Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giai đoạn hiện nay - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------o0o-----------

NGUYỄN VĂN VŨ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH
LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Long An, 2015


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------o0o-----------

NGUYỄN VĂN VŨ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH
LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01



B. NỘI DUNG

11

Chương 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ 11
chốt cấp cơ sở
1.1. Khái niệm đội ngũ cán bộ và cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

11

1.2.Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đaọ của đội 14
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
1.3 Vai trò của nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 16
Năng lực lãnh đạo và các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đaọ của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Chương 2. Thực trạng năng lực lảnh đạo đội ngũ cán bộ chủ chốt 24
cấp cơ sở ở Thị xã Kiến Tường tỉnh Long An
2.1.Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Kiến Tường, Long An

24

2.2 Thực trạng năng lực lảnh đạo của ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của 28
thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An
Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng 54
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã kiến tường, tỉnh Long An
trong giai đoạn hiện nay
3.1. Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có chất lượng về 54
chính trị, tư tưởng và chuyên môn, đáp ứng yều, nhiệm vụ đặt ra
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở ở 63


6. CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

7. CBCC:

Cán bộ chủ chốt

8. CCB:

Cựu chiến binh

9. ĐTNCSHCM:

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

10. HĐND:

Hội đồng nhân dân

11. HTCT:

Hệ thống chính trị

12. HLHPNVN:

Hội liện hiệp phụ nữ Việt Nam

13. MTTQ:

dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng
cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động
mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của HTCT ở cơ sở xã, phường, thị
trấn đã xác định: xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một
trong ba vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung giải quyết, trong đó yêu cầu xây
dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với
dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội
ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính
sách đối với cán bộ cơ sở.


7
Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ ở xã nói chung đã có bước phát
triển về chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn bộc lộ những yếu kém, bất cập về
kiến thức, năng lực, trình độ trước những yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới. Vì
vậy, một số cán bộ gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí va vấp, vi phạm trong thực thi
nhiệm vụ. Bên cạnh đó, trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, một bộ phận
CBCC cấp xã có dấu hiệu suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, vi phạm dân chủ, tham nhũng, lãng phí... bị kỷ luật. Điều đó đã làm ảnh
hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, giảm sút
lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết phải đổi mới,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC
cấp xã.
Thị xã Kiến Tường là một Thị xã nằm về phía Tây bắc của Tỉnh Long An,
khu vực trung tâm vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh. Là Thị Xã có truyền thống
cách mạng, có nền kinh tế phát triển. Trong tình hình hiện nay đã đặt ra hàng loạt
các nhiệm vụ nặng nề, phức tạp về xây dựng và quản lý qui hoạch, quản lý đất

chốt cấp cơ sở ở Thanh Hóa hiện nay”, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị,
2004; Phan Thị Thúy Vân: "Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố
Cần Thơ hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị,
2005... Ngoài ra, còn nhiều bài báo của nhiều nhà nghiên cứu đăng trên các báo,
tạp chí khoa học về vấn đề cán bộ và nâng cao chất lượng cán bộ trong hệ thống
chính trị.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về đội ngũ
CBCC của HTCT cấp xã, phường ở Thị xã Kiến Tường. Vì vậy, chúng tôi tập
trung nghiên cứu đề tài này trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình đã liệt
kê, nhằm trước hết hệ thống những kiến thức đã học, mặt khác góp phần đáp ứng
đòi hỏi thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và phát triển thị xã Kiến Tường trong
giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực lãnh đạo cho đội ngũ CBCC
cấp cơ sở, từ đó, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm góp phần nâng


9
cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở Thị xã Kiến Tường, tỉnh
Long An, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về năng lực lãnh đạo của đội ngũ CBCC cấp cơ sở
ở Thị xã Kiến Tường.
- Khảo sát, điều tra về thực trạng năng lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý của
đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở Thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở Thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
Chương 2. Thực trạng năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở
Thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An
Chương 3. Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở thị xã kiến Tường, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện
nay


11
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP CỞ SỞ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Cán bộ
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì khẳng định
rằng cán bộ: Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước; người giữ
chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước. Còn Luật Cán bộ, công chức đề cặp: Cán bộ, công chức là công
dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách.
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để
chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn
thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công.
Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu chung lại, có hai cách
hiểu cơ bản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệp
nhà nước và các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương và cơ sở.

Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Bí thư Đoàn Thanh niên; Chủ
tịch Hội Nông dân.
1.1.3. Cán bộ chủ chốt cấp xã
Chính quyền cấp xã (hay cấp cơ sở) là cấp cuối cùng trong hệ thống hành
chính. Là bộ máy lãnh đạo quản lý gần dân nhất, sát dân nhất, HTCT cấp xã là
nền tảng của HTCT, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước.
Từ khái niệm CBCC có thể hiểu CBCC cấp xã là những người đứng đầu,
giữ vị trí quyết định trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể trong HTCT
cơ sở. Theo đó, đội ngũ CBCC được đề tài tiến hành khảo sát điều tra bao gồm:
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND, Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND, Phó
Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBMTTQVN, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Bí thư
ĐTNCSHCM, Chủ tịch Hội CCB, Chủ tịch Hội nông dân cấp xã.


14
1.2. Vai trò, vị trí và tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ chủ chốt cấp xã
1.2.1. Vai trò của cán bộ chủ chốt
V.I. Lênin khẳng định rằng: Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào
dành được quyền thống trị nếu nó không tạo ra được trong hàng ngũ của mình,
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh
đạo phong trào. Thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, Bác Hồ cho rằng
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém. Người khẳng định: Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của
Đảng, không có đội ngũ cán bộ tốt thì dù có đường lối, chủ trương, chính sách
đúng, sự nghiệp nghiệp cách mạng khó mà thành công.
Người nói: “Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của
chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm
tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Người cho rằng,
vai trò của người cán bộ như “chiếc cầu nối” giữa Đảng, chính phủ, với nhân dân.

chức kỷ luật, trung thực không cơ hội gắn bó mật thiết với nhân dân và được nhân
dân tín nhiệm.
- Thứ năm, Người CBCC phải có kinh nghiệm và nghệ thuật trong hoạt
động chính trị, linh hoạt nhạy bén, giải quyết kịp thời đúng đắn những tình huống
phức tạp xảy ra.
Như vậy, với vai trò vô cùng quan trọng và trách nhiệm nặng nề người
CBCC có những tiêu chuẩn cần phải có. Để luôn xứng đáng là người tiêu biểu,
đại diện và lãnh đạo nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, tin cậy và uỷ thác.
Người cán bộ lãnh đạo phải không ngừng rèn luyện tu dưỡng mọi mặt, thống nhất
giữa đức và tài, thực hiện được mục tiêu to lớn là đưa sự nghiệp cách mạng đến
thắng lợi cuối cùng.
Trên cơ sở những quan điểm chung, CBCC cấp cơ sở thể hiện những đặc
trưng cơ bản sau:
- Là người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo,
điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên
về nhiệm vụ được phân công.


16
- Là người có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương chính sách và sự lãnh
đạo từ cấp trên.
- Là người giữ vị trí quan trọng trong việc cụ thể hoá đường lối, chính sách
của Đảng, chính quyền cấp trên vào điều kiện ở cơ sở, chủ trì việc hoạch định
chiến lược mục tiêu, phương hướng, đề ra chủ trương, chính sách động viên, tổ
chức nhân dân thực hiện những nhiệm vụ phát triển KT- XH ổn định đời sống
nhân dân trên địa bàn xã.
- Có thẩm quyền giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, an
ninh quốc phòng trong phạm vi toàn xã, có khả năng tổ chức công việc và là trung
tâm đoàn kết của tổ chức.
Như vậy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu quan

Người cán bộ lãnh đạo nói chung, CBCC nói riêng dù ở cấp nào cũng phải
có năng lực nhất định. Trong đó, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực
tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau,
không tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển. Không có năng lực tư duy lý
luận thì không có khả năng khái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn linh hoạt
các qui luật khách quan. Ngược lại không có năng lực thực tiễn thì sa vào bệnh
giáo điều, chủ quan duy ý chí, quan liêu, mệnh lệnh xa rời thực tiễn, thoát ly cuộc
sống đầy sôi động đang cuộn chảy.
Cấp xã là cấp trực tiếp, cấp cuối cùng triển khai, tổ chức, vận động nhân
dân thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
đòi hỏi đội ngũ CBCC của HTCT phải có năng lực toàn diện, nhất định trên nhiều
lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp xã còn phải có năng lực sáng tạo, tính quyết đoán và khả năng
làm việc với con người.
Từ những phân tích như trên có thể hiểu, năng lực CBCC cấp cơ sở là tổng
hợp khả năng lãnh đạo, quản lý điều hành hoạt động với chất lượng và hiệu quả
cao.
1.3.2. Những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã
1.3.2.1. Năng lực tư duy lý luận


18
Là tổng thể tri thức trí tuệ, phương pháp luận của chủ thể đáp ứng yêu cầu
phát triển, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn về những vấn đề thực tiễn ở cấp độ lý
luận, giúp cho CBCC cơ sở có những phản ứng sắc bén, khả năng vận dụng sáng
tạo linh hoạt lý luận vào thực tiễn nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động lãnh đạo,
quản lý cơ sở. Nó được biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất, đó là khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, khả năng phát hiện những

của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng… ở cấp xã
một cách nhanh chóng và có hiệu quả cụ thể, thiết thực. Công tác lãnh đạo quản
lý là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo quản lý và khách thể bị lãnh
đạo, quản lý. Mối quan hệ này được phản ánh qua thông tin hai chiều giữa chủ
thể và khách thể. Thiếu thông tin hoặc xử lý thông tin không kịp thời, chính xác
người lãnh đạo quản lý dễ rơi vào tình trạng quan liêu, độc đoán, chuyên quyền
xa rời thực tiễn.
Đội ngũ CBCC cấp xã gắn liền với cơ sở, họ vừa phải tổ chức thực hiện
các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, vừa phải bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình
cơ sở để triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch đúng đắn phù hợp với thực tiễn
cơ sở. Vì vậy, thu thập xử lý thông tin đầy đủ trước hết phải nắm vững chủ
truơng, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ thị Nghị quyết của cấp trên. Đồng
thời phải xây dựng phương pháp làm việc khách quan, khoa học hình thành
mạng lưới cung cấp thông tin xác thực từ cơ sở kết hợp với việc đi sâu, đi sát cơ
sở nắm vững những diễn biến hoạt động KT- XH, an ninh-quốc phòng…từ nhân
dân. Sau khi có đầy đủ thông tin người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã lại phải
có khả năng tổng hợp, khái quát, phân tích để rút được những đặc điểm nguyên
nhân đề ra được những giải pháp, quyết định đúng đắn giải quyết có hiệu quả
những nhiệm vụ đặt ra.
Hai là, khả năng tổ chức bộ máy, phối hợp các lực lượng, các bộ phận, cá
nhân thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở cấp xã. CBCC ở cấp xã phải có tư duy tổ chức
phối hợp các bộ phận trên cơ sở phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu của đội
ngũ cán bộ dưới quyền để bố trí phù hợp với năng lực, sở trường. Phải là trung


20
tâm đoàn kết, thu hút cán bộ cấp dưới và nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp
nhằm thực hiện những nhiệm vụ đang đặt ra.
Ba là, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát để duy trì, điều chỉnh việc thực
hiện các quyết định quản lý. Phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để giải

rè, đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm. Trên cơ sở nắm vững cơ sở khoa học của vấn
đề, nắm vững phương pháp luận trong giải quyết vấn đề, tính quyết đoán tăng
thêm hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo được niềm tin cho người thực hiện, bảo đảm
sự thống nhất, nhất quán trong việc ra quyết định lãnh đạo, chỉ đạo. Nó là sản
phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, tư duy sáng tạo, sự thận trọng và niềm
tin khoa học. Tính quyết đoán khác hẳn với bệnh hách dịch, cửa quyền, quan liêu,
mệnh lệnh, liều lĩnh và phiêu lưu. Tính quyết đoán thể hiện trước hết ở khả năng
phán đoán chính xác tình hình, đưa ra được quyết định chỉ đạo ngay lập tức, chính
xác trong những tình huống bất ngờ mà không đòi hỏi thời gian chờ đợi để phân
tích dự kiện hoặc chưa có đủ dự kiện cần thiết để phân tích. Quyết định này có
được do sự nhạy cảm của trực giác, khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp
nhanh nhạy trên cơ sở tri thức phong phú đã được tích lũy. Cấp xã là nơi diễn ra
mọi hoạt động của đời sống xã hội, nơi tổ chức và thực thi đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước, nơi hàng ngày, hàng giờ CBCC cấp cơ sở gắn bó, gần gủi
mật thiết với nhân dân. Vì vậy, những vấn đề xảy ra cũng hết sức phong phú,
phức tạp, nhạy cảm đòi hỏi người CBCC cấp cơ sở phải giải quyết kịp thời, đúng
đắn những vấn đề thực tiễn đặt ra. Nếu không giải quyết kịp thời sẽ không đạt
được hiệu quả công tác lãnh đạo quản lý; mất thời cơ, lúng túng, bị động, công
việc dồn ép, làm chậm, phát triển KT- XH, kìm hãm, cản trở… Nếu quyết định
sai, võ đoán, chậm trễ sẽ gây mất lòng tin, có thể là ngòi nổ bùng phát xung đột
hoặc tăng thêm bùng phát xung đột gây mất ổn định trật tự xã hội. Nếu không
quyết đoán, trông chờ ỷ lại cấp trên, dựa dẫm vào tập thể thì hiệu quả công tác
kém. Vì thế người CBCC cấp cơ sở phải không ngừng học tập, rèn luyện để có tri
thức nhận biết được sự vận động của thực tiễn, hiểu và nắm vững công việc mình
phụ trách, có phương pháp luận khoa học, rèn luyện tính quyết đoán để có khả
năng ra quyết định một cách dứt khoát và dám chịu trách nhiệm về quyết định của
mình.


22


23
CBCC cấp cơ sở gồm tổng thể chất lượng các yếu tố hợp thành. Nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC cấp cơ sở là yêu cầu khách quan, là vấn đề cấp thiết hiện
nay. Đó là việc thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp về tư tưởng, tổ chức
và chính sách của các chủ thể, trực tiếp là thị ủy và Đảng ủy các xã, phường nhằm
nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo của mỗi CBCC, tạo ra chuyển biến chất
lượng cả đội ngũ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý,
điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cấp xã ở thị xã Kiến Tường.


24
Chương 2
THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
2.1. Khái quát đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội thị xã Kiến Tường
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý:
Kiến Tường là thị xã thuộc vùng Đồng Tháp Mười, nằm ở phía Tây bắc của
tỉnh Long An, có tọa độ địa lý 18o02’18” đến 18o20’51” vĩ độ bắc và từ 105o51’17” đến
106o09’13” kinh độ đông. Phía đông giáp huyện Mộc Hóa, phía bắc giáp huyện
Kôngpongrồ, tỉnh Vrâyriêng (Vương quốc Campuchia), phía tây giáp huyện Tân
Hưng, phía nam giáp huyện Tân Thạnh.
Toàn thị xã có 08 đơn vị hành chính cấp xã với tổng diện tích tự nhiên
20.428.9,20hecta, tổng dân số 42.952 người với cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư
nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gắn với thương mại - du lịch. Những
năm gần đây nền kinh tế Kiến Tường có bước phát triển vượt bậc, quốc phòng
được củng cố, an ninh chính trị được giữ vững.
Thị xã Kiến Tường thuộc tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ
trung bình hàng năm là 27,70C; nhiệt độ có lúc lên đến 29,40c (tháng 4), thấp nhất

0,15%, Trung cấp có 83 người, chiếm tỷ lệ 0,72%, lực lượng này đang hoạt động
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống KT- XH, góp phần to lớn vào sự nghiệp
CNH- HĐH quê hương, đất nước [nguồn: tư liệu lưu trữ tại VP UBND Thị xã
Kiến Tường, tháng 2/2015].
2.1.2. Thành quả về Kinh tế - xã hội.
2.1.2.1. Về kinh tế:
Những năm qua, KT - XH của các xã, phường trên địa bàn thị xã có bước
tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Tốc độ tăng trưởng
bình quân những năm gần đây đạt cao, riêng năm 2012 đạt 13,5%. Cơ cấu kinh tế
có sự chuyển biến tích cực.
a, Sản xuất nông- lâm - ngư nghiệp:
Năm 2014, tổng giá trị sản xuất ước đạt 1.176,0 tỷ đồng, tăng 5% so với
năm 2013. Trong đó: trồng trọt 585 tỷ đồng, chăn nuôi 480 tỷ đồng, lâm nghiệp


Trích đoạn Thành quả về Kinh tế xã hội. Những đòi hỏi khách quan của việc nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấp xã ở Thị xã Kiến Tường Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nộ Vận dụng và thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở, trong đó có CBCC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status