ĐỀ TÀI
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHẢI
Người viết: Thế Thị Thùy Dương
Hồ Thị Trà Thương
Page19
Tổ Ngữ văn trường THPT chuyên Lê Quý Đôn Quảng Trị
1
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”.
(Nguyễn Minh Châu). Bởi vậy, từ bao giờ cho đến bây giờ, dù viết đề đề tài, hướng
đến chủ đề nào, phục vụ đối tượng nào đi chăng nữa thì trung tâm của trang viết, chủ
đích của người viết vẫn chính là con người. Nhà văn, bên cạnh việc thể hiện quan
niệm về hiện thực đời sống luôn nhấn mạnh, khắc đậm quan niệm nghệ thuật về con
người.
Cuộc sống vô thường, vạn vật biến chuyển, xã hội đổi thay. Con người luôn vận
động theo các chiều kích của vũ trụ. Văn học nghệ thuật gắn kết chặt chẽ với con
người, cuộc sống. Bởi vậy, sự phản ánh về con người, quan niệm nghệ thuật về con
người cũng vận động theo thời gian, không gian. Đi sâu khám phá điều này, người
nghiên cứu có thể nhận ra những mảng màu phong phú trong bức tranh về nhân tâm,
1.1.
Khái niệm
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng
khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói
riêng và thời đại văn học nói chung. Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: "Quan niệm
nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm
trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của
mình” [8, 15]. Như vậy, thông qua quan điểm nghệ thuật về con người, nhà văn thể
hiện rõ tư tưởng của mình về con người nói riêng và về cuộc sống nói chung. Đồng
thời, đây cũng là một kênh tín hiệu quan trọng để người đọc có thể nắm bắt được
“tâm” và “tầm” của người cầm bút. Cũng bàn về vấn đề này, các soạn giả cuốn Từ
điển Thuật ngữ văn học cho rằng quan niệm nghệ thuật về con người “là hình thức
bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ
thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm
thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.” [2, 275].
Cách định nghĩa này mang tính thuật học, trừu tượng hơn nhưng vẫn nhấn mạnh quan
niệm nghệ thuật về con người có liên quan mật thiết đến tư tưởng, phong cách nghệ
thuật của nhà văn. Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm
trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề. Chúng ta có thể hiểu quan niệm nghệ
thuật về con người một cách khái quát như sau: Quan niệm nghệ thuật về con người
được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của
nhà văn. Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan
sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối
tượng.
Cơ sở lịch sử xã hội và văn hóa của quan niệm nghệ thuật con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận, thấu hiểu và miêu tả
con người trong văn học. Nhưng các nguyên tắc đó có cơ sở sâu xa trong thực tế lịch
quan niệm”.[8, 120] Vấn đề then chốt trong quá trình vận động, đổi mới văn học chính
là đổi mới quan niệm, mà nhất là quan niệm về con người. Nó chính là cơ sở, nhân
tố chính yếu thúc đẩy sự vận động của nghệ thuật, thay đổi bản chất nội tại của hình
tượng nghệ thuật.
Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều
sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân bản của
trang viết. Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư
tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về
con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu
của họ.
4
Page19
Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người còn làm tái sinh những vấn đề đã
cũ mòn, làm cho văn học thay đổi căn bản. Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các
đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến. Vẫn là con người đã biết,
nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới bỗng trở nên
khác biệt, cho người đọc thêm nhiều suy tưởng.
Bởi những ý nghĩa quan trọng nêu trên, việc tập trung nghiên cứu, khám phá quan
niệm văn học trong các thời kì, giai đoạn văn học, đặc trưng quan niệm của từng nhà
văn trở thành một trong những vấn đề cần thiết hơn bao giờ hết.
2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học giai đoạn từ sau 1945
2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 45- 75
Từ năm 1945 đến năm 1975, phát triển trong điều kiện chiến tranh, văn học nhìn
con người bằng cái nhìn lý tưởng, “lấy lịch sử làm điểm quy chiếu con người”. Con
người xuất hiện trong giai đoạn văn học này chủ yếu là con người cộng đồng, con
2.2.
tiếng nói tự nhận thức về bản thân. Trong tác phẩm Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành (Nguyễn Minh Châu), nhân vật Quỳ nghĩ về những năm tháng ở Trường Sơn, về
người lính trong ý nghĩ của chị lúc đó: “Tôi thật ngu với những người đàn ông đáng
quý nhất trong số những người đáng quý ấy, tôi đã không coi họ là những người đang
sống giữa cuộc đời, mà lại đòi hỏi nơi họ một thánh nhân. Tôi đã tìm cái tuyệt đối
không bao giờ có” [2, 152]. Hiểu những giá trị có được của chính bản thân cũng có
nghĩa là mỗi người đang thực hiện hành động tự giải phóng. Từ những chiêm nghiêm,
mỗi người hiểu thêm về bản thân mình, về người thân, về nhân dân: “Hoá ra cuộc
sống từ bao đời là như thế, con người là một sự kết tinh của những tinh hoa. Hóa ra
thời nào cũng có những con người như anh ấy, tập trung trí tuệ và tài năng trác tuyệt
của nhân và mang trong lòng tất cả những khát vọng cháy bỏng của nhân dân”.
Những vấn đề lớn lao về lịch sử, dân tộc, đất nước, con người được nhìn nhận trong
tâm thế của từng cá nhân. Tội ác chiến tranh được nhìn nhận qua thân phận đầy đớn
đau của những người phụ nữ (Bến không chồng – Dương Hướng), cuộc chiến được
nhìn nhận với nhiều góc nhìn rộng mở (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh) …
Xem con người là một cá thể độc lập, nhà văn trao cho nhân vật những sinh mạng
riêng, để nhân vật tự sống, tự phát triển, tự bộc lộ tính cách, tâm tư, tình cảm. Nhà văn
trở thành người bạn đồng hành quan sát, ghi chép tiến trình bộc lộ, phát triển của nhân
vật. Trong quá trình đó, nhà văn nhấn mạnh quá trình dấn thân, tranh đấu với thế giới
và đặc biệt là tranh đấu với chính bản thân mình. Sống với thời gian hai chiều (Vũ Tú
Nam) là sự tự phán xét của lương tâm trước hai chiều thời gian: quá khứ và hiện tại.
Bức tranh của Nguyễn Minh Châu là con người trong sự đối diện với “tòa án lương
tâm” của chính mình.
6
Không ít thành tựu đã thật sự làm chúng ta kinh ngạc. Người ta nói nhiều tới thế giới
tiềm thức, vô thức, siêu thức trong tâm thức của con người. Khám phá bí ẩn của tâm
linh là con đường hữu hiệu giúp nhà văn khám phá được chiều sâu vô tận bí ẩn trong
tâm hồn con người. Con người tâm linh đã hiện diện khá phổ biến trong văn xuôi
đương đại, đặc biệt trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thiên thần sám hối của
Tạ Duy Anh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh… Người đọc cảm thấy ranh giới giữa những cái thực và hư, cái vô hình và hữu
hình trở nên nhạt mờ. Vẻ đẹp ngoại diện của nhân vật có thể mang tính dự báo về thân
phận (Phương – Nỗi buồn chiến tranh), một câu nói của Dũng “ nóng quá, phải tắm
một cái, kẻo chẳng bao giờ được tắm nữa” (Chim én bay) được Quy suy luận là “linh
cảm trước một điều gì”. Nhân vật bị ám ảnh bởi những câu chuyện ma quỷ, hắc ám
7
Page19
Bên cạnh tính chất xã hội, phần tự nhiên của con người cũng là một bình diện
quan trọng. Văn xuôi đổi mới quan tâm nhiều đến con người tự nhiên, khám phá con
người tự nhiên từ nhiều góc độ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc quan tâm đến con
người trong tính toàn vẹn của nó, khẳng định bản năng tự nhiên như một “lực sống”
của con người (theo cách diễn đạt của Freud), khiến con người hiện diện trong văn học
trọn vẹn và sống động hơn. Nhà văn đi đầu trong việc miêu tả bản thể tự nhiên của con
người chính là Nguyễn Huy Thiệp. Ở thập kỉ 80, nhà văn họ Nguyễn đã khiến văn đàn
dậy sóng với những trang viết tự nhiên hơn cả cuộc sống đời thường, khai mở, khám
phá những vấn đề bản thể của con người qua đó nêu lên những tính chất triết lí cô
đọng mà sâu sắc.
(Bến không chồng), cũng có thể mang siêu năng có thể quan sát mọi chuyện từ trong
bụng mẹ (Thiên thần sám hối) … Nhà văn đi sâu vào giấc mơ của nhân vật bởi trong
“giấc mơ con người sống trong thế giới phi lý, huyền ảo không có thật nhưng cũng
Nguyễn Khải, tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải (3 tháng 12, 1930 - 15
tháng 1, 2008) là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà văn trưởng thành
8
Page19
3.1. Nguyễn Khải trong bản lược đồ văn học từ sau 1945
sau cách mạng tháng Tám 1945. Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết,
ký sự, kịch. Trong đó, Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Xung
đột (1959-1962), Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Thời gian của người (1985),
Thượng đế thì cười (2003)...
Là một trong những cây bút xuất sắc trong văn học sau 1945, Nguyễn Khải
luôn thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình. Trong hội nghị thành lập Hội nhà văn
Việt Nam năm 1957, Nguyễn Khải phát biểu: “Tôi quan niệm nghệ thuật đơn giản
như sau, là khoa học thể hiện lòng người, là lịch sử lòng người”. Quan niệm này mang
tính quyết định đến phương hướng tiếp cận hiện thực của nhà văn, lấy trạng thái tâm lí,
thế giới bên trong của con người làm đối tượng khám phá, phản ánh để từ đó làm bật
lên bức tranh đa sắc màu của cuộc sống.
Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của
nhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí
tỉnh táo. Các sáng tác của ông khá phong phú: về nông thôn trong quá trình xây dựng
cuộc sống mới, về bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, về những vấn đề xã
hội–chính trị có tính thời sự và đời sống tư tưởng, tinh thần của con người hiện nay
trước những biến động phức tạp của đời sống. Ông đặc biệt nhấn mạnh, quan tâm đến
thế giới bên trong của con người.
Nguyễn Khải không chỉ đóng góp cho văn học Việt một lối viết đầy tính triết
luận, biện luận sắc sảo, những khám phá độc đáo về những vấn đề muôn thuở mà còn
không ai ngờ tới”.
Đó là một Nông Ký Lâm nhân hậu trong Nguồn vui, luôn hết lòng vì công việc
chung. Trong tâm hồn của Lâm, dường như có rất ít chỗ cho những nỗi niềm riêng. Là
đội trưởng đội sản xuất, choán lấy toàn bộ tâm trí Lâm là những suy tư, kế hoạch hoạt
động cho cái nông trường rộng lớn mà anh phụ trách: “Mùa xuân sẽ trồng ngô, đến
tháng tư là bẻ bắp được, qua mùa nước lũ sang cuối thu thì gieo lạc…”, “mùa gặt thế
là sắp kết thúc, biết bao nhiêu kế hoạch được thảo ra với nhiều nỗi lo lắng, băn khoăn
đã trở thành công việc của hôm qua. Ngày mai đồng chí đội phó sẽ về mang theo
những kế hoạch mới, cùng với niềm vui và nỗi lo mới...”.
Đó còn là Súy, người tổ trưởng tổ kiểm tra đường dây của đại đội thông tin.
Không giống như Huân hay Lâm, công việc của những người như Súy đòi hỏi sự hi
sinh thầm lặng. Anh và đồng đội của mình phải đặt chân đến những vùng rừng núi
hoang sơ, những miền đất hiểm trở. Họ phải làm việc trong những môi trường khắc
nghiệt nhất, thiếu thốn nhất. Thế nhưng, những vất vả đó chẳng hề cản được bước
10
Page19
Đó là Huân (Mùa lạc) – người chiến sĩ từng đi qua bao gian khổ của chiến tranh,
nay trở về góp sức mình xây dựng, sản xuất. Huân lâng lâng vui sướng khi nhìn thấy
“màu xanh thẫm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi của
ớt chín lấn dần lên các màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang”. Trong lao động,
những vết thương trong tâm hồn con người từng cận kề cái chết, từng bị hành hạ bởi
những mất mát, gian khổ của chiến tranh ấy dần lành lặn. Giờ đây, ở mảnh đất Hồng
Cúm chiến trường xưa, anh tìm thấy niềm hạnh phúc khi thấy đôi tay mình đã góp
công đưa “cuộc sống vĩ đại trở lại”, thấy “sức vóc của mình có thể thay đổi cuộc sống
nhiều đến thế”. Mỗi chiều đi làm về, ngâm mình xuống dòng Nậm Rốm, anh an lòng
bởi giờ đây, “những mũi gai thép đâm, những vệt nứa cứa, những chấm đen ở lỗ chân
lông của bệnh sốt rét rừng, màu xanh của thiếu ăn và bệnh tật đều đã được những lớp
bày tỏ sự đồng tình, ngưỡng mộ của mình với nhân dân lao động – nhân vật đẹp nhất
trong những trang văn của ông.
Con người trong hành trình vận động từ bóng tối u mê đến ánh sáng nhận
Cùng nhóm những tác phẩm viết trong niềm hưng phấn cao độ với thành quả của
Cách mạng, có những truyện ngắn thể hiện hình ảnh con người trong hành trình từ
bóng tối u mê đến ánh sáng nhận thức. Một trong những sáng tác đầu tiên của khuynh
11
Page19
3.1.2.
thức
hướng này chính là truyện ngắn Một đứa con chết. Bằng cái chết của đứa trẻ sơ sinh
trên chuyến đò sang sông tìm về miền đất Chúa, nhà văn đã đả phá mạnh mẽ niềm tin
ngây thơ của một bộ phận nhân dân vào sự cứu rỗi của tôn giáo, mà cụ thể ở đây là
Thiên Chúa giáo. Sự đối lập giữa cuộc đời đầy đau khổ, mất mát của đôi vợ chồng mất
con, giữa “chiếc thuyền ọp ẹp nhưng đầy người, nước mấp mé cắn mạn” khiến cho
đứa trẻ buột khỏi tay người mẹ rơi xuống nước với “chiếc thuyền cách đấy không xa
cồng kềnh những đòn khiêng, võng, hòm xiểng, và một cha ngồi đằng mũi ném con
mắt thương xót nhìn sang” thật mỉa mai, bi phẫn. Để rồi cuối cùng, nhận thức đến với
người chồng trong đau khổ, muộn màng: “tại anh, vì anh dại dột và ngu đần, vì anh
quá tin ở kẻ khác nên mới bỏ cái hạnh phúc thật ở đời nay để tìm một thứ hạnh phúc
hão huyền nào không có thật.”
Từ Một đứa con chết, Mùa lạc, Đứa con nuôi, và rất nhiều những tác phẩm khác
nữa như Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về, Gia đình lớn…, có thể khẳng định rằng,
trung tâm chú ý trong sự tìm tòi, phát hiện của Nguyễn Khải thời kỳ này chính là hình
tràn đầy ánh sáng lạc quan, tin tưởng. Xét một cách khách quan, đó không phải là cách
nhìn của riêng Nguyễn Khải. Đó là âm hưởng của cả một giai đoạn văn học. “ Nhiều
người cùng sống trong cái cảm giác Nguyễn Khải đã sống, tức là cảm giác lãng mạn:
vẻ đẹp tự nhiên ở con người; tổ chức chu đáo; và lòng tin sâu xa ở chiến thắng…
những yếu tố ấy, là có thực và thật dễ làm say lòng người!”. Âm hưởng sử thi và cảm
hứng lãng mạn ngự trị suốt một thời. Tuy nhiên, trong bầu không khí chung đó, ta
cũng không khó nhận diện bản sắc riêng của Nguyễn Khải. Trong không gian của lịch
sử - cộng đồng – tập thể, Nguyễn Khải vẫn phần nào chú ý đến con người trên tư cách
là một cá nhân. Hiện hình trên những trang văn của Nguyễn Khải là những con người
đầy bản sắc riêng biệt. Nhà văn, khi đặt con người trong môi trường tập thể, vẫn rất
chú ý đến những vấn đề cá nhân của họ. Đặc biệt, Nguyễn Khải cũng là một trong
những nhà văn đầu tiên trong số các tác gia cùng thời nêu ra vấn đề giá trị cá nhân,
khẳng định cá nhân trước cộng đồng (như trong Đường trong mây, Ra đảo). Bởi vậy,
có thể nói rằng, trong trang văn của Nguyễn Khải thời kỳ này, có một sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa hiện thực tỉnh táo và lãng mạn sử thi.
3.2. Thời kỳ sau năm 1978 – Con người tư tưởng
Từ sau mốc 1978, sáng tác của Nguyễn Khải có một sự chuyển động đổi mới khá
rõ rệt và ráo riết. Thoát li khỏi bầu không khí sử thi – lãng mạn của những năm kháng
chiến, văn học dần trở lại dòng chủ lưu là hình ảnh con người hiện sinh trong dòng
chảy cuộc đời. Hiện thực bề bộn của đất nước trong những năm bao cấp – đổi mới là
một nguồn tư liệu phong phú cho các nhà văn thả sức tìm tòi, khám phá. Thực tế đời
sống tất yếu đặt ra cho những người cầm bút yêu cầu quyết liệt phải thay đổi cách
nhìn, cách cảm, cách nghĩ. Phản ánh hiện thực là chưa đủ, nhà văn cần nghiền ngẫm
hiện thực. Đó là một quá trình gian khổ dấn thân vào con đường tìm kiếm, lí giải “con
người trong con người”. Văn học thời kỳ này cho ra đời nhiều gương mặt đa hình, đa
dạng, phức tạp và trải đời hơn.
Trong những truyện được Nguyễn Khải viết sau năm 1978 như Một người Hà Nội,
Thượng đế thì cười, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người…, ta thường thấy xuất
hiện những nhân vật tư tưởng. Đó là kiểu nhân dù ở lứa tuổi nào, thành phần nào, nghề
cảnh mới. Nhân vật tôi đã không ít lần tỏ ra nghi ngờ, bất đồng với bà Hiền. Nhưng
rồi, mỗi lần như thế, “tôi” đều nhanh chóng vỡ lẽ, nhận ra những sai lầm trong cách
nhìn nhận, đánh giá của mình. Toàn bộ tác phẩm là một hành trình suy tư – nhận thức
của nhân vật tôi để rồi từ đó, đi đến chiêm nghiệm về sự tồn vong của những nét đẹp
văn hóa truyền thống trong cơn phong ba lịch sử. Vẻ đẹp và phẩm chất của nhân vật bà
Hiền chính là hiện thân của vẻ đẹp cổ kính, thanh lịch, tao nhã của người Hà Nội. Tác
phẩm nhắn nhủ đến người đọc một bài học sâu sắc: giữa cuộc biến đổi của lịch sử, đôi
lúc con người cần tìm về với quá khứ, với cội nguồn để hiểu, nâng niu và trân trọng
14
Page19
Hiện thực phong phú những năm đổi mới khiến cho con người ta không thể không
băn khoăn về lẽ đúng sai, hay dở, không đặt ra những câu hỏi về cách sống, về cách
con người đối diện, ứng xử với cuộc đời. Trong một số tác phẩm, Nguyễn Khải thường
đặt nhân vật của mình vào những tình huống mang tính nhận thức, lựa chọn, để từ đó
khái quát lên những triết lí sâu xa.
giá trị của dân tộc. Nguyễn Khải đã về với cội nguồn ấy, đặt nó trong thế đối sánh với
sự xô bồ của nếp sống hiện đại, của con người hiện đại để rồi khẳng định nét đẹp xưa
vĩnh cửu, thanh lịch, quý giá “vượt lên mọi suy biến của thời gian, mọi nông nổi của
thói thời thượng”.
Tiếp tục đặt nhân vật vào trong những thử thách của cuộc sống hiện đại, Bảy đô
một đêm, tác phẩm với dung lượng rất ngắn là câu chuyện về sự xung đột giữa đam mê
vật chất và niềm vui tinh thần trong tâm hồn con người. Sau 1986, việc trao đổi, buôn
bán theo cơ chế thị trường đã mở ra một vận hội mới cho nền kinh tế đất nước. Thế
nhưng nó cũng cuốn theo một lối sống chạy theo vật chất, tiền bạc mà lãng quên đi
những hạnh phúc tinh thần. Nhân vật “anh” trong Bảy đô một đêm là con người như
vậy. Gạt đi nỗi lo lắng của người cha cùng những suy tư của vợ, anh rời xa mái nhà
cả một thế hệ, giai cấp, tầng lớp mà mình đại diện. Có bao nhiêu con người là có bấy
nhiêu luồng tư tưởng. Những luồng tư tưởng ấy gặp gỡ, xung đột, đối thoại với nhau.
Trong câu chuyện của mấy tiếng đồng hồ trước giao thừa hiện lên cả một bức tranh
lịch sử của đất nước suốt mấy chục năm biến động. “Tôi” trong câu chuyện, vừa là
nhân vật, vừa đóng vai trò là nhân chứng, là nhà bình luận. Tôi nói rất ít nhưng lại
nhận xét nhiều, suy ngẫm nhiều – những suy ngẫm mang tính chất lí giải những biến
động lịch sử và số phận con người trong cơn phong ba lịch sử ấy, tìm kiếm câu trả lời
cho tương lai của cả một lớp người.
So với Gặp gỡ cuối năm, trong Thượng đế thì cười, tính chất suy tưởng thể hiện có
phần còn rõ rệt, đậm đặc hơn nữa. Nhân vật “hắn” của câu chuyện vừa là hiện thân của
chính nhà văn nhưng vừa là một nhân vật mang tính hư cấu. Có lúc nó nhập thân hẳn
vào một hình tượng tác giả Nguyễn Khải, là “người của nghề”, trong cuộc hành trình
tìm lại mình nhằm đi đến một sự giác ngộ mới về nghệ thuật. Những khi ấy, cái tôi –
Nguyễn Khải thả sức tâm sự, giãi bày nỗi niềm buồn vui trải nghiệm trong đời, nhất là
đời viết. Khi chua chát, nghiệt ngã, khi hãnh diện, sảng khoải, “hắn” không ngần ngại
bóc trần cái con người nghệ sĩ của mình ra, mang lên bàn cân đánh giá, phán xét. Với
Thượng đế thì cười, Nguyễn Khải đã cho thấy tài ba của một cây bút hướng nội, đào
sâu vào bản thân để thấy mình, hiểu mình, và thông qua đó cũng là thấy đời, hiểu đời.
Trước đổi mới, quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải chủ yếu tập
trung vào “con người hướng ngoại”, con người trong quá trình khám phá, xây dựng
thế giới còn sau đổi mới, ông lại tập trung thể hiện “con người hướng nội”, con người
trong hành trình đào sâu nghiền ngẫm bản ngã, khái quát các vấn đề thiết thân, vấn đề
nhân sinh.
Page19
Trong cuộc trao đổi ngắn với nhà báo Vương Lập, nhà văn Nguyễn Khải khẳng
định: “Muốn giữ được vai trò nhà văn, thì tự mình phải tái sinh thôi, và tôi đã làm
được”. Phải chăng đó là cội rễ sâu xa về quá trình lao động miệt mài, sự bắt nhịp
nhanh nhạy với những đổi thay cuộc sống, sự vận động không ngừng nghỉ của nhà văn
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt
Nam 1975 – 2000, Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Khải, Nhìn lại trang viết của mình –Việt Nam nửa thế kỷ văn học, Nxb
Văn học.
5. Nguyễn Khải (2013), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học.
6. Vương Trí Nhàn (1996), Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học cách
mạng từ sau 1945 – Tuyển tập Nguyễn Khải, Tập 1, Nxb văn học.
7. Nguyễn Thị Kim Tiến (2012), Con người tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kì đổi mới, Tạp chí văn học, số 1-2012
Page19
8. Trần Đình Sử (1993), Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học, Nxb Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh.
19