HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
HỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIII
CHUYÊN ĐỀ:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
MÔN: NGỮ VĂN
TÁC GIẢ: LÝ THỊ PHƯƠNG THẢO
TỔ NGỮ VĂN TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ KHIẾT
TỈNH QUẢNG NGÃI
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Phần làm văn trong bộ môn Ngữ văn cấp THPT hiện nay chia ra hai loại:
nghị luận văn học và nghị luận xã hội, việc phân loại này dựa theo tiêu chí nội dung và
đề tài. Riêng nghị luận xã hội chia ra thành ba dạng nhỏ: nghị luận về một tư tưởng đạo
lí, nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học. Văn nghị luận nói chung nghị luận xã hội nói riêng sẽ giúp học sinh rèn
luyện kĩ năng lập luận khi hành văn. Kĩ năng lập luận là kĩ năng cơ bản nhất khi viết
văn nghị luận, nếu có được kĩ năng lập luận tốt, học sinh sẽ viết được một bài văn nghị
luận có sức thuyết phục. Như vậy, bài văn nghị luận hướng đến một mục đích là rèn
luyện kĩ năng lập luận cho học sinh, trong đó có nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong
tác phẩm văn học.
1.2. Đối tượng của văn học là đời sống, vì vậy bất cứ một tác phẩm văn học nào
ít hoặc nhiều cũng đều có chất liệu từ hiện thực của đời sống, đó có thể là hiện thực của
tâm hồn, của đời sống tình cảm hay rộng hơn là hiện thực cuộc sống. Do đó, đứng trước
về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học” với mong muốn giúp phần nào cho thầy cô
giáo và các em học sinh rèn luyện tư duy logic trong nhận thức, khả năng sáng tạo trong
lập luận để viết tốt bài văn nghị luận về vấn đề xã hội dặt ra trong tác phẩm văn học,
đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học đổi mới giáo dục nước nhà.
Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông hiện nay khá đa dạng về thể loại,
trong giới hạn thời gian của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung rèn luyện cho học sinh kỹ
năng nghị luận vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn xuôi và tác phẩm trữ tình
II. Mục đích của đề tài
Qua đề tài này, chúng tôi muốn giúp học sinh nắm vững kiểu bài nghị luận về
vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đồng thời hướng dẫn học sinh cách xử lí
vấn đề đối với kiểu bài này. Với mục đích đó, chuyên đề này có ý nghĩa giúp việc học
tập của học sinh chuyên văn đạt kết quả tốt nhất.
Đề xuất được cách làm bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học vừa có cơ sở khoa học, vừa có tính khả thi phù hợp với tình hình thực tế dạy học
các lớp chuyên văn ở trường chuyên hiện nay.
Xác định được các phương pháp dạy và học viết văn nghị luận xã hội nói chung
nghị luận xã hội về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học nói riêng theo hướng
phát huy tính tích cực của người học.
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X về đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông có nêu ra một vấn đề cấp thiết và quan trọng là: “Việc
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt về mục tiêu, yêu cầu về nội dung
phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong giáo dục, khắc phục những
mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành,
giáo viên hàng năm đã giúp các giáo viên Ngữ Văn nắm vững tinh thần đổi mới của
chương trình - SGK và thực hiện dạy tốt.
- Bên cạnh đó, một thực tế không thể phủ nhận là sách giáo khoa, sách giáo viên
được in ấn kịp thời, đa dạng; các phương tiện thông tin truyền thông: báo, mạng
internet … rộng khắp cũng đã giúp ích rất nhiều cho cả giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy - học Ngữ Văn.
- Học sinh chủ động, thích thú tìm hiểu, khám phá những kiến thức mới trong
chương trình nên tiết học Văn trở nên sôi nổi, hào hứng hơn; đồng thời giúp các em
khắc sâu được kiến thức cơ bản của bài học. Không chỉ vậy, nhiều em rất có ý thức tìm
hiểu, suy nghĩ, bàn luận ... về những vấn đề xã hội được đặt ra từ các đề văn nghị luận
xã hội.
- Hiện nay, với sự phát triển của đời sống xã hội, nghị luận xã hội ngày
càng có vai trò thiết thực trong cuộc sống. Cái hay của văn nghị luận xã
hội, trước hết là học sinh không cần thuộc làu làu những tri thức đọc hiểu mà
vẫn có thể làm bài được. Các em có thể tự do trình bày những suy nghĩ, quan
điểm của mình một cách khách quan nhất. Mặt khác, các em cũng có thể thể hiện
sự hiểu biết phong phú của mình cho bài viết sinh động hơn. Có thể nói, dạng đề
văn nghị luận xã hội hiện nay thực chất là một dạng đề "m ở", vì thế nó rất phù
hợp cho mọi đối tượng học sinh, đặc biệt là các bạn học ban khoa học tự nhiên
vốn "sợ" và lười học thuộc văn.
2. Khó khăn:
Như trên đã nói: sách giáo khoa từ cấp Trung học cơ sở lên Trung học phổ thông
có sự chuyển tiếp, liền mạch, thống nhất trong hệ thống kiến thức môn học. Thực tế dạy
- học cũng cho thấy: ở bậc Trung học cơ sở, học sinh cũng đã được làm quen với kiểu
bài nghị luận xã hội. Như vậy, những vấn đề đặt ra trong kiểu bài nghị luận xã hội có vị
trí và tầm quan trọng nhất định trong việc mang lại tri thức và góp phần hoàn thiện
nhân cách cho học sinh. Nhưng thực tế lại cho thấy kết quả bài làm của học sinh "có
vấn đề" về mặt chất lượng. Có khá nhiều nguyên nhân, nhưng tập trung chủ yếu ở mấy
1. Khái luận chung về kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm
văn học
1.1. Cách hiểu và phân biệt loại đề này với đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị
luận về một hiện tượng xã hội.
- Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là nghị luận về một vấn đề
xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó được đặt ra trong tác phẩm văn học.
- Vấn đề xã hội đặt ra cho dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm có thể lấy từ hai nguồn:
+ Tác phẩm văn học đã học trong chương trình
+ Một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn bất kì mà học sinh chưa
được học.
1.2. Một số lưu ý của bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị luận xã
hội, không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh tình trạng làm lạc đề sang nghị
luận văn học.
- Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện
tượng đời sống.
- Dạng đề bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đòi hỏi học sinh
phải:
+ Nêu và phân tích được ý nghĩa của vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
nào đó
Ví dụ: - Từ tác phẩm “Số phận con người” của nhà văn Sô-lô-khốp, anh (chị) trình bày
suy nghĩ của mình về nghị lực của con người trong cuộc sống.
- Qua chi tiết A Sử trói Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài và
chi tiết lão đàn ông đánh vợ trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, anh (chị) biết
gì về nạn bạo hành gia đình hiện nay.
+ Học sinh phải trình bày được suy nghĩ của mình về các vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học
của Hemingway, anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến: “Con người có thể bị huỷ diệt nhưng
không thể bị đánh bại”.
- Từ một câu nói nào đó của chính nhà văn trong tác phẩm suy ngẫm về vấn đề
xã hội được đặt ra
Ví dụ: + Bình luận câu nói sau của nhà văn Lỗ Tấn: “Trên mặt đất vốn làm gì có
đường. Người ta đi mãi thì thành đương thôi”
- Từ lời nói của nhân vật nào đó trong tác phẩm suy ngẫm về vấn đề xã hội được
đặt ra trong đó.
- Từ một hoặc nhiều đoạn trích trong tác phẩm văn học suy nghĩ về một vấn đề
xã hội nào đó
Ví dụ: “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần” (Tố Hữu – Dậy mà đi)
Phát biểu suy nghĩ của anh chị về câu nói trên.
- Từ 1 văn bản, 1 trích đoạn tác phẩm văn học bất kì (có thể học sinh chưa được
học) suy nghĩ về vấn đề xã hội được đặt ra.
Ví dụ: Trong tập thơ Những con chim bay lạc, nhà Ra-bin-đra-nat Tago có viết:
“Những con chim mùa hè bay lạc
đến cửa sổ tôi
để hót lên rồi lại bay đi
còn những chiếc lá thu vàng
không lời ca tiếng hát
chỉ run rẩy và thở dài rơi xuống”
Suy nghĩ của anh (chị) về thông điệp nêu trên?
- Từ 1 sự kiện nào đó trong tác phẩm văn học trình bày suy nghĩ về 1 vấn đề xã
hội được đặt ra
- Từ một quan niệm của nhà văn nào đó trong tác phẩm suy ngẫm về vấn đề xã
hội được đặt ra.
Ví dụ: Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm “Phú quý tựa chiêm bao” của
bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
- Xác định vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học cần nghị luận.
- Xác đinh các thao tác nghị luận.
- Xác định phạm vi tư liệu, dẫn chứng phù hợp.
3.2. Kỹ năng xác lập vấn đề nghị luận
3.2.1. Nêu vấn đề cần nghị luận
+ Nêu hoàn cảnh xuất hiện vấn đề có ý nghĩa xã hội, phân tích văn bản ( hoặc nêu vắn
tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa vấn đề
+ Nhấn mạnh, khẳng định ý nghĩa nội dung từ văn bản văn học đó.
+ Từ đó, khái quát chính xác vấn đề xã hội cần nghị luận
+ Nếu đề văn nêu sẵn vấn đề xã hội rút ra từ một tác phẩm, thì người viết chỉ cần phân
tích vấn đề đó.
+ Nếu đề văn chưa cho sẵn vấn đề xã hội, thì người viết cần đọc - hiểu, phân tích văn
bản để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề trước khi vào phần nghị luận vấn đề
xã hội.
3.2.2. Suy nghĩ và bàn luận
+ Giải thích vấn đề, rút ra ý nghĩa của vấn đề xã hội đó.
+ Phân tích - chứng minh:
++ Đối với vấn đề xã hội là vấn đề tư tưởng, đạo lí : Làm rõ các biểu hiện của tư
tưởng, đạo lí ở những phương diện khác nhau trong đời sống và dùng thực tế xã hội để
chứng minh.
++ Đối với vấn đề xã hội là một hiện tượng đời sống: Xác định đó là hiện tượng
tích cực hay tiêu cực, mô tả những biểu hiện của hiện tượng đó, nêu nguyên nhân, đề
xuất những giải pháp khắc phục,…
+ Bàn luận:
++ Đánh giá quan niệm, tư tưởng ấy đúng đắn, sâu sắc như thế nào. Tư tưởng
đó có ý nghĩa như thế nào đối với tâm hồn, nhân cách con người. Đối với hiện tượng xã
hội thì xem xét hiện tượng đó có ảnh hưởng như thế nào đối với cuộc sống con người.
+ Nêu thực trạng của hiện tượng.
+ Nêu những biểu hiện của hiện tượng.
+ Xác định nguyên nhân của thực trạng hiện tượng.
+ Đánh giá, phân tích mặt tốt - xấu, tích cực – tiêu cực, lợi – hại,… của hiện
tượng đời sống.
+ Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã
hội đó.
+ Đề xuất giải pháp.
3.3.3. Kết bài
- Tóm tắt, chốt lại các ý chính, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài
- Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.
- Rút ra bài học.
- Nêu cảm xúc, suy nghĩ và hành động của bản thân về vấn đề cần bàn luận
III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
ĐẶT RA TRONG MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC
1. Yêu cầu chung
- Xác định cho được đây là kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học.
- Về hình thức: Bài viết có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, không
mắc lỗi các loại, chữ viết rõ nét, sạch đẹp.
- Về nội dung: Nắm vững tác phẩm văn học và vấn đề cần nghị luận.
- Về phạm vi tư liệu: Tác phẩm văn học và kiến thức từ thực tế đời sống xã hội cùng
với những trải nghiệm của bản thân.
- Về kĩ năng: Sử dụng linh hạt các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh,
bình luận…
2. Gợi ý cách làm bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong một số thể loại văn học
2.1. Trong tác phẩm văn xuôi
2.1.1. Đặc điểm
tham dự cuộc đua 100m.
Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé.
Cậu cứ vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng
khóc, giảm tốc độ và đứng lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai! Cô
gái bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé.
- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn!
Cô gái nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích.
Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy. Tiếng vỗ tay hoan hô vang lên nhiều
phút liền. Mãi về sau, những người chứng kiến vẫn còn truyền nhau câu chuyện cảm
động này.
Từ câu chuyện trên, anh (chị) hãy trình bày quan niệm của mình về sự chiến
thắng trong cuộc sống.
Đề 7: Trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao viết:
"Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh
chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình".
(Ngữ văn 11 nâng cao, tập 1)
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
2.1.3. Cách làm
2.1.3.1. Gợi ý cách làm đề số 1
- Nêu vấn đề cần nghị luận
- Hiểu ý nghĩa của tình thương:
Tình thương là tình cảm cao quý giữa con người với con người, là sự quan tâm, chăm
sóc, chia sẻ động viên, giúp đỡ người khác lúc khó khăn.
- Suy nghĩ và bàn luận:
+ Tình thương là một tình cảm tốt đẹp nhất ở con người. Tình thương đó có ở phạm vi
gia đình, xã hội và nhân loại.
+ Phải biến tình thương ở khía cạnh tinh thần trở thành hành động cụ thể như giúp đỡ,
cưu mang, chia sẻ khó khăn với những người khổ đau, khốn khó.
+ Nếu con người tin tưởng vào khả năng của bản thân và lòng quyết tâm cao, họ
sẽ vượt qua khó khăn, thử thách.
+ Con người sẽ đạt được ước mơ, lí tưởng khi con người chiến thắng được bản
thân và hoàn cảnh bằng ý chí, nghị lực.
+ Sống chỉ có ước mơ, hoài bão là chưa đủ mà con người cần có ý chí, lòng
quyết tâm vượt qua chông gai, thử thách để đạt ước mơ đó.
+ Chứng minh:
*Từ thực tế đời sống
* Trong học tập, lao động, cuộc sống
* Những con người khuyết tật vượt lên số phận
+ Phê phán: Hiện nay có một bộ phận không nhỏ những con người đang tự
“đánh bại” mình (trong đó có rất nhiều bạn trẻ) bằng một lối sống thiếu ý chí, bạc
nhược, dễ buông xuôi…
- Liên hệ thực tế rút ra bài học cho bản thân
- Để đạt được thành công trong cuộc sống, con người phải có trí tuệ, hiểu biết, tỉnh táo,
nhẫn nại, kiên trì, có niềm tin và nghị lực vượt qua thử thách.
2.1.3.3. Gợi ý cách làm đề số 6
- Nêu vấn đề cần nghị luận
- Hiểu về cách định nghĩa “chiến thắng” từ câu chuyện
“Chiến thắng” là giành được phần thắng (ví dụ chiến thắng trong chiến tranh hoặc chiến
thắng trong một cuộc thi đấu thể thao…).
- Suy nghĩ và bàn luận
Từ câu chuyện “Chiến thắng”, có thể bàn luận xoay quanh những vấn đề sau:
+ Chiến thắng trước hết là vượt lên hoàn cảnh, số phận của bản thân. Những người
tham gia Thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho người khuyết tật) là những người đã chiến
thắng bản thân, họ vượt qua sự mặc cảm và nỗi đau thể chất để đến với Thế vận hội. Như
vậy, chiến thắng trong cuộc sống là chiến thắng sự yếu đuối, tự ti, mặc cảm và đừng bao
giờ đánh mất ước mơ, khát vọng của bản thân.
không chỉ đo bằng cơ bắp mà là phải đo bằng chính tình yêu thương, bằng hành động cao
đẹp trong cuộc sống.
+ Muốn trở thành ‘kẻ mạnh” con người phải luôn khắng định năng lực, nhân cách và
phẩm chất của mình để hoàn thiện mình và xây dựng lòng tin. Sống có bản lĩnh, lập
trường
+ Có niền tin vào lẽ phải, chính nghĩa, dám đấu tranh chống cái ác, cái xấu để bảo vệ cái
thiện, cái đẹp.
+ Đề cao lối sống nhân hậu, cao thượng
- Liên hệ thực tế rút ra bài học cho bản thân
2.2. Trong tác phẩm trữ tình
2.2.1. Đặc điểm
- Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nhưng tác phẩm trữ tình có
cách thể hiện tình cảm riêng: thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ
được trình bày trực tiếp.
- Nhà thơ trữ tình bộc lộ những những nỗi niềm chủ quan, thầm kín nhưng chính vì vậy,
suy tư trữ tình có thể thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người:
sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thủy, lí tưởng, ước mơ, tương lai, hạnh phúc,…
- Suy cho cùng những vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm trữ tình thường là những
tư tưởng, đạo lí ở đời. Vì vậy, cần nắm được đặc trưng này để xác định đúng kiểu dạng
bài nghị luận để có cách làm bài tốt nhất.
2.2.2. Đề tham khảo
Đề 1:
Nhưng lòng ta chẳng bao giờ nuôi khát vọng
Biết bay rồi ta lại muốn bay cao
(Xuân Quỳnh)
Suy nghĩ của anh (chị) về khát vọng được nói tới trong hai câu thơ trên?
thơ Hi Lạp.
Đề 5:
Nhà thơ Xuân Diệu có viết:
“ Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
Ý kiến của em về quan niệm trên.
Đề 6: Quan niệm của Nguyễn Du về đồng tiền trong Truyện Kiều và quan niệm của anh
(chị) về đồng tiền trong cuộc sống hôm nay.
2.2.3. Cách làm
2.2.3.1 Gợi ý cách làm đề số 4
-Đây là dạng đề mở, học sinh có thể viết tự do trên cơ sở vấn đề đã nêu song phải đảm
bảo yêu cầu chung của bài nghị luận xã hội.
- Biết kết hợp các thao tác lập luận để làm bài văn nghị luận xã hội.
- Xây dựng được những luận điểm chặt chẽ, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng để trình bày.
- Bài viết có nội dung sâu sắc, đúng đắn , thuyết phục.
Nêu vấn đề cần nghị luận
Hiểu về cách định nghĩa “khôn ngoan” của nhà thơ Hi Lạp
- “Khôn ngoan” là biểu hiện sự khéo léo,nhanh nhạy, thông minh trong cách ứng xử.
- Người ứng xử khôn ngoan là người biết tránh những điều không có lợi cho mình nhưng
tuyệt nhiên cũng không làm những điều có hại cho người khác.
- Nhà thơ Hi Lạp định nghĩa khôn ngoan không đơn thuần là cách ứng xử mà đó là lời bàn
về quan niệm sống, cách sống. Theo đó, người sống “ khôn ngoan” là phải biết cố gắng
vượt lên mọi sự sợ hãi, hận thù; biết chờ đợi thời cơ,vận hội , sống tự chủ, tự lập và luôn
có lòng nhân ái.
Suy nghĩ và bàn luận
- Cuộc sống luôn đòi hỏi con người không ngừng cố gắng vượt lên chính mình, vượt qua
những tự ti, mặc cảm; biết sống vị tha, cao thượng. Sống phải biết tự chủ bản thân, có
nghị lực và ý chí vượt qua những khó khăn gian khổ; không được đánh mất chính mình
+ Với nhân loại (Lấy dẫn chứng chứng minh).
Con người không nguôi khát vọng sẽ có ý nghĩa như thế nào?
+ Giúp con người có niềm vui, niềm tin, có động lực và nỗ lực, sống có ý nghĩa
+ Giúp cuộc sống mỗi ngày một phát triển tốt đẹp.
Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần nhận thức rõ khát vọng không phải là dục vọng
+ Để luôn luôn có khát vọng cần phải chăm sóc tâm hồn và trí tuệ
2.2.3.3 Gợi ý cách làm đề số 3:
Bài làm cần đảm bảo một số nội dung sau:
+ Giải thích:
Tác giả Phạm Ngũ Lão cảm thấy hổ thẹn vì một hoặc cả ba lí do sau đây
* Hoặc vì lòng khiêm tốn rất chân thành, thành thực mà thấy công trạng của mình nhỏ bé,
không đáng kể
* Hoặc vì lòng yêu nước vô cùng sâu sắc, ý thức trách nhiệm đối với giang sơn xã tắc quá
lớn lao khiến tác giả không hài lòng với công trạng mà mình đã đóng góp, cho rằng nó
chưa đủ để đền nợ nước
* Hoặc vì lí tưởng sống của chàng thanh niên Phạm Ngũ Lão, trong tư cách của một cá
nhân, quá hào hùng với khát vọng vươn tới đỉnh cao chiến công khiến ông không bằng
lòng với thành tích của mình.
Dù vì lí do gì thì sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão vẫn là sự hổ thẹn cao quí, hữu ích, vì nó
là nguồn động lực để con người không ngừng vươn tới những đỉnh cao chiến công mới
chứ không không ngủ quên trong vinh quang hiện tại của mình
- Bàn luận:
+ Người thanh niên cần sống có lí tưởng, có hoài bão, có mục đích cao đẹp. Lí tưởng cao
đẹp ngày nay là cống hiến cuộc đời của mỗi người cho sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
+ Lí tưởng này đòi hỏi mỗi người trẻ phải làm việc tận tụy, phải cống hiến hết mình
+ Tuổi trẻ cần cảnh giác với tâm lí tự thỏa mãn với chút thành tích, công trạng nhỏ bé của