Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
Nghiên cứu Y học
NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC
SINH 9–10 TUỔI TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2003
Trần Duy Thuần*, Nguyễn Đỗ Nguyên**
TÓM TẮT
Đây là một nghiên cứu cắt ngang trên 785 học sinh 9-10 tuổi tại tỉnh Phú Yên vào năm 2003 để xác
đònh tỉ lệ nhiễm và cường độ nhiễm các loại giun truyền qua đất, và các yếu tố liên quan. Đối tượng nghiên
cứu được phỏng vấn, và xét nghiệm phân bằng kỹ thuật Kato-Katz. Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm ít nhất 1
loại giun là 35,9%; trong đó chủ yếu nhiễm giun đũa (20,6%) và giun móc (20%), còn giun tóc chỉ chiếm
0,5%. Tỉ lệ nhiễm 2 loại giun là 5%, nhiễm cả 3 loại giun chiếm 0,1%. Đa số nhiễm giun đũa với cường độ
trung bình (53,7%) và nhẹ (44,4%), còn nhiễm giun móc chủ yếu là cường độ nhẹ (86%). Khả năng nhiễm
giun đũa tăng ở những trẻ để móng tay bẩn (ORđc 3,91 ; KTC 95% 1,16-13,1), và giảm ở trẻ có thói quen rửa
tay trước khi ăn (ORđc 0,26 ; KTC 95% 0,08-0,88). Đi chân đất thường xuyên làm tăng khả năng nhiễm giun
móc (ORđc 2,27 ; KTC 95% 1,14-4,53); thói quen để móng tay bẩn, uống nước lã có vai trò là yếu tố đánh
dấu nhóm trẻ có hành vi nguy cơ cao. Mức độ nhiễm giun cộng đồng được đánh giá thuộc nhóm III, biện
pháp phòng chống chính là quản lý, điều trò những ca có nhiễm giun, đồng thời tuyên truyền, giáo dục sức
khỏe nhằm làm thay đổi hành vi nguy cơ.
SUMMARY
SOIL-TRANSMITTED HELMINTHES INFECTION AND RELATED BEHAVIORAL
FACTORS AMONG SCHOOLCHILDREN AGED 9-10 YEARS IN PHUYEN PROVINCE IN 2003
Tran Duy Thuan, Nguyen Do Nguyen * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 8
* Supplement of No 1 * 2004: 14 – 19
A cross-sectional survey was conducted among 785 primary schoolchildren aged 9-10 years in Phuyen
province in 2003 to determine the prevalence of soil-transmitted helminthes infection, the intensity, and
related risk factors. Data were collected by interviewing and stool exam with Kato-Katz technique. The
phải trứng giun có ấu trùng. Ở Việt Nam, 95%
nhiễm giun móc là do N. americanus, gây nhiễm
khi ấu trùng xuyên qua da vào máu; còn 5% do A.
duodenale, ngoài đường lây truyền qua da còn có
thể gây nhiễm do nuốt phải ấu trùng hình chỉ(4,7).
Môi trường thổ nhưỡng, kinh tế xã hội, phong tục
tập quán ở nước ta thuận lợi cho các bệnh ký sinh
trùng lưu hành, đặc biệt là các loại giun truyền qua
đất. Ở khu vực ven biển miền Trung, tỉ lệ nhiễm
giun đũa là 7,18% đến 50,4%, giun tóc 22,3% đến
54,1%, và giun móc 1,24% đến 7,6%(6). Tổ chức Y
tế thế giới (TCYTTG, 1996) đã khuyến cáo các
chương trình phòng chống giun sán nên bắt đầu
bằng điều tra cơ bản, và dữ kiện từ những trẻ em
tuổi đến trường thường phản ánh chung tình hình
nhiễm bệnh của cả cộng đồng(7). Nghiên cứu này
được thực hiện nhằm xác đònh tỉ suất hiện nhiễm,
cường độ nhiễm các loại giun truyền qua đất ở học
sinh 9-10 tuổi tại tỉnh Phú Yên năm 2003, và mối
liên quan giữa nhiễm giun với các hành vi vệ sinh
cá nhân.
ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đây là một nghiên cứu cắt ngang được thực
hiện trong năm 2003, tại Phú Yên, một tỉnh nông
nghiệp ven biển miền Trung có đòa hình khá phức
tạp với các vùng đồng bằng đất phù sa xen kẽ vùng
ven biển đất cát, và vùng đồi núi, đất đỏ bazan. Điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở đây thuận lợi cho sự
phát triển của ký sinh trùng ruột. Để có 95% tin cậy
phương pháp Kato-Katz. Dữ kiện được phân tích
bằng phần mềm STATA phiên bản 7. Những số
thống kê được tính gồm có tỉ lệ nhiễm chung và
riêng từng loại giun truyền qua đất, số trứng trung
bình/1 gam phân, và tỉ lệ các mức cường độ
nhiễm. Mối liên quan giữa các hành vi vệ sinh cá
nhân với nhiễm giun được xác đònh bằng phép
kiểm χ2; mức độ liên quan được ước lượng bằng tỉ
số chênh (OR) và khoảng tin cậy 95% (KTC 95%).
Phân tích phân tầng để đánh giá sự tương tác, gây
nhiễu của các biến số kiểm soát. Phân tích đa biến
sử dụng hồi qui logistic.
KẾT QUẢ
Bảng 1. Tỉ lệ nhiễm các loại giun truyền qua đất
Nhiễm GTQĐ
Giun đũa
Giun tóc
Giun móc
Nhiễm ít nhất 1 loại giun
Nhiễm giun đũa + giun tóc
Nhiễm giun đũa + giun móc
Nhiễm giun tóc + giun móc
Nhiễm 2 trong 3 loại giun
Nhiễm cả 3 loại giun
Tần số (%)
162 (20,6)
04 (0,5)
157 (20,0)
Cường độ nhiễm
Nhẹ
n (%)
72
(44,4)
4
(100)
135
(86)
Trung bình
n (%)
87
(53,7)
0
(0)
13
(8,3)
Nặng
n (%)
3
(1,9)
0
(0)
9
(5,7)
Số trứng trung
bình/g phân
(1,08 -3,09)
0,51
(0,32- 0,80)
0,61
(0,43- 0,88)
ORđc
(KTC 95%)
1,08
(0,36-3,26)
3,91*
(1,16-13,1)
1,68
(0,63-4,46)
0,61
(0,21-1,73)
3,41
(0,79-4,6)
0,26*
(0,08-0,88)
0,61
(0,22-1,69)
OR đc : OR điều chỉnh; * p
Sử dụng hố xí hợp vệ sinh
(0,12- 0,64)
1,52
Để móng tay dài
(1,04-2,21)
2,79
Để móng tay bẩn
(1,76-4,75)
2,82
Uống nước lã không thường
xuyên
(1,21- 6,82)
3,94
Uống nước lã thường xuyên
(2,05- 8,33)
0,75
Rửa tay trước khi ăn
(0,48-1,15)
0,73
Rửa tay sau khi đi cầu
(0,51-1,06)
Hành vi vệ sinh cá nhân
ORđc
(KTC 95%)
1,13
(0,65-1,96)
2,27*
(1,14-4,53)
0,57
62,25%, nhiễm giun đũa 40,76%, giun tóc 4,98%,
giun móc 43,37%(6)) thì tình hình nhiễm giun hiện
nay đã giảm rất đáng kể. Điều này có thể là do trong
Chuyên đề Y Tế Công Cộng
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004
thời gian gần đây, điều kiện kinh tế người dân khá
hơn, tình trạng vệ sinh môi trường được cải thiện.
Hơn nữa, đối tượng điều tra là học sinh 9-10 tuổi
chưa đến tuổi lao động, ít có nguy cơ tiếp xúc với
môi trường ô nhiễm trứng giun móc, do đó, tỉ lệ
nhiễm giun móc có thấp hơn.
Trung bình trong 1 gam phân có 1.957 trứng
giun đũa, 202 trứng giun móc. Ca nhiễm giun đũa
nặng nhất có tới 82.800 trứng/1 gam phân, giun
móc tới 6.900 trứng/1 gam phân. Các ca nhiễm giun
tóc đếm tối đa chỉ 276 trứng/1 gam phân (Bảng 2).
Theo phân loại của TCYTTG (1987)(7), tại Phú Yên
đa số nhiễm giun đũa với cường độ trung bình
(53,7%) và nhẹ (44,4%), còn nhiễm giun móc chủ
yếu là cường độ nhẹ (86%) (Bảng 2). Xác đònh cường
độ nhiễm giun cho phép ước lượng số lượng giun bò
nhiễm trong từng cá thể. Mục tiêu hàng đầu của
chương trình phòng chống giun là cần giảm tỉ lệ
người nhiễm nặng(7), vì vậy chỉ số này cực kỳ quan
Hành vi để móng tay bẩn làm tăng nguy cơ
nhiễm giun đũa lên gần 4 lần, thói quen rửa tay
trước khi ăn giúp giảm 74% nguy cơ này (Bảng 3).
Tuy các nghiên cứu trước chưa ghi nhận những mối
liên quan này(1,3,9), nhưng đây là hành vi không hợp
vệ sinh thường được đề cập trong các nội dung giáo
dục sức khoẻ. Móng tay dính bẩn tạo điều kiện
thuận lợi làm trẻ dễ bò nhiễm giun đũa. Một khi tay
đã nhiễm bẩn mà không có được thói quen rửa tay
trước khi ăn thì khả năng nuốt phải trứng giun là rất
cao. Để có được kết quả tốt và lâu dài trong phòng
chống giun, ngoài điều trò hiệu quả, cần phải chú
trọng đến vấn đề cải thiện vệ sinh môi trường cũng
như tăng cường công tác giáo dục sức khỏe.
Các hành vi cá nhân không hợp vệ sinh khác
tuy đã được đề cập trong nhiều tài liệu, sách báo
như để móng tay dài, ăn rau sống, ăn quà rong,
uống nước lã và rửa tay sau khi đi cầu lại không
làm thay đổi tỉ lệ nhiễm giun đũa có ý nghóa thống
kê. Xét các mối liên quan này, những nghiên cứu
trước đây của các tác giả trong và ngoài nước cho
kết quả khác nhau. Theo Nguyễn Văn Cường(1), nguy
cơ nhiễm giun tăng gấp gần 2 lần ở những người có
thói quen ăn rau sống ≥ 5lần/ tuần, và theo Nguyễn
Thò Trẻo, khả năng nhiễm giun ở trẻ ăn quà rong
tăng 5,34 lần(8). Một số nghiên cứu trong và ngoài
nước cho thấy khả năng nhiễm giun đũa tăng 1,51,9 lần ở những người sử dụng nước uống không
hợp vệ sinh(1,3,10,11). Tuy nhiên, các tác giả hoặc điều
tra trên nhóm đối tượng khác, hoặc chỉ xét đến mối
liên quan đơn biến.
cách tương đối thế nào là đi chân đất thường xuyên
và không thường xuyên.
móc. Đây chỉ là những hành vi vệ sinh ăn uống, vệ
sinh thân thể, góp phần bảo vệ sức khoẻ, nó thể
hiện ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân của trẻ.
Hành vi để móng tay bẩn làm tăng khả năng
nhiễm giun móc của học sinh lên 2,37 lần. Tuy
nhiên, để móng tay bẩn không có nghóa là trẻ đã
tiếp xúc trực tiếp với đất. Có lẽ thực sự hành vi này
không làm tăng nguy cơ nhiễm giun móc mà có khả
năng nó chỉ là yếu tố đánh dấu của những hành vi
vệ sinh kém. Phân tích thống kê cho thấy thói quen
uống nước lã làm tăng khả năng nhiễm giun móc.
Kết quả này gợi ý rằng hành vi uống nước lã có lẽ
cũng là một yếu tố nguy cơ nhiễm giun móc, và
nguy cơ này tuỳ thuộc vào mức độ uống nước lã của
học sinh. Đa số các trường hợp nhiễm giun móc ở
nước ta là do N. americanus (chỉ lây truyền qua da)
và chỉ 5% là do A. duodenale (còn có thể lây nhiễm
qua đường tiêu hóa)(4). Điều này khó có thể lý giải
thoả đáng nguy cơ nhiễm giun móc của hành vi
uống nước lã. Rất có thể hành vi này cũng là một
yếu tố đánh dấu những hành vi vệ sinh kém, và
chính những hành vi kém vệ sinh đó mới chính là
yếu tố nguy cơ thực sự.
TÀI LIỆU THAM KHAO
2.
Châu Đương. Tình hình nhiễm giun móc ở học sinh phổ
thông huyện CưMgar, Đắc Lắc, năm 2002. Luận văn
Thạc só Y khoa, chuyên ngành Y học dự phòng.
3.
Trần Minh Hoàng, Nguyễn Thò Phương Nga, Trần Thò
Hồng. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột tại xã Phước
Vónh An, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Kỷ
yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996-2000, Viện
SR-KST-CT Hà Nội: 608-614.
4.
Hoàng Thò Kim. Nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc:
đặc điểm dòch tễ, bệnh học, chẩn đoán, điều trò và biện
pháp phòng chống. Tài liệu tập huấn- Đặc điểm dòch
tễ, bệnh học, điều trò và kỹ thuật chẩn đoán trong
phòng chống một số bệnh giun sán chính ở Việt Nam.
Bộ Y tế, dự án phòng chống giun sán: 9- 24.
5.
Hoàng Thò Kim và tổ giun. Những kết quả nghiên cứu
của Viện Sốt rét về đặc điểm dòch tể, chẩn đoán, điều
trò và phòng chống các bệnh giun truyền qua đất ở Việt
Nam. Thông tin phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh
KST, Viện SR -KST-CT Hà Nội. Số 2, 1998: 9-19.
Lê Vinh. Đánh giá biện pháp can thiệp tình hình
nhiễm giun đường ruột của học sinh tiểu học ở xã Tân
Kim, Cần Giuộc, Long An 1999 - 2000. Luận án Bác só
chuyên khoa II, chuyên ngành Y tế công cộng.
10.
Agi PI. Comparative helminth infections of man in two
rural communities of the Niger Delta, Nigeria. West
Afr J Med. 1997 Oct-Dec. 16(4): 232-6.
Chuyên đề Y Tế Công Cộng
11.
Norhayati M, Oothuman P, Fatmah MS. Some risk
factors of Ascaris and Trichuris infection in Malaysian
aborigine (Orang Asli) children. Med J Malaysia. 1998
Dec. 53(4): 401-7.
19