghề. Sản
xuất lương thực, thực phẩm của cải vật chất dồi dào cho xã hội. Đồng thời, cấp cơ sở cũng
là nơi tiêu thụ sản phẩm cũng như cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp,


thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc xây
dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở, chẳng hạn như Nghị quyết Trung ương 3, 5,7 của Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, đặc biệt Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX nhấn
mạnh cần “đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở xã, phường, thị
trấn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước”[6, tr.165].
Để thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của
Nhà nước ở cơ sở là đội ngũ CBCC. Họ là những người giữ chức vụ quan trọng, là lực
lượng nòng cốt trong tổ chức thuộc hệ thống chính trị cơ sở, là những người giữ cương vị
chính phụ trách trong một tổ chức một tập thể, có ảnh hưởng quyết định và chi phối việc
chấp hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà
nước. Thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương đã đề ra,
là những người “đứng mũi chịu sào”, chịu trách nhiệm chính trước Đảng, trước nhân dân.
Vậy họ là ai ? Tuy còn có những quan niệm chưa thật thống nhất, song với cách
tiếp cận nêu trên thì CBCC cấp cơ sở hiện nay được xác định và bao gồm các chức danh:
Bí thư, phó bí thư ; Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND ; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND.
Tuy nhiên, cần chú ý khi xác định cán bộ chủ chốt phải đặt cán bộ trong một tổ
chức nhất định để xem xét. Bởi “có thể cán bộ trong tổ chức này trong mối quan hệ này là
cán bộ chủ chốt, nhưng trong tổ chức khác, mối quan hệ khác lại không phải là cán bộ chủ
chốt ”[24, tr.139].
Cán bộ chủ chốt được nghiên cứu trong luận văn này đó là những người có chức vụ
trong hệ thống chính trị cấp cơ sở. Họ có những đặc trưng cơ bản sau:
Là người được uỷ thác của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị cấp cơ sở.

thực tế trong hiện thực sinh động của cuộc sống. Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của
nhân dân, tạo được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nói chung
và vào sự lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp cơ sở nói riêng. Do đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ
trên, trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới thì đội ngũ CBCC cấp cơ sở có vai trò đặc biệt
quan trọng, nó quyết định sự thành bại của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
cũng như CNH, HĐH đất nước cụ thể là:


CBCC cấp cơ sở là bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị
nước ta.
CBCC cấp cơ sở là đại biểu ưu tú của nhân dân và Đảng tiền phong ở cơ sở, đại
diện cho nhân dân trong lãnh đạo, quản lý nhà nước ở địa phương. Đồng thời là người trực
tiếp lãnh đạo cụ thể hoá, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước và biến nghị quyết chủ trương đường lối đó thành hành động cách mạng
của quần chúng nhân dân cũng như tiến hành các chương trình kinh tế- xã hội ở địa
phương. Chính họ tạo nên những thành tựu, đúc rút những bài học kinh nghiệm có giá trị
góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước.
CBCC cấp cơ sở là cầu nối trực tiếp quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Năng lực của người CBCC cấp cơ sở là một trong những nguyên nhân chính quyết
định sự thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, cấp cơ sở nói riêng. CBCC
cấp cơ sở có tài, có đức sẽ thúc đẩy phong trào và ngược lại nếu người cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cơ sở bị mất uy tín trước nhân dân là đồng nghĩa với việc Đảng mất uy tín, dân sẽ
không tin Đảng. Trực tiếp tiếp xúc hàng ngày với nhân dân nên CBCC cấp cơ sở là cầu nối
quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện
vọng tình cảm của nhân dân với Đảng tạo nên mối liên hệ máu thịt thống nhất giữa Đảng và
nhân dân, xây dựng củng cố niềm tin của dân với Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình
hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng
”[19, tr.269].

chất là quá trình bao gồm các khâu: Nắm bắt, xử lý thông tin; Ra quyết định; Tổ chức thực
hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định; Tổng kết rút kinh nghiệm cho việc
thực hiện các quyết định và vận dụng bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định tiếp
theo.
Nắm bắt, xử lý thông tin là bước quan trọng đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý
của CBCC cấp cơ sở.
ở giai đoạn này có những vấn đề có tính nguyên tắc đặt ra là: Thông tin được thu
thập từ nguồn nào, theo những kênh nào. Trong thực tế, tín hiệu thông tin chính trị- xã hội


Trích đoạn Giải pháp nâng cao trình độ văn hoá, lý luận chính trị, năng lực tư duy, năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin chính trị xã hộ Giải pháp xây dựng và phát triển môi trường thông tin chính trị xã hộ Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status