Đặc điểm ngôn ngữ thơ xuân diệu và xuân quỳnh - Pdf 33

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
THƠ XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH

Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là niềm tự hào của thơ ca Việt Nam. Xuân Diệu là thi sĩ
tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ mới đầu tiên của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945. Trong khi đó, Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu cho văn học Việt Nam những
năm từ 1945 đến 1975. Cả hai thi sĩ, người thì được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”,
người thì thì được bạn đọc mến mộ phong tặng danh hiệu “bà hoàng thơ tình”. Thơ ca
của mỗi thi sĩ mang vẻ đẹp riêng, giá trị riêng. Việc tìm hiểu vẻ đẹp ấy trong thế so sánh
sẽ làm sáng tỏ hơn phong cách của mỗi người, từ đó có được cách nhìn nhận, phân tích
tác phẩm đúng đắn, đa chiều hơn.
1. Mở đầu
Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam.
Những sáng tác của hai nhà thơ trên luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ độc
giả, và trở thành tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Chính vì vậy,
nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong thơ của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là
một điều lí thú và thật sự cần thiết. Từ trước đến nay, Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai
tác giả thường được nhắc đến cùng với những bài thơ tình hay. Đông đảo bạn đọc đều
thừa nhận rằng Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai tiếng thơ độc đáo, hấp dẫn. Theo chúng
tôi, cả Xuân Diệu, Xuân Quỳnh đều giống nhau ở giọng thơ nồng nàn, da diết và đều có
chung tâm trạng lo lắng, cuống quýt trong tình yêu.
Bài báo khoa học này sẽ nêu ra một vài so sánh về vấn đề sử dụng ngôn từ của hai
tác giả trên nhằm góp phần tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ và phong cách sáng tác của hai
tác giả và để thấy được mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn chương; vấn đề ngôn
ngữ và quá trình tiếp nhận văn chương; đóng góp ý kiến cho việc giảng dạy ngôn ngữ nói
riêng và việc dạy học Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông nói chung. Từ trước đến nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng những bài viết đó thường chỉ đề cập
đến hoặc là đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu hoặc là đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân


Quỳnh, còn rất ít công trình nghiên cứu về việc so sánh đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân

những rung động nhỏ nhất của cuộc sống. Một hồn thơ như thế không thể không viết về
nhạc. Cảm hứng về nhạc của nhà thơ là đi mãi vào cái thế giới bên trong nhạc. Vào thế
giới riêng của Nguyệt Cầm, thi sĩ đã hoà tan vào một niềm thơ duy nhất, thành mối tương
giao kỳ diệu giữa hồn người, hồn nhạc và hồn tạo vật.
Ở những câu đầu của bài thơ, tác giả đã đưa tâm hồn người đọc vào thế giới của âm
thanh, đó là một thế giới tràn đầy tiếng nhạc của trăng và đàn:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
Những điệp từ: “trăng” và “đàn”, cùng với cách ngắt nhịp 2/2/3 vừa tạo nên nhạc
tính nhuần nhị cho câu thơ vừa gợi lên một bức tranh đã có hình lại có thanh. Nếu ngôn
ngữ là sợi dây đàn thì nhạc tính và âm điệu là những cung bậc thanh âm ngân lên từ sợi
dây đàn ấy. Bằng khả năng sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, Xuân Diệu tạo ra âm điệu cũng
chính là tạo nên nhạc tính trong thơ. Từ đó dẫn dụ người đọc đi vào thế giới lung linh
màu nhiệm của Nguyệt Cầm.
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Câu thơ trên sở dĩ “đầy nhạc” chính vì sự tập trung dày đặc các nguyên âm mở và
phụ âm vang tạo âm điệu cho thơ. Việc sử dụng những từ láy và lặp lại chúng “long
lanh”, “lung linh”… là một trong những biện pháp tạo nhịp điệu trong thơ. Nhịp điệu có
vai trò quan trọng trong việc tạo nhạc tính trong thơ, đồng thời thể hiện một cách tinh tế
những trạng thái cảm xúc của nhà thơ. Theo giáo sư Hà Minh Đức: “Nhịp điệu là kết quả
của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó ở trong
thơ” . Câu thơ thu hút người đọc ngoài việc ý hay lời đẹp còn phải thu hút người nghe
bằng nhịp điệu của sự hài hoà.
Ngoài ra, nhạc thơ chủ yếu còn do các thanh điệu tạo nên. Trong bài Nhị Hồ, để gợi
tả điệu nhạc du dương, đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng cùng tiếng đàn, Xuân Diệu đã
viết hai dòng thơ toàn vần bằng:




Tháng mười trời trải nắng hanh
Có cô hàng phố phơi chăn trước thềm
Gió qua lay động bức rèm
Tấm gương trong suốt ánh đèn nê-ông
Việc sử dụng thể thơ lục bát đã làm cho bài thơ của Xuân Quỳnh mang âm điệu du
dương, nhẹ nhàng, đậm đà màu sắc dân tộc. Mặc dù Xuân Quỳnh thuộc thế hệ những nhà
thơ mới, bà không quá chú trọng đến niêm luật, cho phép những cảm xúc được tự do
trong thơ nhưng không vì thế mà thơ lục bát của bà mất đi vẻ mềm mại vốn có của nó.
Âm điệu trong thơ không trúc trắc mà vẫn êm ái như một lời thì thầm. Thơ lục bát của
Xuân Quỳnh vẫn giữ được những uyển chuyển, dễ đọc và dễ thuộc như thể thơ truyền
thống.
Thành công nhất của Xuân Quỳnh là phải kể đến thể thơ ngũ ngôn với những tác
phẩm như: Sóng, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu… Ngoài thành công trong việc
sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật điển hình cho phong cách thơ của riêng mình,
Xuân Quỳnh còn thể hiện được nhạc điệu quen thuộc, gần gũi, kéo gần khoảng cách giữa
người sáng tác và người tiếp nhận thơ ca. Thông qua việc thể hiện nhịp điệu trong thơ,
Xuân Quỳnh đồng thời cũng diễn tả nhịp điệu của trái tim mình, vừa nhẹ nhàng, duyên
dáng nhưng cũng vừa sắc sảo, nồng nàn và da diết.
2.2. Ngôn từ nghệ thuật
Nếu như âm nhạc lấy âm thanh làm chất liệu; hội hoạ dùng đường nét, màu sắc;
kiến trúc được tạo nên từ những mảng khối, thì ngôn từ chính là chất liệu của tác phẩm
thi ca. Macxim Gorki đã từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Không có
ngôn từ thì không làm nên được tác phẩm văn chương. Ngôn từ trong thơ có những khác
biệt so với ngôn từ bình thường, nó được xem là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ. Ngôn
ngữ thơ ngoài việc biểu hiện tính nhạc (như đã nêu ở trên) còn biểu hiện hình ảnh, sắc
màu trong thơ. Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ có tính tinh luyện, hàm xúc; ngôn ngữ gợi
hình cụ thể; và có tính biểu cảm cao. Chính vì vậy, nhà thơ phải lựa chọn ngôn từ một
cách khéo léo, sắp đặt chúng để tạo ra một bài thơ hoàn chỉnh. Maiakopxki đã từng nói:
“Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ như khai thác chất hiếm Radium. Lấy một gam phải mất


Ngược với thơ Xuân Diệu, Xuân Quỳnh lại có cách thể hiện khác, nhà thơ ưu tiên
sử dụng từ ngữ đơn giản, gần gũi với ngôn ngữ đời thường nhưng biết cách đặt chúng
vào vị trí phù hợp nhất. Vì vậy mà ngôn từ trong thơ Xuân Quỳnh có tính biểu cảm cao.
Xuân Quỳnh viết về người phụ nữ rất gần, rất thật nhưng thơ vẫn hay và cuốn hút lạ
thường.
Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi
Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày
(Thơ vui về phái yếu)
Dù rằng hình ảnh người phụ nữ trong thơ được thi sĩ khắc hoạ rất đỗi bình thường
và quen thuộc nhưng bằng cách nhìn nhận tinh tường và sự sắp xếp khéo léo của mình,
Xuân Quỳnh đã khẳng định vai trò không thể thiếu của phái yếu. Bà đã làm nổi bật lên
hình tượng người phụ nữ nhỏ bé nhưng giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó.
Anh thân yêu, người vĩ đại của em
Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối
Một chút mặn giữa đại dương vời vợi
Loài rong rêu chưa ai biết tới bao giờ
Em chỉ là ngọn cỏ dưới chân qua
Là hạt bụi vô tình trên áo
Nhưng nếu sáng nay em chẳng đong được gạo
Chắc chắn buổi chiều anh không có cơm ăn.
(Thơ vui về phái yếu)
Các nhân xưng trong thơ của Xuân Quỳnh cũng rất gần gũi với những cách gọi
thân mật hằng ngày. Ở ngôi thứ nhất bà xưng “tôi”, “em”, “mẹ”, “ta”, “chúng tôi”... Ngôi
thứ hai bà gọi “anh”, “con”, “các anh”… Ngôi thứ ba, bà dùng “cha tôi”, “anh ta”, “cỏ”,
“thuyền”, “sóng”… Đặc biệt, trong bài thơ Chị, Xuân Quỳnh đưa cả tên mình vào:


Đi qua đường là phải trông xe
Chị biết Quỳnh rất hay vô ý

của ước mơ và hi vọng. Thể hiện một tâm hồn thơ đầy mơ ước và luôn tươi mới của
Xuân Quỳnh.
Nắng đùa mái tóc
Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay
Như ngàn cánh bướm
(Chồi biếc – Xuân Quỳnh)
Đa phần màu sắc trong thơ của Xuân Quỳnh đều là những màu sắc cụ thể, không
pha trộn. Đó là những màu sắc của thế giới thực được phản ánh vào trong thơ, tạo cho
người đọc cảm giác gần gũi và quen thuộc. Đây cũng chính là điểm khác biệt của thơ
Xuân Quỳnh so với thơ của Xuân Diệu. Thế giới màu sắc của Xuân Diệu có phần đa
dạng hơn, vừa có màu thực, vừa có màu hư. Trong thơ của ông hoàng thơ tình thường tồn
tại những màu sắc được pha trộn, đặc biệt là màu của cảm xúc.
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
(Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
Hay như:
Trăng ở đó. Đất vườn thêu bóng lá
Trời trên kia vàng mạ, sáng như băng…
Hoa lài xanh dưới ánh nguyệt tuôn trời;


Ánh nguyệt trắng trên hoa lài đúc sữa.
(Hoa đêm – Xuân Diệu)
Thêm vào đó, Xuân Quỳnh hầu như không sử dụng những màu sắc mang tính chất
ước lệ. Tức là nhà thơ chỉ sử dụng những màu chuẩn của sự vật, không dùng màu đã pha
trộn. Trong thực tế những gam màu chuẩn thường không đủ để diễn tả hết những màu sắc
của sự vật nên người ta thường dùng thêm những màu pha tạp của sự vật. Cách sử dụng
màu này mang tính chất ước lệ và thường gặp trong thơ cổ. Việc không sử dụng những
màu sắc như vậy đã tạo nên điểm khác biệt giữa thơ Xuân Quỳnh và thơ Xuân Diệu. Mặc

hỏi tu từ, diễn tả ước muốn được yêu trong một tình yêu rộng lớn và vĩnh cửu. Rõ ràng
cách thể hiện của Xuân Quỳnh có phần kín đáo, nhẹ nhàng và đằm thắm hơn. Nhà thơ hỏi
để mà khẳng định ước muốn, khao khát có được tình yêu, chứ không bộc lộ một cách trực
tiếp và mạnh mẽ như thi sĩ Xuân Diệu.
2.3. Hình tượng nghệ thuật
Một bài thơ hay và để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai là một bài
thơ có hình tượng nghệ thuật độc đáo. Hình tượng nghệ thuật là biểu hiện cho tư duy
nghệ thuật của tác giả, là sự phản ánh hiện thực trong tính toàn vẹn, sinh động, cảm tính,
cụ thể theo quy luật của cái đẹp. Thông qua hình tượng nghệ thuật, chúng ta có thể nắm
bắt được quan niệm và phong cách sáng tác của tác giả.
Trong nền thi ca Việt Nam, Xuân Diệu và Xuân Quỳnh là hai hiện tượng văn học
nổi bật, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ tình yêu. Nếu như Xuân Diệu được mệnh danh là
“ông hoàng thơ tình” thì Xuân Quỳnh cũng được bạn đọc mến mộ phong tặng danh hiệu
“bà hoàng thơ tình”. Nói đến tài năng của hai nhà thơ này, không thể bỏ qua tài năng sử
dụng ngôn ngữ của họ. Bằng việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp, Xuân Diệu và Xuân
Quỳnh đã tạo nên những hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mĩ. Điều đáng chú ý ở đây
là những hình tượng nghệ thuật trong thơ tình của họ, thoạt nhìn có vẻ giống nhau, như


cùng một môtíp nhưng khi tiến hành khảo sát và phân tích sẽ thấy được nhiều điểm dị
biệt thú vị.
2.3.1. Hình tượng trái tim
Đối với Xuân Diệu, ông không phải là người duy nhất đưa trái tim vào trong thi ca.
Trong văn học, đã từ lâu trái tim được coi là biểu tượng của tình yêu, của tình cảm con
người. Hình tượng này đã xuất hiện rất nhiều trong văn học cũng như trong đời sống. Rất
nhiều những tác gia lớn trên thế giới khi đề cập đến tình yêu thì thường hay nói tới trái
tim: “Ái tình không nhìn bằng mắt mà cảm nhận bằng trái tim. Vì vậy nhân loại khắc hoạ
thần tình ái có hai cánh nhưng con mắt mù loà” (W. Shakespeare).
Ở Việt Nam, hình ảnh trái tim vốn được du nhập từ phương Tây, đã được các nhà
văn nhà thơ sử dụng làm biểu tượng về tình yêu trong các sáng tác của mình. Những sáng

nhịp thở của nhau, gần hơn nữa để hai trái tim cùng hoà nhịp yêu thương.
Với Xuân Diệu là thế, còn đối với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, bà lại có xu hướng đi tìm
một cách lí giải khác cho hình tượng trái tim. Xuân Quỳnh đưa trái tim về đúng với chức
năng và nghĩa thực của nó.
Em trở về đúng nghĩa trái tim
Biết làm sống những hồng cầu đã chết
Biết lấy lại những gì đã mất
Biết rút gần khoảng cách yêu tin…
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
(Tự hát – Xuân Quỳnh)
Trong tình yêu, Xuân Quỳnh không nói đến những gì quá cao siêu, quá bóng bẩy
mà chỉ đề cập đến một trái tim bình thường, một trái tim bằng máu thịt mà ai cũng có.


Nhưng lại khác thường là bởi: “biết yêu anh cả khi chết đi rồi!”. Tình yêu rất đỗi thiêng
liêng nhưng cũng vô cùng giản dị, nó ở ngay xung quanh ta và ta có thể cảm nhận được,
không đơn giản là bằng mắt nhìn mà phải cảm nhận nó theo từng nhịp đập của con tim.
Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực
Giây phút nào tim đập chẳng vì anh.
(Chỉ có sóng và em – Xuân Quỳnh)
2.3.2. Hình tượng hoa
Như đã nói ở trên Xuân Diệu là nhà thơ vô cùng nhạy cảm với thiên nhiên. Vì thế
không thể thiếu trong thơ ông những hình ảnh của cỏ, cây, hoa, lá. Chúng được nhà thơ
sử dụng làm chất liệu để viết lên những trang thơ tình lãng mạn. Trong số đó, hoa là vật
có hương sắc và năng lực quyến rũ nhất. Hình ảnh “hoa” vì thế không thể thiếu được
trong thơ ông. Hình ảnh này xuất hiện trong thơ ông có khi là hoa thật trong đời sống.
Chen lá lục, những búp lài mở nửa
Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh;
(Hoa đêm – Xuân Diệu)
Nhưng thông thường khi hình ảnh hoa đi vào thơ ông, ông luôn xem chúng như

Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ
Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã
Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay…
(Hoa dại trên núi Hoàng Liên)
Hình tượng hoa trong thơ Xuân Quỳnh không gắn với người nào cụ thể mà nó lại
gắn với những kỉ niệm về tình yêu. Mỗi bài thơ như một mảnh ghép nho nhỏ về ký ức.


Và vẻ đẹp của hoa như một chất xúc tác mạnh mẽ thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương
trong trái tim của người con gái.
Anh có nghe hoa doi
Quanh chỗ mình đứng đó?
Hoa ơi sao chẳng nói
Anh ơi, sao lặng thinh?
(Mùa hoa doi)
Bằng hình tượng những loài hoa có thật trong đời sống, Xuân Quỳnh làm người ta
ngạc nhiên trước những lời tâm tình rất ngây thơ, nồng nàn của một cô gái chớm yêu,
nhưng lại mang giọng điệu trầm tĩnh của một người phụ nữ từng trải. Nhà thơ thấy được
vẻ đẹp thầm kín và lặng lẽ của mỗi loài hoa, thấy được sự hi sinh, không cần được đáp
lại, không cần được biết đến. Phải là người tinh tế và nhạy cảm mới có thể rung động và
cảm thông trước nỗi niềm của hoa kia.
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi!…
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ…
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi.
(Hoa dại trên núi Hoàng Liên)
Nhìn chung, thơ Xuân Quỳnh như là nhật kí, là tình yêu, là sự tri ân… Xuân Quỳnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status